Ngày 11-01-2021
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Thứ Ba 12/1 – Chỉ có Chúa mới giải thoát được chúng ta khỏi các thần nghiện –Lm. Đa Minh Vũ Kim Quyền SJ
Giáo Hội Năm Châu
00:59 11/01/2021

Video bắt đầu lúc 7g tối 11/1 giờ Việt Nam

PHÚC ÂM: Mc 1, 21-28

“Ngài giảng dạy người ta như Đấng có uy quyền”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

(Đến thành Capharnaum), ngày nghỉ lễ, Chúa Giêsu vào giảng dạy trong hội đường. Người ta kinh ngạc về giáo lý của Người, vì Người giảng dạy người ta như Đấng có uy quyền, chứ không như các luật sĩ.

Đang lúc đó, trong hội đường có một người bị thần ô uế ám, nên thét lên rằng: “Hỡi Giêsu Nadarét, có chuyện gì giữa chúng tôi và ông? Ông đến để tiêu diệt chúng tôi sao? Tôi biết ông là ai: là Đấng Thánh của Thiên Chúa”. Chúa Giêsu quát bảo nó rằng: “Hãy im đi, và ra khỏi người này!” Thần ô uế liền dằn vật người ấy, thét lên một tiếng lớn, rồi xuất khỏi người ấy. Mọi người kinh ngạc hỏi nhau rằng: “Cái chi vậy? Đây là một giáo lý mới ư? Người dùng uy quyền mà truyền lệnh cho cả các thần ô uế, và chúng vâng lệnh Người”. Danh tiếng Người liền đồn ra khắp mọi nơi, và lan tràn khắp vùng lân cận xứ Galilêa.

Đó là lời Chúa.
 
Bình thường nhưng rất phi thường
Lm. Minh Anh
05:02 11/01/2021
BÌNH THƯỜNG NHƯNG RẤT PHI THƯỜNG
“Người thấy Simon và em là Anrê đang thả lưới xuống biển”;
“Người thấy Giacôbê và em là Gioan đang xếp lưới trong thuyền”.

Kính thưa Anh Chị em,

Mùa Giáng Sinh kết thúc, chúng ta bước vào tuần đầu tiên của mùa Thường Niên. Đã đến lúc trở lại nhịp thường của cuộc sống. Thế nhưng, câu hỏi rất thú vị đặt ra là, ‘Có phải cuộc sống của người Kitô hữu là một cuộc sống bình thường?’. Không hoàn toàn như thế! Đó là một cuộc sống ‘bình thường nhưng rất phi thường’; bởi lẽ, mỗi ngày, giữa nhịp thường cuộc sống, họ vẫn có một lời mời gọi rất phi thường của Chúa Giêsu, Đấng được bao trùm bởi Thánh Thần, Đấng vừa công khai khởi đầu sứ vụ để xây dựng Nước Trời tại thế trần. Ngài kêu gọi những con người bình thường thuộc thế trần cộng tác với Ngài; đúng là tầm thường đã biến thành phi thường.

Tin Mừng hôm nay tiết lộ lời mời gọi phi thường đó cho bốn môn đệ đầu tiên, những người đang sống cuộc sống bình thường của họ; họ “đang thả lưới xuống biển”, họ “đang xếp lưới trong thuyền”. Và Simon, Anrê; Giacôbê và Gioan đã mau mắn đáp lại lời mời gọi này, và sự đáp trả không thể tin được của họ lại trở thành một lời mời gọi, một thách thức tất cả chúng ta bước ra khỏi nhịp sống bình thường để đáp lại lời mời gọi phi thường của Ngài; nhờ đó, cuộc sống mỗi người sẽ nên phong phú, đầy kinh ngạc, vì dẫu ‘bình thường nhưng rất phi thường’.

Căn tính của một đời sống Kitô hữu là đi theo Chúa Giêsu; nghĩa là nên giống Ngài, con người Giêsu. Ngài là nhân vật chính của cuộc sống; Ngài chủ động gọi chúng ta theo Ngài ngày càng gắn bó, gần gũi hơn; Ngài mời chúng ta đi theo Ngài để loan báo Tin Mừng. Biết Chúa Kitô, biết Thiên Chúa là chưa đủ; chúng ta còn phải chia sẻ niềm tin Kitô cho thế giới, cho những người khác. Vậy mà thông thường, phần lớn chúng ta chỉ muốn thoải mái với những việc quen thuộc của mình; đang khi Chúa Giêsu lại muốn phá vỡ tất cả những khuôn mẫu đó, Ngài đề nghị chúng ta rời khỏi vùng an toàn. Bởi lẽ, chúng ta không thể mong đợi thay đổi thế giới, trừ khi lần đầu tiên, dám thay đổi bản thân; cũng vậy, chúng ta sẽ không là những tông đồ hăng nhiệt trong Vương Quốc Ngài, trừ khi lần đầu tiên, dám hiến dâng mình để hiểu biết Chúa Giêsu cách mật thiết hơn. Theo con người Giêsu, là thật sự đi theo một Đấng không nơi gối đầu, dẫu Ngài là Đấng dựng nên sao trời, biển khơi và vũ trụ. Đúng, chỉ sau khi ‘gặp gỡ cá nhân’ với Ngài, chỉ sau khi “ăn năn sám hối” như Ngài kêu gọi và chỉ sau khi “tin vào Tin Mừng” của Ngài, chúng ta mới có thể trải nghiệm hạnh phúc thế nào là yêu mến Ngài và thế nào là được được Ngài mến yêu. Như thế, đời sống Kitô hữu là một đời sống dẫu xem ra khá ‘bình thường nhưng rất phi thường’.

Charles Eliet, đã nhận hợp đồng xây chiếc cầu treo vắt qua thác Niagara. Một trong những vấn đề ông phải đối mặt là làm thế nào để kéo sợi cáp đầu tiên của mình qua một vùng biển rộng lớn chỉ có sóng dữ; một chiếc thuyền băng qua sông, nó sẽ bị nước cuốn. Eliet nghĩ ra một ý tưởng đơn giản. Nếu một con diều có thể được thả sang bờ đối diện bằng một sợi dây nhẹ, một sợi dây chắc chắn hơn có thể được gắn theo và kéo ngang, sau đó kéo một sợi dây mạnh hơn và cứ tiếp tục như vậy, cho đến khi một sợi cáp có thể được gắn và kéo ngang qua. Charles Eliet kêu gọi một cuộc thi thả diều và một thanh niên tên là Homan Walsh đã thành công trong lần thử thứ hai. Kế hoạch đơn giản của Charles Eliet đã phát huy tác dụng và cây cầu đã được xây dựng.

Anh Chị em,

Thiên Chúa cũng giao cho chúng ta sứ mạng xây những cây cầu; cây cầu nối từ đất lên trời, từ trần thế lên thiên quốc. Đó là một sứ mạng phi thường, vì chúng ta phải chuyển tải những gì thuộc thiên quốc vào cõi trần và ngược lại; mỗi ngày, cùng với Giêsu, dâng cõi trần lên thiên quốc trong mỗi thánh lễ, trong chiêm ngắm, trong nguyện cầu. Muốn được vậy, chúng ta phải bám vào một trụ cọc duy nhất, đó là con người của Chúa Giêsu. Ngài không chỉ là nhân vật chính nhưng còn là lẽ sống của mỗi người; chỉ khi bám vào Ngài, cuộc đời chúng ta mới không còn tẻ nhạt nhưng thật phi thường; thật ‘bình thường nhưng rất phi thường’ là vậy!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con biết làm tất cả mọi sự Chúa trao với một niềm vui và một lòng nhiệt thành, dù công việc của con có thể chỉ là những sợi nhợ nhỏ bé đầu tiên của cánh diều; để rồi, những gì nhỏ bé nhất nơi con dẫu ‘bình thường nhưng sẽ rất phi thường’ vì đã có thêm ‘Những Chiếc Cầu Cứu Độ’ mang tên “Giêsu” trên thế gian này”, Amen.

(Tgp. Huế)
 
Mỗi Ngày Một Câu Danh Ngôn Của Các Thánh
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
16:29 11/01/2021

18. Từ chối làm việc chuộc tội so với bản thân khi phạm tội thì nhục mạ Thiên Chúa hơn.

(Thánh Gioan Kim Khẩu)

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

(Trích dịch từ tiếng Hoa trong "Cách ngôn thần học tu đức")


----------

http://www.vietcatholic.org

https://www.facebook.com/jmtaiby

http://nhantai.info
 
Mỗi Ngày Một Câu Chuyện
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
16:32 11/01/2021
33. KHÁCH NGHIỆN RƯỢU

Có tên sâu rượu (nghiện rượu), mỗi ngày đều lấy rượu làm vui.

Có lần đi ăn tiệc, uống rượu không ngơi nghỉ, uống đến khi đỏ mặt tía tai, bèn nói với những người khách khác:

- “Nhà ai đường sá xa xôi thì có thể về trước”.

Khách khứa lục tục đi về, chỉ còn lại một mình anh ta và chủ nhân ngồi tiếp anh ta uống rượu, anh ta lại nói:

- “Nhà ai đường sá xa xôi thì về trước”.

Chủ nhân nói:

- “Nhà tôi ở đây”.

Tên sâu rượu nói:

- “Ông phải lui về phòng, tôi thì ngủ trên bàn rượu này với áo quần của tôi !”.

(Tuyết Đào Hìa Sử)

Suy tư 33:

Có những người trước khi uống rượu thì rất lễ phép lịch sự với kẻ trên người dưới, đến khi rượu ngà ngà thì to tiếng với người dưới kẻ trên, khi rượu uống đã lên đến con mắt thì mắt mờ nhìn không biết ai là ai, nhìn bố thành bạn, nhìn bạn thành bố, ăn nói loạn tầm phào mất nhân cách...

Rượu đem lại niềm vui và phấn khởi cho người biết thưởng thức rượu, nhưng rượu cũng đem lại những điều bất hạnh cho những người lợi dụng rượu.

Người Ki-tô hữu biết rằng đời còn rất nhiều việc phải làm hơn là phí thời giờ trong bàn nhậu, ở đời cũng có rất nhiều việc cần đến trí óc hơn là uống rượu để phá hoại trí óc của mình, cho nên khi họ thưởng thức vị ngọt cay của rượu, thì cám ơn Thiên Chúa đã ban cho họ được uống thứ rượu trường sinh là Máu Thánh của Đức Chúa Giê-su trên bàn thờ, để nhờ đó mà họ trở nên phấn khởi vui tươi hơn trong cuộc sống nhiều lao nhọc của mình...

Bất kể là ai, người giàu hay nghèo, người có danh vọng hay địa vị, hể nát rượu thì chắc chắn là thân bại danh liệt !

Người khôn ngoan biết rất rõ điều này.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư)


----------

http://www.vietcatholic.org

https://www.facebook.com/jmtaiby

http://nhantai.info
 
Thứ Tư 13/1: Đại lương y Giêsu - Suy Niệm của Lm. Nguyễn Trọng Thiên, SVD
Giáo Hội Năm Châu
23:24 11/01/2021


Video bắt đầu lúc 7g tối 12/1 (giờ Việt Nam)

PHÚC ÂM: Mc 3, 1-6

“Trong ngày Sabbat được cứu sống hay là giết chết?”

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy, Chúa Giêsu lại vào hội đường và ở đó có một người khô bại một tay. Người ta để ý quan sát xem Chúa có chữa bệnh trong ngày Sabbat không, để tố cáo Người. Chúa bảo người có tay khô bại rằng: “Ngươi hãy đứng ra giữa đây”. Rồi Người bảo họ: “Trong ngày Sabbat được làm sự lành hay sự dữ? Được cứu sống hay là giết chết?” Nhưng họ thinh lặng. Bấy giờ Người thịnh nộ đưa mắt nhìn họ và buồn phiền vì lòng họ chai đá, Người bảo bệnh nhân rằng: “Hãy giơ tay ra”. Người đó giơ tay ra và tay anh ta được lành. Lập tức, những người biệt phái đi ra bàn tính với những kẻ thuộc phái Hêrôđê chống đối Người và tìm cách hại Người.

Đó là lời Chúa.
 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Toàn văn Tông thư dưới dạng Tự Sắc Spiritus Domini của Đức Thánh Cha Phanxicô công bố ngày 11/1/2021
Bản dịch Việt Ngữ của J.B. Đặng Minh An
07:16 11/01/2021
Cho đến nay, điều 230, triệt 1 của bộ Giáo Luật quy định như sau: “Các giáo dân thuộc nam giới có đủ tuổi và điều kiện do nghị định của Hội Ðồng Giám Mục ấn định, có thể lãnh tác vụ đọc sách hoặc giúp lễ, qua một nghi lễ phụng vụ đã qui định. Tuy nhiên, việc trao tác vụ này không cho họ quyền được Giáo Hội trợ cấp hoặc trả lương”.

Trong Tông thư dưới dạng Tự Sắc “Spiritus Domini”, nghĩa là “Thần Khí Chúa”, Đức Thánh Cha Phanxicô truyền bỏ đi cụm từ “thuộc nam giới” để cho phép nữ giới có thể đảm trách thừa tác vụ Đọc Sách và Thừa Tác Viên Giúp Lễ, dưới hình thức ổn định và được thể chế hóa.

Không có gì mới trong việc giao phó cho nữ giới việc rao truyền Lời Chúa trong các cử hành phụng vụ hoặc làm công việc phục vụ tại bàn thờ với tư cách là người giúp lễ (altar servers, chierichette) hoặc với tư cách là thừa tác viên Thánh Thể (acolytes, accolitato). Ở nhiều cộng đồng trên khắp thế giới, những thực hành này đã được các giám mục địa phương cho phép từ lâu, đặc biệt là trong trường hợp các bé gái giúp lễ.

Nguyên bản tiếng Ý có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.

Tông thư dưới dạng Tự Sắc “Spiritus Domini”, của Đức Thánh Cha Phanxicô về việc sửa đổi triệt 1, điều 230 của Bộ Giáo luật về quyền của phụ nữ đảm nhận các thừa tác vụ đã được thiết lập là Đọc Sách và Thừa Tác Viên Giúp Lễ.

Thần Khí của Chúa Giêsu, nguồn mạch thường hằng của sự sống và sứ mệnh của Giáo Hội, phân phát cho các thành phần dân Chúa những ân sủng để mỗi người, theo những cách khác nhau, góp phần vào việc xây dựng Giáo Hội và loan báo Tin Mừng. Những đặc sủng này, được gọi là thừa tác vụ vì chúng được Giáo hội công khai công nhận và thiết định, được cung cấp cho cộng đồng và sứ mệnh của cộng đồng ở dạng ổn định.

Trong một số trường hợp, sự đóng góp thừa tác này có nguồn gốc từ một bí tích cụ thể, là bí tích Truyền Chức Thánh. Các thừa tác vụ khác, trong suốt lịch sử, đã được thiết lập trong Giáo Hội và được giao phó qua một nghi thức phụng vụ không có nguồn gốc bí tích cho cá nhân tín hữu, như một hình thức thực hiện cụ thể chức tư tế được lãnh nhận qua phép Rửa Tội; và như một cách hỗ trợ cho chức vụ cụ thể của các giám mục, linh mục và phó tế.

Theo một truyền thống đáng kính, Thánh Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục đã quy định trong Tông thư dưới dạng Tự Sắc Ministeria Quaedam (Một số thừa tác vụ - ngày 17 tháng 8 năm 1972) rằng việc tiếp nhận “các thừa tác vụ giáo dân” là tiền đề chuẩn bị cho việc lãnh nhận Bí tích Truyền Chức Thánh, mặc dù những thừa tác vụ này cũng được phong cho những nam giáo dân phù hợp khác.

Một số kỳ họp của các Thượng Hội Đồng Giám Mục đã nhấn mạnh sự cần thiết phải điều tra về mặt giáo lý chủ đề này, để nó đáp ứng với bản chất của các đặc sủng nói trên và nhu cầu của thời đại, cũng như đưa ra sự hỗ trợ thích hợp cho vai trò phúc âm hóa của cộng đồng Giáo hội.

Chấp nhận những khuyến nghị này, một sự phát triển giáo lý đã đạt được trong những năm gần đây làm nổi bật cách thức một số thừa tác vụ do Giáo hội thiết lập có nền tảng dựa trên điều kiện chung là được rửa tội và chức tư tế vương giả nhận được trong Bí tích Rửa tội; về cơ bản chúng khác biệt với thừa tác vụ thánh chức được lãnh nhận qua Bí tích Truyền Chức Thánh. Trên thực tế, một thực hành được củng cố trong Giáo hội Latinh cũng đã xác nhận rằng các thừa tác vụ giáo dân, dựa trên bí tích Rửa tội, như vậy có thể được giao phó cho tất cả các tín hữu, những người thích hợp, cả nam lẫn nữ, theo những gì đã ngầm được cung cấp bởi triệt 2, điều 230.

Do đó, sau khi nghe ý kiến của các Bộ có thẩm quyền, tôi đã quyết định đưa ra việc sửa đổi triệt 1, điều 230 của Bộ Giáo luật. Tôi quyết định rằng triệt 1, điều 230 của Bộ Giáo luật trong tương lai được quy định như sau:

“Các giáo dân có đủ tuổi và điều kiện do nghị định của Hội Ðồng Giám Mục ấn định, có thể lãnh tác vụ đọc sách hoặc giúp lễ, qua một nghi lễ phụng vụ đã qui định. Tuy nhiên, việc trao tác vụ này không cho họ quyền được Giáo Hội trợ cấp hoặc trả lương.”

Tôi cũng ra lệnh sửa đổi các điều khoản khác, có hiệu lực pháp luật, có liên quan đến thay đổi này.

Những gì tôi đã đề cập đến trong Tông thư dưới dạng Tự Sắc, tôi truyền rằng nó có sức mạnh vững chắc và ổn định, bất chấp bất cứ điều gì ngược lại, ngay cả khi điều đó đáng được đề cập đặc biệt, và truyền công bố trên tờ Quan Sát Viên Rôma, và có hiệu quả thi hành ngay lập tức, và sau đó được xuất bản trong công báo chính thức của Tòa Thánh Acta Apostolicae Sedis..

Làm tại Đền Thờ Thánh Phêrô, Rôma vào ngày 10 tháng Giêng năm 2021, Lễ Chúa Chịu Phép Rửa, năm thứ tám trong triều đại giáo hoàng của tôi.

+ Đức Thánh Cha Phanxicô


Source:Holy See Press Office
 
Sau 54 năm bị đóng cửa, nơi Chuá chịu phép rửa trên sông Jordan được mở cửa trở lại.
Trần Mạnh Trác
11:08 11/01/2021
( CNA ngày 10 tháng 1 năm 2021 ).- Lần đầu sau hơn 54 năm, tu sĩ Dòng Phanxicô Giám quản Đất Thánh đã có thể dâng thánh lễ trên phần đất của họ tại nơi thánh tích Chúa Kitô chịu phép rửa ở Bờ Tây sông Jordan.

Thánh lễ được cử hành nhân dịp Lễ Chuá chiụ phép rửa, đã được diễn ra tại Nhà thờ St John the Baptist tại Qasr Al-Yahud, là một đền thờ được xây dựng vào năm 1956, nằm ngay cạnh bờ sông Jordan.

Các tu sĩ dòng Phanxicô Giám quản Đất Thánh đã sở hữu khu đất rộng 135 mẫu Anh (55 héc ta) gần 400 năm rồi, từ năm 1632, nhưng buộc phải bỏ đi vào năm 1967, khi chiến tranh nổ ra giữa Israel và Jordan.

Chính quyền Israel tuy đã cho phép mở cửa lại từ năm 2011, nhưng việc rà phá bom mìn ở khu vực chỉ được bắt đầu vào tháng 3 năm 2018 và kết thúc vào tháng 10 năm đó.

Vào tháng 10 năm 2020, chìa khóa đã được trao trả cho các tu sĩ dòng Phanxicô để có thể bắt đầu quá trình dọn dẹp và trùng tu để đảm bảo an toàn cho khách hành hương.

Trước Thánh lễ ngày 10 tháng Giêng, các tu sĩ dòng Phanxicô đã đi rước từ tu viện Chính thống giáo Hy Lạp St. John qua khu đất của họ. Cha Francesco Patton, vị giám quản (Custos) Đất Thánh, đã mở cánh cổng từng bị khoá hơn 50 năm.

Cha Patton cho biết trong bài giảng là thánh lễ cuối cùng đã được cử hành tại đền thờ này là ngày 7 tháng 1 năm 1967, “do 2 linh mục, một là người Anh, Cha Robert Carson, và một là người Nigeria, Cha Silao Umah,”. Cả hai vị linh mục là những người ký tên sau cùng vào cuốn sổ đăng ký cuả đền thờ, đã được mở ra lại từ năm 2018.

“Hôm nay, đúng 54 năm và 3 ngày sau, chúng ta có thể nói đây là ngày đầu năm thứ 55 kể từ khi sổ đăng ký này bị đóng, vào cuối thánh lễ này, chúng ta sẽ mở lại cuốn sổ đó, chúng ta sẽ lật lại các trang và trên một trang mới, chúng ta sẽ có thể viết niên lịch cuả ngày hôm nay, 10 tháng 1 năm 2021, và ký tên của chúng ta, để làm chứng rằng nơi này, từng bị biến thành bãi chiến trường, bãi mìn, một lần nữa sẽ là một cánh đồng của hòa bình, là một lĩnh địa cho việc cầu nguyện, ” Cha Patton nói.

Theo sau thánh lễ là cuộc rước thứ hai đi đến một bàn thờ đặt bên bờ sông Jordan, các tu sĩ đã đọc một đoạn trong Sách Các Vua. Cha Patton sau đó nhúng đôi chân trần xuống nước sông.

Ông Leonardo Di Marco, giám đốc văn phòng kỹ thuật của phủ Giám hộ Đất Thánh cho biết “nhiều công việc khẩn cấp đã được thực hiện để cho phép địa điểm có thể cử hành Lễ Chuá chịu Phép Rửa ngày hôm nay.”

“Chúng tôi đang nhắm tới việc đón tiếp khách hành hương, cung cấp cho họ những chỗ ngơi nghỉ và an lạc trong những khu vườn xung quanh nhà thờ để cầu nguyện.”

Vì những hạn chế của COVID-19, thánh lễ chỉ cho phép khoảng 50 người tham dự, là phái đoàn cuả Đức Giám Mục Leopoldo Girelli, Sứ thần Tòa thánh tại Israel và Cyprus, đồng thời là đại biểu tông tòa tại Jerusalem và Palestine, cùng với những đại diện của các cơ quan quân sự Israel.

Vị chánh xứ cuả xứ đạo Jericho, là cha Mario Hadchity, đã ngỏ lời chào mừng quan khách. Ngài nói: “Chúng tôi rất vui mừng, vào ngày đặc biệt này, là vị giám quản Đất Thánh, với sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời, đã có thể trở lại nhà thờ thuộc nghi lễ Latinh St John the Baptist. “Cầu mong đây sẽ là nơi mà tất cả những ai bước vào đều tìm được ân sủng của Đức Chúa Trời.”
 
Đức Thánh Cha nói: Thế giới cần hiệp nhất, cần tình huynh đệ để vượt qua cơn khủng hoảng hiện tại
Thanh Quảng sdb
17:58 11/01/2021
Đức Thánh Cha nói: Thế giới cần hiệp nhất, cần tình huynh đệ để vượt qua cơn khủng hoảng hiện tại

Trong cuộc phỏng vấn với kênh truyền hình Ý “Canale 5”, Đức Thánh Cha Phanxicô đề cập đến các vấn đề từ đại dịch đến bảo vệ sự sống, tới những người cô thế cô thân, giá trị của sự hiệp nhất trong chính trị và Giáo hội, chủng ngừa, và sự cần thiết của sự tái khám phá lại giá trị của niềm tin như một món quà từ Thiên Chúa.

(Tin Vatican)

Đức Thánh Cha mời gọi mọi người khám phá lại sự hiệp nhất chung của nhân loại là gần gũi cảm thông với những người đau khổ, đồng cảm để cùng nhau vượt qua cơn khủng hoảng toàn cầu do đại dịch covid-19 gây ra.

Bắt đầu cuộc phỏng vấn với đài Canale 5, được phát sóng vào tối Chủ nhật (10/1/2021), Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc lại rằng "sau cuộc khủng hoảng này, chúng ta không bao giờ sống được như trước nữa. Theo Đức Thánh Cha thì “người đời phải xét lại mọi thứ”. Những giá trị tuyệt đối trong cuộc sống phải được biến thành lối sống của chúng ta trong thời điểm hiện tại.

Sau đó, Thánh Cha liệt kê ra một loạt các tình huống bi thương: những trẻ em bị đói và không được đến trường, tới những cuộc chiến làm đảo lộn nhiều đất nước trên hành tinh thế giới này. Nhìn vào các số liệu thống kê của Liên hợp quốc làm chúng ta thấy "hoảng sợ", nếu chúng ta không vượt ra khỏi cuộc khủng hoảng này" thì chúng ta sẽ phải đối diện với những thất bại này tới thất bại khác". Thay vào đó, ĐTC nói, "nó còn tồi tệ hơn. Chúng ta chỉ cần nhìn vào hai vấn đề: trẻ em và chiến tranh."

Tiêm chủng: một hành động đạo đức

Trả lời câu hỏi của nhà báo Fabio Marchese Ragona của Canale 5 về việc tiêm chủng vắc-xin chống lại coronavirus, Đức Thánh Cha nói: “Tôi tin rằng về mặt đạo đức mọi người đều phải được tiêm chủng vắc-xin”. "Đây không phải là một lựa chọn; đây là một hành động đạo đức, vì chúng ta đang đối diện với sức khỏe của mình, với cuộc sống của mình, nhưng chúng ta cũng đang đối diện với tính mạng của người khác ”.

ĐTC giải thích, trong vài ngày tới, việc tiêm chủng sẽ bắt đầu ở Vatican và ngài đã ghi tên để tiêm chủng. “Đúng, nó phải được thực hiện,” ĐTC nhấn mạnh và nói thêm, nếu các bác sĩ nói rằng vắc-xin an toàn và không gây “nguy hiểm đặc biệt” cho ai, thì họ nên sử dụng nó.

Đức Thánh Cha cũng nói: “Có thể có chủ nghĩa phủ nhận cho việc này là tự sát mà tôi không thể giải thích được, hoặc tất cả chúng ta được cùng nhau giải cứu hoặc không ai được cứu cả!"

Tình huynh đệ chống lại sự thờ ơ

Sau đó, Đức Thánh Cha chuyển sang chủ đề tình huynh đệ mà ngài rất thích. Theo ĐTC, thách đố “đến với đối phương, gần gũi với hoàn cảnh của họ, cảm thông vấn đề của họ, làm cho bản thân chúng ta cảm thấy gần gũi với mọi người”.

ĐTC nói, kẻ thù của sự gần gũi là "văn hóa của sự thờ ơ". ĐTC nêu ra một số người cho rằng "thái độ" không quan tâm" gây ra ít vấn đề hơn cho "thái độ" không quan tâm" là không lành mạnh. "

ĐTC nhấn mạnh: “Văn hóa thờ ơ đưa tới phá hủy, vì nó tạo ra khoảng cách giữa chúng ta”.

Thay thế ‘tôi’ bằng ‘chúng tôi’

Đức Thánh Cha tiếp: “Sự thờ ơ sẽ giết chết chúng ta vì nó khiến chúng ta xa cách nhau, thay vào đó, mấu chốt có thể giải thoát chúng ta khỏi cuộc khủng hoảng hiện nay là 'sự gần gũi'."

Nếu không có sự hiệp nhất hoặc gần gũi,” ĐTC cảnh báo, “căng thẳng xã hội có thể dấy lên nơi chúng ta sinh sống.” Về vấn đề này, ĐTC nói về cái mà ngài gọi là "giai cấp thống trị" trong Giáo hội và trong đời sống chính trị. ĐTC nói, trong thời điểm khủng hoảng này, “toàn bộ‘ giai cấp thống trị ’không có quyền nói ‘tôi’… mà phải nói ‘chúng ta’ và tìm kiếm sự hiệp nhất khi đối diện với cơn khủng hoảng”.

Trong thời điểm này, ĐTC nhấn mạnh và khẳng định, "một chính trị gia, một mục sư, một Kitô hữu, một người Công Giáo, ngay cả giám mục, linh mục, những người không có khả năng nói 'chúng tôi' thay vì 'tôi' là không sống thực tế!"

"Những xung đột trong cuộc sống," Đức Thánh Cha nói, "là cần thiết, nhưng trong thời điểm này, chúng phải gạt nó qua một bên và nhường chỗ cho sự hiệp nhất của đất nước, của Giáo hội và của xã hội."

Phá thai là một vấn đề của con người

Đức Thánh Cha Phanxicô cũng lưu ý rằng đại dịch đã làm trầm trọng thêm tư tưởng của một “nền văn hóa sa thải” liên quan đến những thành phần yếu kém, nghèo khổ trong xã hội, chẳng hạn như người nghèo, người di cư hoặc già cả. Về vấn đề này, ĐTC đề cập đến thảm họa phá thai, giết bỏ những bào thai mà mình không muốn!...

"Vấn đề phá thai," ĐTC nói rõ, "không phải là vấn đề tôn giáo; nó là vấn đề của con người; nó là vấn đề muôn thưở có trước cả tôn giáo; nó là vấn đề đạo đức của con người" trước khi nó trở thành một vấn đề của tôn giáo. "Đó là một vấn đề mà ngay cả người vô thần cũng phải giải quyết theo cách thế của họ."

"Có đúng vậy không," ĐTC tự hỏi, "kết liễu mạng sống con người để giải quyết một vấn đề, bất luận một vấn đề nào? Thuê mướn một sát thủ để giải quyết một vấn đề có đúng không?"

Đồi Capitol, bài học lịch sử: không bao giờ được dùng bạo lực

Trả lời câu hỏi về việc ĐTC đánh giá thế nào về những bạo loạn trên Đồi Capitol vào ngày 6 tháng 1, Đức Thánh Cha Phanxicô thừa nhận rằng ngài đã "ngỡ ngàng", khi thấy những người công dân Hoa Kỳ của một nền dân chủ trưởng thành mà có những hành xử như vậy! Tuy nhiên, ĐTC lưu ý rằng ngay cả trong “những xã hội trưởng thành nhất” vẫn luôn có những sự kiện sai trái vì có “những thành viên đi theo con đường chống lại cộng đồng, chống lại dân chủ, chống lại lợi ích chung”.

ĐTC nói, bây giờ sự kiện đã xảy ra, chúng ta có thể “nhận diện rõ” hiện tượng và có thể “tìm ra những giải pháp…” ĐTC lên án bạo lực, ngài nói, "Chúng ta phải suy tư và hiểu rõ để không lặp lại các hành vi đó và rút ra một bài học cho lịch sử." ĐTC nói, “những nhóm ngoại thường ”không thể hội nhập tốt đẹp vào xã hội được!, sớm muộn gì họ sẽ gây ra những tình trạng bạo lực tương tự như thế này”.

Niềm tin: một món quà chúng ta phải khẩn xin

Cuối cùng, trả lời câu hỏi về cơn đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng như thế nào đến cuộc sống hàng ngày của ĐTC, Đức Thánh Cha Phanxicô nói ngài có cảm tưởng như “bị giam lỏng”.

Để tránh các cuộc tụ họp, các chuyến thăm viếng tông du đều bị hủy bỏ, nhưng ĐTC vẫn mong ước được đến thăm viếng đất nước Iraq. Ngược lại, cơn đại dịch cũng giúp ĐTC có nhiều thời gian hơn để cầu nguyện và nói chuyện với mọi người qua điện thoại. Về vấn đề này, ngài nhắc lại rằng lời cầu nguyện và ơn phước lành đặc biệt Urbi et Orbi mà ngài đã ban tại Quảng trường Thánh Phêrô vắng vẻ ở Rome vào ngày 27 tháng 3, là "một biểu hiện của tình yêu đối với tất cả mọi người" khiến chúng ta "khám phá ra những cách thế mới để nâng đỡ lẫn nhau.”

Do đó, Đức Thánh Cha nhấn mạnh niềm tin vào Thiên Chúa, trước hết và trên hết, là “một món quà”.

“Đối với tôi, đức tin là một món quà, mà cả bạn và tôi cũng như bất kỳ ai đều có thể có được đức tin bằng chính nỗ lực của mình: đó là một món quà mà qua đó Thiên Chúa ban cho,” điều mà con người không thể mua được bằng tiền bạc công sức. Nhắc lại một đoạn trong Sách Dân số, Đức Thánh Cha Phanxicô khuyến khích tất cả mọi người hãy kêu cầu “sự thương xót gần gũi của Thiên Chúa”.

Đức Thánh Cha kết luận bằng bày tỏ niềm hy vọng năm 2021 "sẽ không bị lãng phí vì thái độ ích kỷ" nhưng bằng thái độ hiệp nhất, chúng ta có thể vượt thắng được những xung khắc và chia rẽ...
 
Tin Giáo Hội Việt Nam
Giáo xứ Vạn Thắng và Tụy Hiền Tgp. Hà Nội : 17 em nhỏ gia nhập Hội Thánh Chúa
Gx. Tụy Hiền
11:54 11/01/2021
Chúa nhật ngày 10/01/2021, tại hai giáo xứ Vạn Thắng và Tụy Hiền đã có 17 em lãnh nhận Bí tích Rửa tội ngày lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa

Thật là ý nghĩa, bởi lễ Chúa Giêsu chiu phép rửa, kết thúc Mùa Giáng Sinh, Giáo Hội vẫn có truyền thống tốt đẹp là cử hành Bí tích gia nhập giáo hội cho các em nhỏ. Trong dịp này, vì trời rét đậm, các em không thể qui tụ tại một nơi nên tại hai giáo xứ Vạn Thắng và Tụy Hiền đã có 17 em gia nhập Hội Thánh Chúa.

Xem Hình

Sau bài Tin Mừng, cha An-tôn đã giải thích biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa bởi tay ông Gioan, có Chúa Thánh Thần dưới hình như chim bồ câu chứng giám, có tiếng Chúa Cha từ trời tuyên phán. Từ đó, ngài nhắc nhớ lại ngày chịu phép rửa tội của mỗi người, đồng thời liên hệ đến các gia đình có con em đón nhận Bí tích Rửa tội hôm nay, hiểu hơn về ý nghĩa và tầm quan trọng của Bí tích Rửa tội. Cụ thể là Cha mẹ và người đỡ đầu tuyên xưng Đức tin thay cho các em nhỏ là thông truyền cho con cái Đức tin mình đã lãnh nhận.

Với việc xức Dầu Thánh, các em được lãnh nhận cùng một Chúa Thánh Thần khi xưa đã ngự xuống trên Chúa Giêsu. Chúa Cha cũng chứng dám và hài lòng với các em hôm nay qua những dấu chỉ bề ngoài. Nhắc đến chiếc áo trắng ngày chịu Phép Rửa Tội, cha khuyên mọi người giữ gìn sao cho tinh tuyền mãi cho đến cõi trường sinh.

Khi Cha mẹ và người đỡ đầu cầm nến sáng được thắp từ Cây Nến Phục Sinh, là nhận lấy sứ mạng Chúa trao, tức là phải chăm nom, lo lắng cho các em, giúp các em sống như con cái sự sáng, bền vững trong Đức tin cho đến ngày Chúa đến.

Gx. Tụy Hiền
 
Văn Hóa
Chuyện TU SĨ Chuyện EM: Văn Hóa Trang Mạng
Lm. Nguyễn Trung Tây
00:44 11/01/2021
Em tham gia phái đoàn giáo xứ đi hành hương đất thánh. Em ngày ba bữa đưa lên trang FaceBook (FB) hình em ăn sáng, ăn trưa, và ăn tối. Khoảng 8 giờ sáng tại phố cổ Jerusalem, em xuất hiện qua những tấm hình selfie ngồi ăn sáng, trên bàn bày đầy thức ăn. Trưa, dừng lại tại phố Jericho, nơi có cây sycamore của ông thu thuế Zacchaeus; em đưa lên FB hình em đang ngồi ăn trưa tại phố. Tối hôm đó, quay về lại phố cổ Jerusalem; em đưa lên FB hình ăn tối với ca viên ca đoàn giáo xứ.

Ngày hôm sau, cũng vẫn thế… Sáng, trưa, tối! Tôi cuối cùng quyết định viết một vài hàng nho nhỏ tới hộp thư FB của em, “Con đi hành hương hay đi đâu vậy?” Em hiểu ý. Ngày hôm sau, em chỉ đưa lên FB một tấm hình duy nhất, hình em đang quỳ trong nhà thờ Vườn Cây Dầu. Dưới tấm hình, em ghi chú một hàng chữ ngắn, “Cầu nguyện cho đại dịch chóng qua.” Ngày hôm sau, tôi thấy em quỳ trong nhà thờ Nativity ở Bethlehem với hàng chữ, “Cầu xin với Chúa Hài Đồng ban bình an tới toàn thế giới.” Và ngày sau, ngày sau nữa, em lại chỉ đưa lên hoặc share lại những status về Lời Chúa và những bài Suy Niệm.

Kính thưa độc giả trang Niềm Tin Việt Nam (NTVN),

Trang mạng FB và nhiều trang mạng xã hội tương tự đang trở thành phương tiện thần kỳ nối kết nhiều người trên thế giới. Chỉ cần ghé vào trang FB hoặc Twitter hoặc một trang tương tự, người thân và bạn bè sinh sống trên khắp năm châu có thể nhìn thấy hình ảnh của bạn bè, để lại một lời “còm” vui về một chia sẻ của người thân, hoặc để lại một hàng tin nhắn trong hộp thư cá nhân.

Là mạng xã hội, tất cả những trang mạng xã hội do đó đều là nơi công cộng. Bởi nét công cộng, tất cả những trang mạng xã hội đều có và chịu ảnh hưởng bởi một nền văn hóa công cộng – có thể gọi “Văn Hóa Trang Mạng.” Nơi đó, những định ước xã hội được mọi người đồng ý và tuân thủ. Nếu không tôn trọng văn hóa trang mạng, người sử dụng diễn đàn sẽ gây ra không ít phiền hà cho những người xuất hiện trên cùng một diễn đàn.

Trang NTVN tháng này xin chỉ nhắc đến bốn nét đặc trưng của Văn Hóa Trang Mạng: Tôn trọng người chết, Lời ăn tiếng nói, Mâm cơm riêng tư, và Tin không chính xác/Fake News.

Tôn Trọng Người Chết

Người tiền sử Neanderthal để lại trong hang động nhiều vết tích ghi lại những nghi thức chôn cất người quá cố. Có lẽ đây là một trong những dấu vết cổ nhất liên quan đến nền văn hóa tôn trọng người chết mà khoa học đã từng khám phá ra. Người quá cố trong nền văn hóa nào thật ra cũng được kính trọng. Có lẽ bởi người nằm xuống không còn khả năng kiểm soát và chăm sóc thân thể của chính mình nữa. Họ rớt vào tình trạng hoàn toàn thụ động. Bởi vậy, người quá cố chỉ còn biết dựa vào lòng thương xót của người còn sống, những người sẽ chăm sóc và thực hành những nghi thức “nghĩa tử nghĩa tận” tiễn đưa thân xác của họ về lại lòng đất. Chưa hết, nhìn dưới lăng kiếng Kitô, thân xác con người cũng là đền thờ của Thiên Chúa (1Cor 3:16, 6:19). Bởi thế thân xác mọi người, bất phân tôn giáo, tuổi tác, và giới tính, dù còn sống hay đã chết, đều phải được kính trọng.

Cũng là một lẽ thường tình, ai cũng muốn mình xuất hiện nơi công cộng với một vẻ tươi đẹp, lịch thiệp. Đó là lý do tại nhiều quốc gia, nhà quàn có một nhóm chuyên chăm lo khuôn mặt của người quá cố; để khi thân nhân và bạn bè ghé vào phúng điếu, người quá cố nằm trong áo quan vẫn xuất hiện tươi tắn như đang nằm ngủ say.

Rất tiếc, nền văn hóa kính trọng người quá cố không được một số người sử dụng trang mạng xã hội tôn trọng. Chủ quán trang NTVN đã từng thấy trên trang FB những tài khoản cá nhân đưa lên hình ảnh xác người cháy đen sau khi xe gặp tai nạn nổ tung, hoặc hai Sơ trong tu phục nằm chết gục mặt trên đường, hoặc những thai nhi cuống rốn vẫn còn, hoặc những thiếu niên chết đuối nằm trên giường, hoặc ngay cả những người quá cố nằm trong áo quan. Không thể phủ nhận ý tốt của người đưa lên FB những hình ảnh của người đã chết; điều này có thể nhìn thấy qua những lời đính kèm, thí dụ, “Xin cầu nguyện cho linh hồn…” Nhưng nhìn dưới lăng kiếng văn hóa trang mạng, không ai có quyền đưa lên trang mạng xã hội những hình ảnh của người đã chết. Bởi văn hóa tôn trọng xác người chết, chỉ có di ảnh của người quá cố mới nên xuất hiện nơi công cộng, thí dụ trên mặt báo hoặc trên nắp áo quan.

Chủ nhân trang NTVN đề nghị xin không đưa lên trang mạng xã hội bất cứ hình ảnh nào liên quan đến thi thể người quá cố.

Lời Ăn Tiếng Nói

Nơi công cộng, ai cũng giữ gìn lời ăn tiếng nói. Dù có giận đến đâu, cá nhân đó cũng không to tiếng nói lại hoặc sử dụng ngôn ngữ đi ngược lại thuần phong mỹ tục. Đây là một công ước một luật lệ được mọi người tôn trọng và thực hành. Người nào không tuân thủ công ước luật lệ này, nhẹ có thể bị những người chung quanh đánh giá thấp về tư cách và nhân phẩm; nặng hơn, họ có thể bị cảnh sát can thiệp bằng cách nhắc nhở, hoặc tệ hơn, mời tới cơ quan có trách nhiệm biên giấy phạt hoặc bị truy tố.

Trang mạng FB hoặc nhưng trang mạng xã hội khác cũng thế, là một nơi công cộng. Người lạ mặt hoặc người quen của một tài khoản FB, đi ngang qua ghé vào xem bức hình được đưa lên, hoặc đọc những lời “còm.” Bởi là nơi công cộng, những công ước về nơi công cộng cũng nên được tôn trọng. Nếu không thích một tấm hình, hoặc những lời “còm” của một tài khoản FB nào đó, người sử dụng trang mạng cũng không nên đưa ra những lời “còm” với ngôn từ thiếu thuần phong mỹ tục.

Nếu không tôn trọng lời ăn tiếng nói trên trang mạng xã hội, ít nhất có hai hệ lụy sẽ xảy đến. Thứ nhất, người sử dụng trang mạng bị thiên hạ đánh giá thấp về tư cách và nhân phẩm. Thứ hai, cá nhân đó làm cho trang mạng xã hội trở nên một nơi mất đi bầu không khí lành mạnh. Những lời “còm” thiếu thuần phong mỹ tục của tôi trở nên khói xăng khiến bầu trời của trang FB bị ô nhiễm, không có sinh vật nào có khả năng sống sót trong những môi trường vẩn đục “khói xăng” như vậy.

Chủ nhân trang NTVN đề nghị xin chỉ “còm” những lời “còm” đẹp trên những trang mạng xã hội!

Mâm Cơm Riêng Tư

Giờ cơm gia đình nói chung và gia đình Việt Nam nói riêng là giờ thuộc về gia đình. Nói ngắn gọn, mâm cơm của một gia đình Việt Nam là một mâm cơm riêng tư. Những món ăn xuất hiện trên mâm cơm của gia đình chỉ có những thành viên gia đình và khách được mời mới biết.

Có một vài lý do để giải thích hiện tượng mâm cơm riêng tư này. Một trong những lý do đó liên quan tới khía cạnh danh dự/thể diện của xã hội Việt Nam. Một gia đình nghèo hoặc một người sinh viên nghèo vẫn cố gắng giữ danh dự/thể diện của gia đình hoặc của cá nhân. Bởi thế, mặc dù hằng ngày gia đình đó chỉ dọn được ba mâm cơm đơn sơ, bởi danh dự và thể diện, họ không muốn chia sẻ điều này với hàng xóm. Câu chuyện ông thầy đồ nghèo lên kinh đô ứng thi, tại nhà trọ, ngày nào cũng chỉ dọn ra trên mâm cơm một con cá gỗ phản ảnh lại nét danh dự và thể diện của người Việt. Ngược lại, nếu gặp một gia đình khá giả, có khả năng dọn ra trên mâm cơm những món ăn thịnh soạn, nhưng bởi nét “mâm cơm riêng tư,” họ cũng không chia sẻ điều này với hàng xóm; bởi họ không muốn mang tiếng khoe khoang hoặc tệ hơn vô cảm, nhất là nếu gặp trường hợp trong vùng đang gặp thiên tai, nhiều người thiếu thốn không có thức ăn lót lòng.

Ngoài danh dự, an ninh cũng là một điểm góp phần tạo nên mâm cơm riêng tư. Gia đình với mâm cơm thịnh soạn cũng rất cẩn thận với nét mâm cơm riêng tư, bởi họ e ngại thành phần bất lương sẽ nhòm ngó có khả năng vượt hàng rào nửa đêm về sáng.

Gia đình Việt Nam nói chung và nội tướng gia đình nói riêng hiểu và biết nguyên tắc mâm cơm riêng tư, một định luật trong xã hội. Mâm cơm riêng tư được bố mẹ dậy dỗ và nhắc nhở con cái trong giây phút gia đình quây quần xum họp chia sẻ với nhau mâm cơm gia đình.

Nhưng bắt đầu từ lúc trang mạng xã hội thịnh hành, nguyên tắc mâm cơm riêng tư không còn được tôn trọng. Nhiều tài khoản FB một ngày một ba lần đưa lên trang FB cá nhân hình ảnh cơm sáng, cơm trưa, và cơm tối, với lời ghi chú đính kèm, “Mời cả nhà ăn cơm!”

Chủ nhân trang NTVN đề nghị, bởi trang mạng xã hội là một nơi công cộng, mặc dù đó là một nơi công cộng ảo, mâm cơm riêng tư vẫn phải được tôn trọng.

Tin Không Chính Xác/Fake News

FB có nút để chia sẻ lại một bài trên trang mạng! Nếu thích, một tài khoản FB cá nhân chỉ việc nhấn con chuột vào nút share, bài hoặc hình ảnh đó sẽ xuất hiện ngay lập tức trên trang tài khoản FB của riêng mình. Bởi thế, một bản tin hoặc một tấm hình có thể liên tục xuất hiện trên cùng một trang mạng, bởi bản tin hoặc tấm hình này được nhiều tài khoản ưa thích.

Tài khoản trên trang mạng xã hội đã biến tài khoản cá nhân trở thành một trang thông tin. Một tài khoản đưa một bản tin lên trang FB, nhiều tài khoản khác đọc được, và khi thích họ chia sẻ lại bản tin đó. Càng nhiều tài khoản share bản tin đó, bản tin càng trở nên phổ biến. Bản tin đó chính xác, nhiều người hưởng lợi. Ngược lại, một bản tin không chính xác tạo nên nhiều hoang mang tới nhiều người.

Chủ nhân trang NTVN nhớ có nhìn thấy trên trang mạng xã hội đăng lại một tấm hình Đức Giáo Hoàng Francis bị ngã. Biến cố đó thật sự đã xẩy ra trong một thánh lễ ngoài trời vào ngày 28 tháng 7 năm 2016 tại Ba Lan. Nhưng ngày hôm nay, trên trang mạng vẫn thấy tấm hình đó được đăng lại với lời đính kèm, “Xin hãy cầu nguyện cho Đức Thánh Cha, ngài mới bị té ngã.” Ngay lập tức, bản tin đó được bao nhiêu người có lòng yêu mến Đức Thánh Cha share lại, chỉ bởi một ước muốn tốt lành. Cả người đăng và người share lại bản tin đó không hề kiểm chứng lại bản tin “mới” té ngã của Đức Thánh Cha, một bản tin hoàn toàn sai, hoặc ở trong một ý nghĩa nào đó, bản tin đó trở thành một bản tin nhảm/fake news.

Chủ nhân trang NTVN đề nghị một nguyên tắc (một nguyên tắc vàng), xin xem lại nguồn của bản tin – bất cứ bản tin nào – mà bạn muốn chia sẻ lại. Và xin chỉ trích hoặc chia sẻ lại bản tin có nguồn từ những trang thông tấn xã chuyên nghiệp, thí dụ, CNN, Fox News, Vatican News, VietCatholic, là những nguồn chính thống. Những bản tin trích từ những nguồn này độ chính xác khá cao.

“Thích Thì Post Thôi!”

Trong cộng đồng sử dụng tiếng Anh, có một câu nói khá phổ thông trong thế giới trang mạng, “I post, therefore, I am.” Trong cộng đồng nói tiếng Việt, câu, “Mình thích thì mình post thôi,” cũng rất phổ thông!

Một chọn lựa chỉ có ảnh hưởng tới đời sống riêng tư của cá nhân, nếu mình “thích thì [mình] post thôi.” Điều này được chấp nhận. Nhưng, nếu cái chọn lựa của mình có khả năng gây ra những ảnh hưởng tới người khác, thì câu nói “thích thì post thôi” không có chỗ đứng trong thế giới trang mạng xã hội; rất đơn giản, bởi nơi đó, văn hóa trang mạng phải được tôn trọng. Thật thế!

Những cái post của cá nhân tôi đưa lên trang mạng xã hội hình “xác người quá cố,” “lời ăn tiếng nói” mất thuần phong mỹ tục, những “mâm cơm riêng tư” đúng ra chỉ nên xuất hiện trong phòng cơm nhà mình, tin không chính xác/fake news; những cái post này không thể gọi là tôi “thích thì [tôi] post thôi.” Những cá nhân không tôn trọng văn hóa trang mạng dễ dàng tạo ra những phản cảm cho những người khác cùng sử dụng trang mạng.

Sứ Vụ Truyền Giáo,

Em mến,

Cha cám ơn em, em con gái, cá tính cao, nhưng đã học được đức tính khiêm nhường. Cha chỉ nói ngắn gọn có mấy lời, em hiểu ngay.

Trên tất cả, em thực hành lời của Giáo hội đề nghị người tín hữu thiên niên kỷ thứ ba nên sử dụng truyền thông trang mạng như là một phương tiện, nơi đó, sứ vụ truyền giáo được Đức Giêsu Phục Sinh trao ban tới tất cả mọi người tín hữu được thực hành ngày trong ngày hôm nay và ngay bây giờ. Bởi thế, em sử dụng tài khoản FB của em như là một mảnh đất truyền giáo, nơi đó em bước ra nương đồng reo hạt giống Lời Chúa tới tâm hồn của tất cả những người bạn trang mạng của em. Cám ơn em! Cám ơn nhà truyền giáo của thiên niên kỷ thứ ba. Mời em bước tiếp những bước chân truyền giáo.

Nguyện cầu Thiên Chúa chúc lành em trong sứ vụ truyền giáo trên những nẻo đường và cánh đồng trang mạng xã hội.
 
Dấu Chân Ngài Trên Bãi Bờ Cuộc Sống
Sơn Ca Linh
11:46 11/01/2021
“Ngài đang đi dọc theo biển hồ Galilê…” (Mc 1,16-20)

Và Ngài đã chấp nhận “bước xuống”,
Xuống cõi trần ô trọc, một “cõi người ta”.
Một cõi đời
mà nhiều lúc nhiều nơi chỉ là “lũng nước mắt bao la”,
Bởi đầy dẫy đó đây:
“những chiếc áo nhuộm máu đào, những chiếc giày đi lộp cộp”…

Và từ đó,
Ngài đã biết “cõi người ta” có những “hang súc vật dơ nhớp”,
Nhưng cũng có
“vàng, nhũ hương, mộc dược” và cả “hơi ấm bò lừa…!
Có cung vàng của chúa, có điện ngọc của vua,
Nhưng cũng có,
máng cỏ, cọng rơm hương đồng cỏ nội…
Có những ngày dài Ai Cập hoang vu tăm tối…
Bù lại cho “đêm Bêlem rạng rỡ ánh sao trời” !

Ngài đã “bước xuống”,
Xuống dòng sông Giođan hay giữa những nẻo đời,
Những thân phận khố rách áo ôm,
Những mảnh đời trôi sông lạc chợ…
Nên đành phải sái cổ trầy vai “mang gánh đầy tội nợ”.
Để ai nấy đi lên hy vọng và ơn cứu độ đã đong đầy.

Ngài đã bước xuống, đã đi qua,
Dọc theo biển hồ Galilê hôm xưa, những dấu chân Ngài,
Vẫn còn hằn lên, mới tinh, trên những bãi bờ cuộc sống.
Quyết liệt, gắt gao, diệu mềm…vang động,
Vẫn những “tay chài lưới”, vẫn tiếng gọi mời “Hãy theo Ta”.
“Giờ của Nước Trời” không phải chuyện của hôm qua,
Nhưng “Bây giờ, ở đây… hôm nay và mãi mãi !

Là Đấng Emmanuel,
Nên nẻo trần gian nào cũng là địa chỉ,
Và ai cũng được gọi:
ốm đói, nghèo hèn, goá bụa, bán phấn buôn hương…
Nếu những dân chài, những Mađalêna…
Đã thắp sáng Tin Mừng Phục Sinh trên vạn nẻo đường,
Nên chẳng ngại,
dẫu dốt, dẫu nghèo, dẫu “tôi hèn tớ nữ”…

Điều còn lại,
Học hai tiếng “Xin Vâng”, học “bỏ thuyền, bỏ cha, bỏ lưới”…
“Bỏ bàn thu thuế”, bỏ “nghiệp phấn hương”…
Học những “mục đồng”, những “Ba Vua” mau mắn lên đường
“Bước Thăm viếng của Mẹ”, “bước Emmau” đi về vội vã…
Học “giọt nước mắt sám hối của Maria”,
“con tim trông cậy của người tử tù bên thập giá”
Học những “bình minh chèo thuyền ra chỗ nước sâu”…

Vì Ngài đã bước xuống,
Nên hãy yên tâm, Ngãi vẫn ở đó… suốt cả canh thâu,
Và sáng sớm, mới tinh,
dấu chân Ngài vẫn còn in trên bãi bờ cuộc sống.

Sơn Ca Linh (11.1.2021)





 
Chúa Giêsu trong lịch sử văn hóa, Chương Mười Sáu
Vũ Văn An
21:26 11/01/2021

Chúa Giêsu trong lịch sử văn hóa
Nguyên tác: Jaroslav Pelikan,
Bản tiếng Việt: Vũ Văn An





Chương Mười Sáu: Thi sĩ của Thần khí

Giữa thế nhân, ngài vô song tuyệt mỹ, nét duyên tươi thắm nở môi ngài

Khi Shakespeare đặt vào miệng Hamlet câu “này Horatio, trên trời và dưới đất có nhiều sự vật hơn là được mơ tưởng trong triết lý của bạn” (1), có lẽ ông đã dự ứng lời quở trách của phần đông tư tưởng và văn học thế kỷ 19 đối với các người đi trước họ trong thế kỷ 18: khi giản lược mầu nhiệm vào lý lẽ và hạ siêu việt xuống hàng lương tri, chủ nghĩa duy lý của thế kỷ 18 đã hạ bệ mê tín chỉ để cho sự tầm thường lên ngôi. Theo lời René Wellek, điều thế kỷ 19 thay thế cho chủ nghĩa duy lý là: “dù xem ra sẽ thất bại và bị thời đại ta bác bỏ, họ vẫn cố gắng đồng nhất hóa chủ thể với đối tượng, hoà giải con người với thiên nhiên, ý thức với vô thức bằng thi ca, điều vốn là ‘kiến thức đầu hết và cuối cùng’” (2). Wellek định nghĩa phong trào Lãng mạn như thế, để trả lời cố gắng của Lovejoy muốn chứng minh rằng “chữ ‘lãng mạn’ đã tiến đến chỗ có nghĩa rất nhiều điều đến nỗi, tự nó, nó không có nghĩa chi nữa” (3). Vì mục đích hiện nay của chúng ta, chúng ta nên coi là “lãng mạn” các cố gắng của nhiều nhà văn và tư tưởng gia thế kỷ 19 muốn đi quá bên kia cuộc truy tầm Chúa Giêsu Lịch sử để tìm một Chúa Giêsu, Đấng, theo công thức của Wellek, nhờ đồng nhất hóa chủ thể với đối tượng và hoà giải con người với thiên nhiên, ý thức với vô thức, nên có thể gọi là Thi Sĩ của Thần Khí.

Như để thông báo thế kỷ 18 đã kết thúc, nhà giải thích hàng đầu người Đức về lối hiểu đức tin của Phong Trào Lãng Mạn đối với Chúa Kitô, tức Friedrich Schleiermacher, được trích dẫn ở chương trước, năm 1799, đã công bố cuốn On Religion. Speeches to its Cultured Despisers (Về Tôn Giáo. Các Diễn Từ cho Những Người Có Văn hóa Ghét Bỏ Nó) (4). Năm 1806, ông tiếp tục cho xuất bản một loại đối thoại kiểu Platông về Chúa Kitô tựa là Christmas Eve Celebration (Cử hành Vọng Giáng sinh) và, năm 1819, trở thành “người đầu tiên công khai thuyết trình về chủ đề cuộc đời Chúa Giêsu”, biến chủ đề này thành chủ đề cho các giảng khóa học thuật tại Đại Học Bá Linh giữa các năm 1819 và 1832, mặc dù cuốn sách phát xuất từ các ghi chép của sinh viên về các giảng khóa này đến năm 1864 mới xuất bản (5). Thành tựu lâu dài nhất của Schleiermacher về thần học hệ thống là cuốn The Christian Faith (Đức tin Kitô giáo), xuất bản trong các năm 1821-22 (6). Trong số các nhà văn Anh, người loan truyền phong trào Lãng mạn Đức sâu sắc nhất và quan trọng nhất có lẽ là Samuel Taylor Coleridge, người qua đời cùng một năm với Schleiermacher (7). Cuốn Aids to Reflection (Trợ cụ Suy tư) năm 1825 và cuốn xuất bản sau khi ông qua đời tựa là Confessions of an Inquiring Spirit (Tự thú của Một Tinh thần Tìm hiểu) trình bày bằng một thể văn xuôi đầy tính triết lý và thần học một số ý tưởng vốn được ông phát biểu bằng thi ca, nhất là sau khoảng năm 1810, khi ông thấy mình tiến lại gần hơn các niềm tin Kitô giáo lịch sử.

Coleridge, ngược lại, là sức mạnh lớn thúc đẩy việc phát triển trí thức và tâm linh của Ralph Waldo Emerson, người thuộc thế hệ sau và có lẽ là nhà tư tưởng gây nhiều ảnh hưởng nhất tại Hoa Kỳ thế kỷ 19 (8). Dù thừa nhận gợi ý có tính cải chính của Lovejoy là “nên học cách dùng chữ ‘Phong trào Lãng mạn’ ở số nhiều” (9), ta vẫn cần được phép nói một cách tổng quát rằng mỗi người trong số ba người Đức, Anh và Hoa Kỳ này, qua cách riêng của họ, đã đóng vai trò phát ngôn viên cho tinh thần văn chương và triết học của Phong trào Lãng mạn thế kỷ 19, và mỗi người trong số họ đều tìm cách nhập thân tinh thần đó nơi con người Chúa Giêsu.

Giống người duy lý, họ đều thấy không thể nào chấp nhận các trình thuật Tin Mừng về phép lạ của Chúa Giêsu như các chân lý lịch sử theo nghĩa đen. Tuy nhiên, thay vì giải thích theo nghĩa loại bỏ chúng, họ cố gắng nhập thân chúng vào một thế giới quan có tính tổng thể hơn (10). Như Coleridge từng phát biểu, “điều nay chúng ta coi là phép lạ ngược với kinh nghiệm thông thường”, với cái nhìn thấu suốt hơn, sẽ được nhìn bằng một lòng sùng kính cao hơn như thành phần hoà hợp của một phép lạ lớn lao và phức tạp, khi phản đề giữa kinh nghiệm và niềm tin được tổng hợp vào tính hợp nhất của lý trí trực quan” (11). Cả cuộc tấn công thế kỷ 18 của Phong trào Ánh sáng chống lại ý niệm phép lạ như những vi phạm tới luật tự nhiên lẫn nền hộ giáo thần học bênh vực phép lạ đều không nắm được trọng điểm; vì, theo câu nói trong cuốn sách đầu tiên của Emerson xuất bản năm 1836, ở cả hai phía, “nhà thông thái trở thành phi thi ca” khi không hiểu ra điều này: “đoán mò thường hữu hiệu hơn một quả quyết không thể bàn cãi và, giấc mơ có thể dẫn ta vào bí mật của thiên nhiên sâu xa hơn cả trăm thí nghiệm được nhất trí” (12).

Trong cuộc truy tìm “tính hợp nhất của lý trí trực quan” vượt quá các phản đề giữa tự nhiên và phép lạ hoặc giữa kinh nghiệm và niềm tin, họ nhìn nhận rằng Chúa Giêsu là vấn đề chủ chốt, và họ tin rằng, Người cũng là nguồn để giải đáp vấn đề. Điều người ta vốn gọi là “thái độ luôn thay đổi của Coleridge đối với Chúa Kitô” là cố gắng phá tan thế lưỡng nan do thế kỷ 18 đưa ra (13). Tương tự như thế, trong các giảng khóa của ông về Cuộc Đời Chúa Giêsu, Schleiermacher vứt bỏ như là không hữu ích “sự tương phản giữa siêu nhiên và tự nhiên mà chúng ta thường bao gồm trong hạn từ ‘phép lạ’ dựa trên từ vựng kinh viện” (14). Các phép lạ quan trọng như “các dấu chỉ” và “kỳ công” trong đó không phải việc đình chỉ luật tự nhiên, mà là “ý nghĩa” mới là thành tố hàng đầu. Cho nên, khi đương đầu với các trình thuật phép lạ của các sách Tin Mừng, người viết tiểu sử Chúa Giêsu có nhiệm vụ phải nối kết chúng với các chủ đề chính của đời sống và việc làm của Người:

“Việc làm càng được hiểu như một hành vi luân lý về phía Chúa Kitô và chúng ta càng thiết lập được sự so sánh giữa cách Chúa Giêsu chu toàn một thành quả và cách người khác chu toàn, ta càng có khả năng hiểu thấu các hành vi như những thành phần chân chính của đời sống Chúa Giêsu. Càng ít hiểu chúng như các hành vi luân lý về phía Chúa Kitô và đồng thời, chúng ta càng ít khám ra các so sánh, chúng ta càng ít có khả năng hình thành bất cứ ý niệm nào về trình thuật và hiểu được các dữ kiện nó dựa vào” (15).

Dựa trên điều đó, Schleiermacher cảm thấy có thể xếp loại các trình thuật về phép lạ dưới nhiều phạm trù khác nhau và xử lý nội dung lịch sử trong mỗi phạm trù này.

Nội dung chính của tiểu sử Chúa Giêsu, trong cuốn Cuộc Đời, là “việc khai triển” nơi Người một “ý thức Thiên Chúa” (God-consciousness), một ý thức, một đàng, có tính “hoàn hảo”, khi so sánh với ý thức Thiên Chúa nơi người khác, và do đó độc nhất về mức độ, nhưng, mặt khác, xét về nền tảng, không khác về loại (16). Dễ hiểu là việc thảo luận về chủ đề này tiếp liền ngay sau việc xem xét các vấn đề vốn gắn liền với tín điều chính thống về hai bản tính, tức bản tính Thiên Chúa và bản tính con người, và việc bàn đến ý thức Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu có thể được coi như một thay thế cho tín điều này. Do đó, trong việc phát triển riêng của Schleiermacher, cuốn Cuộc Đời Chúa Giêsu tạo nên một bước quá độ từ hình ảnh phần nào có tính tán tụng (dithyrambic) về Chúa Giêsu trong bài cuối cùng của cuốn Các Diễn Từ về Tôn Giáo năm 1799 tới bức chân dung được khai triển trọn vẹn và tinh tế hơn nhiều trong cuốn Đức Tin Kitô Giáo của các năm 1821-22. Trong cuốn Các Diễn Từ, Schleirermacher nhấn mạnh rằng điều khác biệt về Chúa Giêsu không phải là “sự tinh ròng trong giáo huấn luân lý của Người” cũng không phải là “cá tính độc đáo của Người, tức sự kết hợp chặt chẽ của quyền năng cao cả với sự dịu dàng gây xúc động” vì cả hai điều này đều hiện diện nơi mọi bậc thầy tôn giáo vĩ đại; nhưng “yếu tố thực sự thần linh là sự rõ ràng rực rỡ mà các tư tưởng vĩ đại do Người đến để trình bày đã đạt được trong linh hồn Người”, tức là, “điều hữu hạn nào cũng đòi một trung gian cao hơn để có thể phù hợp với Thần Tính; và với một con người sống dưới quyền năng hữu hạn và đặc thù..., ơn cứu rỗi phải được tìm thấy trong ơn cứu chuộc” (17). Do đó, Thi sĩ của Thần Khí này là sự hoàn thành chủ đề đã được loan báo ở đầu cuốn Các Diễn Từ:

“Như một hữu thể nhân bản, tôi nói với các bạn về các bí mật thánh thiêng của nhân tính theo cái nhìn của tôi, về điều ở trong tôi khi tôi đi tìm điều chưa biết một cách hết sức hăng hái của tuổi trẻ, về điều từ lúc đó tôi vốn suy tư và trải nghiệm, về những dòng suối sâu thẳm nhất trong hữu thể tôi, những dòng suối mãi mãi cao cả nhất trong tôi, bất luận tôi bị các đổi thay của thời gian và nhân tính tác động ra sao” (18).

Đến lúc viết cuốn Đức Tin Kitô Giáo vào 2 thập niên sau đó, Schleiermacher đã tiến tới chỗ định nghĩa Chúa Giêsu như “nguyên mẫu [Urbild]” của nhân tính chân chính trong tương quan của nó với Thiên Chúa, và ý thức về Người: ông cho hay, nơi Chúa Giêsu Kitô, “nguyên mẫu hẳn đã trở nên hoàn toàn có tính lịch sử... và mỗi khoảnh khắc lịch sử của cá nhân này hẳn mang thể nguyên mẫu trong nó” (19).

Vì “ý thức Thiên Chúa” như thế và linh hứng Thiên Chúa vốn được biểu lộ hết sức mạnh mẽ nơi các nghệ sĩ và thi sĩ, kinh nghiệm thẩm mỹ cung ứng các phạm trù thích đáng nhất để giải thích nhân vật Giêsu. Trong công trình lúc đầu của ông về cuộc đời và giáo huấn Chúa Giêsu, tức cuốn The Spirit of Christianity and Its Fate (Tinh thần Kitô Giáo và Số Phận của Nó), Hegel định nghĩa “chân lý” như “vẻ đẹp được trình bày một cách trí thức” và do đó, ông thấy “tinh thần Chúa Giêsu” như “một tinh thần được nâng cao hơn luân lý” (20). Dĩ nhiên, Chúa Giêsu vốn là một linh hứng đối với các nghệ sĩ, thi sĩ và nhạc sĩ từ buổi đầu của Kitô giáo. Điều khiến thế kỷ 19 ra khác biệt so với truyền thống phổ quát này là cố gắng làm cho lối hiểu thi ca và nghệ thuật đó về Chúa Giêsu thay thế cho lối hiểu tín điều, luân lý và cả lịch sử nữa. Bài thơ mạnh mẽ của William Blake, The Everlasting Gospel (Tin Mừng Muôn Thuở), một bài thơ ông không bao giờ hoàn tất, giống các cố gắng khác cùng thời trong việc khám phá lại Chúa Giêsu chân chính, Đấng vốn bị chôn vùi dưới truyền thống và tín điều: Chúa Giêsu của Blake, như hiện thân của điều ông gọi là “thi ca”, bác bỏ bằng lời và bằng hành động mọi tính qui ước của tôn giáo quyền qúy và trưởng giả. Đây là một khẳng định lại hình ảnh có yếu tính khải huyền về Chúa Giêsu, chính là nét trong sứ điệp Tin Mừng mà Phong trào Ánh sáng đã cố gắng dẹp bỏ, cùng với ý niệm phép lạ (21). Hơn nữa, trong trường hợp Blake, cụm từ “lối hiểu thi ca và nghệ thuật” về Chúa Giêsu mang một ý nghĩa đặc biệt, vì Blake tạo ra một loạt chân dung về Chúa Giêsu trong đó, phản đề giữa tự nhiên và siêu nhiên đã được vượt qua. Do đó, trong tác phẩm Chúa Kitô Hiện Ra với Các Tông Đồ Sau Khi Phục Sinh, được vẽ ngay trước lúc từ thế kỷ 18 chuyển sang thế kỷ 19, ánh sáng quanh nhân vật chính rõ ràng thuộc một trật tự khác với trật tự tự nhiên, thế nhưng các vết thương trong bàn tay và cạnh sườn Chúa Kitô thì có đó để chứng tỏ sự đồng nhất giữa Đấng Sống Lại và Chúa Giêsu lịch sử, Đấng mà các môn đệ từng biết như một phần của thế giới tự nhiên. Theo gợi ý của Martin Butlin, vì các vết thương và vì “sự đối lập giữa vị tông đồ trẻ tuổi chiêm ngưỡng Chúa Kitô sống lại với thái độ thờ lạy và các tông đồ khác cúi đầu trước Người như thể Người là một ngẫu tượng”, nên người ta “ nghiêng về phía coi việc này như một cách chuyên biệt nói đến Ông Tôma Hoài Nghi” (22). Và cũng nên thêm rằng, Ông Tôma Hoài Nghi, xét về nhiều phương diện, đã trở thành thánh bổn mạng của Phong trào Ánh Sáng.

Vì, quả là là một kết luận vội vã và hời hợt nếu chỉ căn cứ vào các khám phá khoa học về thế giới vật chất mà giả thiết rằng nay mọi mầu nhiệm đã bị trừ khử khỏi nó rồi. Nếu mầu nhiệm đức tin không có ý nghĩa gì với những ông Tôma Hoài Nghi của con cháu thế kỷ 18, thì mầu nhiệm cái đẹp hẳn phải có ý nghĩa. Trong một đoạn nổi tiếng (và đôi khi bị chế giễu) từng được gọi là “một hình ảnh nôn nóng với mọi khả thể mất mát... ít là một hình ảnh hơn là một hứa hẹn được muôn đời lặp lại” (23), Emerson đã diễn tả rõ mầu nhiệm cái đẹp như sau:

“Đứng trên đất trơ trọi, đầu tôi được tắm gội trong bầu khí thanh thản và được nâng lên không gian vô tận, mọi tính ích kỷ ti tiện biến mất. Tôi trở thành nhãn cầu trong veo; tôi chẳng là chi; tôi nhìn thấy tất cả; các luồng nước của Hữu Thể Phổ Quát lưu chuyển qua tôi; tôi là phần hay phân tử của Thiên Chúa... Tôi là tình nhân của thể vô hạn và của vẻ đẹp trường sinh” (24).

Vì như ông tiếp tục nói ở mấy câu sau đó, “Người Hy Lạp xưa gọi thế giới là kosmos, vẻ đẹp. Cơ cấu mọi sự vật hoặc năng lực tạo hình (plastic power) của đôi mắt con người được cấu tạo đến nỗi những hình thức đệ nhất đẳng như bầu trời, núi non, cây cối, động vật, đem lại cho chúng ta một sảng khoái ngay trong chúng và vì chúng. Nên, như ông nói trong giảng khóa đầu tiên của ông, Emerson tìm cách “ngắm nhìn Thiên Nhiên bằng con mắt Nhà Nghệ Sĩ” vì chỉ bằng cách này, ông mới có thể “học được từ Nhà Nghệ Sĩ, Đấng mà máu Người đang đập trong các huyết mạch chúng ta, Đấng mà khiếu thưởng thức của Người đang trào dâng trong tri nhận cái đẹp của chúng ta” (25). Trong và ở dưới ý thức con người, sự hiện diện của việc họ cảm nhận được lẽ huyền nhiệm của cái đẹp quả đã tạo thành lối hiểu của Emerson về điều mà các nhà kinh viện thời Trung cổ gọi là analogia entis (loại suy hữu thể) giữa Đấng Tạo Dựng và tạo vật, mà nay đã trở thành analogia Naturae,( loại suy Thiên Nhiên).

Hơn cả những điều đã phát biểu trong các giảng khóa của Schleiermacher về Cuộc đời Chúa Giêsu hay trong Chủ nghĩa Lãng Mạn nơi trước tác thời trẻ của Hegel về buổi đầu của Kitô giáo, loại chủ nghĩa thẩm mỹ do Emerson chủ trương đã lên khuôn cho việc trình bày tiểu sử Chúa Giêsu công bố vào năm 1863 bởi một người Pháp cùng thời với Emerson, tức Ernest Renan, một tác phẩm được gọi một cách hơi cường điệu là “công trình nổi tiếng và có giá trị lâu dài nhất chưa hề được viết về chủ đề này” (26). Hơn 6 ngàn bản của cuốn sách đã được bán hết ngay 6 tháng đầu tiên. Cuốn Vie de Jésus (Cuộc Đời Chúa Giêsu) là một tán dương đối với điều chính ông gọi là “thi ca linh hồn, đức tin, tự do, nhân đức, sùng kính” như Chúa Giêsu, Thi sĩ của Thần khí, đã từng nói đến (27). Ông viết “Con người siêu phàm này, Đấng hàng ngày vẫn chủ trì số phận thế giới, chúng ta có thể gọi là thần thiêng” không theo nghĩa từng được tín điều chính thống về hai bản tính sử dụng, nhưng vì “việc thờ phượng Người sẽ không ngừng cải tân tính tươi trẻ của nó, câu truyện đời Người sẽ làm người đời không ngừng rơi lệ, các đau khổ của Người sẽ làm mềm lòng những trái tim đẹp đẽ nhất” (28). Renan viết như một sử gia; ông vốn được bổ nhiệm làm giáo sư tại Collège de France (Học Viện Pháp Quốc) năm 1862, dù bị buộc phải từ chức năm 1864. Tuy nhiên, trong tư cách sử gia, ông viện dẫn mầu nhiệm mỹ thuật làm thuốc giải độc chữa các tàn phá của chủ nghĩa hoài nghi lịch sử duy lý. Ông nhấn mạnh rằng điều cần là sử gia phải hiểu đức tin “đã quyến rũ và thỏa mãn lương tâm con người” ra sao, nhưng điều cũng cần thiết không kém là không nên tin vào nó nữa, vì “đức tin tuyệt đối không tương hợp với lịch sử thành thực”. Nhưng ông tự an ủi mình bằng niềm tin cho rằng “tránh việc gắn bó mình với bất cứ hình thức nào vốn lôi kéo việc thờ lạy của con người không có nghĩa là tước mất của mình việc thưởng thức những gì vốn tốt và đẹp ở trong chúng” (29). Nên phải gắn bó với Chúa Giêsu.

Nhiều cố gắng nhằm mô tả con người Chúa Giêsu theo khuôn khổ trên, kể cả cố gắng của Renan, đã thất bại về vấn đề luân lý. Dù rất cố gắng, họ vẫn không thể đem lại với nhau Đấng Chân, Đấng Thiện, và Đấng Mỹ, hay nối kết phạm trù nền tảng của họ trong việc đánh giá Chúa Giêsu về phương diện thẩm mỹ với sự tha thiết có tính tiên tri vốn hiện diện một cách không thể lầm lẫn trong lời hiệu triệu làm môn đệ của Người. Với Emerson, cuộc khủng hoảng phát xuất nhân cuộc xung đột về nạn nô lệ trong các thập niên trước khi xẩy ra Cuộc Nội Chiến, một thời điểm mà người viết tiểu sử ông, bắt chước tựa đề của cuốn thứ nhất bộ lịch sử Thế Chiến II của Churchill, đã gọi là “Cơn Bão Đang Tập Trung” (30). Trong tiểu luận đầu tiên của Essays: Second Series of 1844, tựa là “The Poet”, ông đã cố gắng đem lại với nhau Đấng Chân, Đấng Thiện, và Đấng Mỹ. Ở đó, ông viết “Vũ trụ có 3 đứa con, sinh cùng một lúc”. Ông viết tiếp “Trong thần học”, 3 đứa con này được gọi là “Cha, Thánh Thần, và Con” nhưng “ở đây, chúng ta sẽ gọi các vị là Đấng Biết, Đấng Làm và Đấng Nói”. Ông giải thích “Các vị lần lượt đại diện cho tình yêu cái chân, tình yêu cái thiện, và tình yêu cái đẹp”. “Cả ba đều bình đẳng”, ông nói thêm, rõ ràng ám chỉ tín điều Ba Ngôi, tín điều bị ông bác bỏ. Nhiệm vụ của thi sĩ là làm người nói và đặt tên, và đại diện cho cái đẹp. Trong nhiệm vụ ấy, ông đứng trong liên tục tính với Thiên Chúa. “Vì thế giới không được vẽ hay trang trí, nhưng từ nguyên khởi, vốn đẹp đẽ; và Thiên Chúa đã không tạo ra một số sự vật đẹp đẽ, Nhưng Đấng Đẹp vốn là Đấng dựng nên vũ trụ”. Vì Chúa Giêsu là Thi Sĩ của Thần Khí, nên nay thi sĩ phải là Ngôi Thứ Hai mới của Chúa Ba Ngôi, qua Người, Đấng Đẹp vốn là Đấng dựng nên vũ trụ sẽ rõi sáng qua suốt, biểu lộ tính hợp nhất theo yếu tính với Đấng Chân và Đấng Mỹ. Nhưng ở cuối tiểu luận, Emerson cho rằng “tôi tìm nhà thi sĩ mà tôi mô tả vô vọng... Thời gian và thiên nhiên ban cho ta nhiều hồng phúc, nhưng chưa ban cho ta con người hợp thời, tôn giáo mới, đấng hoà giải, mà mọi vật đang mong đợi” (31). Emerson kết thúc bài thơ của ông tựa là “Give All to Love”, xuất bản trong cuốn Poems năm 1847 (32), bằng những dòng sau đây:

Hãy nồng nhiệt biết rằng
Khi bán thần ra đi
Thần minh sẽ xuất hiện
.

Nhưng ở chỗ “bán thần” Giêsu ra đi, không ‘thần minh”, không Thi sĩ mới nào của Thần Khí tới để hợp nhất Thiện, Chân và Mỹ.

Nền luân lý của Chúa Giêsu cũng không thể được điều chỉnh trong phản ứng của phong trào Lãng Mạn đối với phong trào Ánh Sáng. Bất chấp các cố gắng dũng cảm của Schleiermacher và Renan, Chúa Giêsu Lịch Sử vẫn không hoàn toàn phù hợp với các phạm trù của họ. Như Karl Barth từng viết, “Chúa Giêsu Nadarét không thích hợp chút nào đối với nền thân học này... Yếu tố lịch sử trong tôn giáo, yếu tố khách quan, Chúa Giêsu, là đứa con có vấn đề (Sorgenkind = problem child) đối với thần học gia, một đứa con tạo vấn đề cần phải luôn được dành cho lòng kính trọng và phần nào đã nhận được lòng kính trọng này, nhưng vẫn là một đứa con tạo vấn đề” (33). Trong lời phê phán này, Barth đã lặp lại các nhận định của David Friedlich Strauss, người từng nhận xét rằng mặc dù tựa đề các giảng khóa của Schleiermacher là Cuộc Đời Chúa Giêsu, nhưng thực ra “ông chỉ dùng tên ‘Kitô’ gần như xuyên suốt” thay vì tên “Giêsu” (34). Albert Schweitzer cũng đã lặp lại cùng một phê phán (35). Strauss phản đối một phần cố gắng của Schleiermacher, nhất là trong cuốn Đức Tin Kitô Giáo, khi phối hợp việc nghiên cứu lịch sử có tính phê phán về Chúa Giêsu của các sách Tin Mừng với thái độ khẳng nhận đối với Chúa Kitô của các tín điều Giáo Hội, một nhiệm vụ bị Strauss coi như bất khả và đặc biệt không trung thực. Nhưng cả đối với Karl Barth, người đã thi hành cùng một nhiệm vụ ấy một cách bất cứ ai thuộc thế kỷ 20 cũng không thể so sánh được, chân dung lãng mạn của Chúa Giêsu, như Schleiermacher trình bày, là một thất bại hết sức rõ rệt.

Tuy nhiên, ngược lại, Barth tỏ ra thù nghịch đối với các cố gắng hộ giáo nơi Strauss và trong cuốn Các Diễn Từ về Tôn Giáo của Schleiermacher, mà phụ đề cho thấy rõ nó muốn ngỏ “với những người ghét [tôn giáo] có văn hoá”. Vì lời kêu gọi này với những người có văn hóa ghét tôn giáo, Schleiermacher của các Diễn Từ đã sẵn sàng cắt và xén, chỉnh sửa và bỏ bớt, dù việc này có nghĩa là phải làm ngơ hoặc bóp méo các yếu tố chính của truyền thống Kitô giáo. Barth cho rằng “Ngay văn phong đầy nghệ thuật của cuốn Các Diễn Từ cũng phải được hiểu ‘có tính hộ giáo’ theo nghĩa này, Schleiermacher, như chính ông có lần nói, như một người chơi nhạc hơn là một người trình bày lý lẽ, đã tự làm cho mình ăn khớp với ngôn ngữ” của người nghe. Barth kết luận:

“Như một nhà hộ giáo cho Kitô giáo, ông thủ diễn việc đó như một nghệ sĩ bậc thầy thủ diễn chiếc vĩ cầm của mình, [lựa] những cung giọng và lối chơi dù không thích thú lắm, nhưng ít nhất cũng chấp nhận được, đối với người nghe của mình. Schleiermacher không nói như một người phục vụ vấn đề (mặc khải Kitô giáo) một cách có trách nhiệm, nhưng như phong thái của một nghệ sĩ bậc thầy, muốn chơi thế nào thì chơi” (36).

Và với Barth, Chúa Giêsu Lịch Sử, “đứa con gây vấn đề”, là điển hình chủ chốt của xu hướng trên.

Từ cung thánh ưu tuyển của Giáo Hội và nền thần học tín điều của nó, người ta chắc chắn sẽ nêu ra nhiều câu hỏi nghiêm túc về việc vẽ ngắn lại viễn ảnh tín lý về con người của Chúa Giêsu Kitô theo thứ hộ giáo duy giản lược đó. Nhưng sức lôi cuốn của những bức chân dung như thế về Chúa Giêsu nơi phần lớn công chúng của thế kỷ 19 xem ra không ai chối cãi, nhất là vào thời điểm khi Chúa Kitô truyền thống của Giáo Hội và của tín điều không còn nói với họ nữa. Chủ nghĩa Lãng mạn, theo nghĩa dùng ở đây, xuất hiện, một phần vì chính cuộc khủng hoảng đức tin liên kết với việc truy tầm Chúa Giêsu Lịch sử. Hơn nữa, trong việc thi hành cụ thể như một quan điểm đối với quá khứ và như một phương pháp hiểu quá khứ này, phong trào Lãng Mạn của thế kỷ 19 chứng minh rằng nó có một dây trời (antenna) nhậy bén với các tín hiệu của quá khứ ấy hơn chủ nghĩa duy lý là chủ nghĩa vốn tìm cách đòi độc quyền tước hiệu “lịch sử”. Chẳng hạn, khó mà thấy việc ý thức hiện nay của chúng ta về nền văn hóa và tư tưởng của thời Trung Cổ đã phát triển ra sao như nó đã phát triển, nếu nó không có sức mạnh bàng bạc đối với phong trào Lãng Mạn, ngay vào thời điểm lúc các nghiên cứu về thời Trung cổ trở nên nổi bật như một lãnh vực nghiên cứu. Năm 1845, Philip Schaf, một điển hình hàng đầu của phong trào Lãng Mạn trong nền thần học Hoa Kỳ, xuất bản cuốn Principle of Protestantism (Nguyên Tắc Của Phong Trào Thệ Phản), trình bày chi tiết lý thuyết của ông về việc phat triển có tính lịch sử và bao gồm Phong Trào Thệ Phản vào lý thuyết này (37). Cùng năm, [Thánh] John Henry Newman, người đôi khi được liên kết với phong trào Lãng Mạn, công bố tác phẩm tạo lịch sử của ngài tựa là Essay on Development (Tiểu luận và Phát triển), một tác phẩm đóng vai trò lớn trong cả việc “tái khám phá truyền thống” lẫn “phục hồi truyền thống” (38). Phong trào Lãng Mạn tạo công lý nhiều hơn phần lớn phong trào Hiện Sinh hiện đại đối với chiều sâu và chiều phức tạp của quá khứ, và do đó, làm quá khứ ấy sống động, ít nhất, đối với các thính giả có cùng các giả định Lãng Mạn.

Vào tối ngày tốt nghiệp, Chúa Nhật, 15 tháng 7 năm 1838, Ralph Waldo Emerson, theo lời mời của lớp lớn tại Trường Thần Học Harvard, đã đọc một bài diễn văn gây tai tiếng cả vùng New England và ông bị cấm trở lại Harvard gần suốt 30 năm trời (39). Trong bài diễn văn này, ông đã tấn công “Kitô giáo lịch sử” vì đã “tiếp tục... nói quá đáng một cách có hại về con người Chúa Giêsu” khi, đúng ra, “linh hồn không biết ai cả”. Thay vì thúc giục “[các bạn] nên sống theo Luật vô hạn có trong các bạn, và phù hợp với Vẻ Đẹp vô hạn mà trời và đất vốn phản chiếu cho các bạn trong mọi hình thức đáng yêu”, bài diễn văn yêu cầu “các bạn phải bắt bản tính của các bạn phụ thuộc bản tính Chúa Kitô; các bạn phải chấp nhận các giải thích của chúng tôi, và tiếp nhận chân dung của Người như người tầm thường vẽ ra”. Điều này ngược với mệnh lệnh đòi “mọi người phải mở rộng tới trọn vòng vũ trụ” không phải bằng “bất cứ ưa thích nào mà chỉ là các ưa thích đối với tình yêu tự phát”.

Nhưng nó cũng ngược với bức chân dung chân chính của Chúa Giêsu. “Học thuyết và ký ức của Người” vốn bị “bóp méo” một cách trầm trọng ngay thời của Người, và càng bị bóp méo hơn nữa trong “các thời tiếp theo”. Những vần thơ của Người đã được hiểu theo nghĩa đen, và các “hình thái tu từ của Người đã chiếm đoạt vị thế chân lý của Người”. Giáo Hội đã không nói cho ta biết sự khác nhau giữa tản văn và thi ca, và những người tuyên xưng mình như những ngừơi chính thống bước theo chân Người đe dọa các đối thủ thần học của họ, khi nói rằng “Đây là Chính Giêhôva từ trời xuống thế. Tôi sẽ giết anh nếu anh bảo Người là người phàm”. Dĩ nhiên, “Người nói đến các phép lạ” nhưng chỉ vì “Người cảm thấy đời con người là một phép lạ... và Người biết rằng phép lạ hàng ngày này càng sáng láng khi con người càng lên cao”. Tuy nhiên, trong miệng lưỡi các nhà thần học và giáo phẩm, “chữ Phép Lạ... cho ta một cảm tưởng sai lạc; đó là con Quái Vật” thay vì là “một với cỏ ba lá trước gió và mưa rơi”. Hậu quả của một bóp méo như thế chính là việc giảng thuyết theo qui ước của Kitô giáo. Emerson cho biết “có lần tôi nghe một vị giảng thuyết cám dỗ tôi đến nỗi tôi phải nói tôi sẽ không đi nhà thờ nữa. Tôi nghĩ, người ta đi tới chỗ họ có thói quen lui tới, nếu không, không linh hồn nào sẽ vào đền thờ vào buổi chiều”. Ông bảo, những vị giảng thuyết như thế “không thấy rằng họ làm cho tin mừng của Người trở thành hết hân hoan, và cắt đứt Người khỏi mọi chìa khóa dẫn tới vẻ đẹp và mọi thuộc tính nước trời”.

Sứ điệp chân thật của Chúa Giêsu, Thi Sĩ Của Thần Khí, khác với điều trên xiết bao. “Cuộc hoán cải đích thực, Chúa Kitô đích thực, nay cũng như mọi lúc, phải được thực hiện bằng việc tiếp nhận các cảm tình tươi đẹp”. Các cảm tình tươi đẹp này không giới hạn vào Chúa Giêsu của các sách Tin Mừng, nhưng chúng đạt được đỉnh cao của chúng ở đó, chính vì chúng có tính phổ quát:

“Chúa Giêsu Kitô thuộc giống nòi tiên tri đích thực. Người nhìn thấy mầu nhiệm của linh hồn bằng đôi mắt mở lớn. Được lôi cuốn bởi sự hòa điệu xít xao của nó, mê mẩn trước vẻ đẹp của nó, Người sống trong nó, và để hữu thể Người ở đó. Trong suốt lịch sử, một mình Người biết đánh giá cao nét cao cả của con người. Người là người duy nhất biết chân thực với những gì có trong bạn và trong tôi. Người thấy Thiên Chúa tự nhập thể trong người phàm, và mọi người lên đường một lần nữa để sở hữu Thế Giới của Người. Trong niềm hân hoan đầy xúc động tuyệt vời, Người nói, “Ta là thần thiêng. Qua Ta, Thiên Chúa hành động; qua Ta, Người nói. Muốn thấy Thiên Chúa, hãy thấy Ta; hay hãy thấy ngươi, khi ngươi suy nghĩ như Ta suy nghĩ lúc này”.

Do đó, Emerson tiếp tục cho rằng “Nhiệm vụ của bậc thầy đích thực là chỉ cho chúng ta thấy Thiên Chúa đang hiện hữu, chứ không phải đã hiện hữu; Người đang nói, chứ không phải đã nói”. Nếu không, “Kitô giáo đích thực, một đức tin giống niềm tin của Chúa Kitô vào tính vô hạn của con người, sẽ biến mất”. Ông kết luận bằng cách hy vọng rằng “Vẻ Đẹp tối cao từng làm say mê linh hồn những người Phương Đông này” trong Kinh Thánh “cũng sẽ nói với những người Phương Tây”, chỉ cho thấy “Điều Nên Làm, tức Nghĩa Vụ, chỉ là một với Khoa Học, với Vẻ Đẹp, và với Niềm Vui”. Cho nên, ông thúc giục các tân thừa tác viên của Chúa Giêsu Kitô: “Qúy vị, những nhà thơ sơ sinh của Chúa Thánh Thần, qúy vị hãy ném về phía sau qúy vị mọi thứ đồng dạng (conformity) và làm quen với những người trực tiếp biết thần tính”. Vì đó là điều thực sự trung thành với con người và sứ điệp của Chúa Giêsu, Thi Sĩ của Thần Khí.

Nhưng việc đề cập một cách thi ca về con người của Chúa Giêsu cũng có thể tiến theo một hướng khác hẳn nữa, không hẳn nhằm bác bỏ đức tin lịch sử của Nền Chính Thống đối với Người nhưng là để khẳng định nó. Một trong những điển hình hữu hiệu nhất là cảnh trong cuốn Crime and Punishment (Tội Ác và Hình Phạt) của Dostoevsky trong đó, Raskolnikov yêu cầu Sonia đọc cho mình nghe câu truyện phục sinh Ladarô (40). Trước đó, chàng từng hôn bàn chân nàng với lời giải thích “anh không cúi đầu trước em, anh cúi đầu trước mọi đau khổ của nhân loại”. Rồi cầm cuốn Tân Ước bằng tiếng Nga lên và yêu cầu nàng tìm trình thuật về Ladarô. Anh khẩn khoản yêu cầu càng “đọc đi!”, rồi khẩn thiết nhắc lại lời yêu cầu một lần nữa, nhưng nàng do dự. Dần dà, chàng hiểu nàng phối hợp việc do dự đọc nó cho chàng với “một ước nguyện dằn vặt muốn đọc và đọc cho chàng” và điều này khiến chàng càng thúc giục nàng hơn nữa. Khi đọc các câu trong chương mười một Tin Mừng Gioan, nàng như thể “thực hiện lời tuyên xưng công khai”. Trước hết, việc Sonia đọc trình thuật Tin Mừng “tạo lại một cách cuồng nhiệt niềm hoài nghi, sự chỉ trích và khiển trách” của những người từ khước việc chấp nhận Chúa Kitô. Nhưng khi đọc đến phép lạ phục sinh Ladarô, nàng “lạnh người và run rẩy đến xuất thần, như thể nàng nhìn thấy nó tận mắt”. Cây nến lung linh tỏa những ánh lửa bập bùng lên “tên sát nhân và con gái điếm đang cùng nhau đọc sách thánh một cách lạ lùng”, những người được Dostoevsky rõ ràng coi là Madalêna mới và Ladarô mới. Và kết quả là Raskolnikov biết chàng phải thú nhận với nàng việc chàng giết ông già chủ tiệm cầm đồ. Khi cuối cùng chàng làm việc đó, nàng cho chàng biết chàng phải làm gì: “ngay lúc này... anh phải hôn mặt đất mà anh đã làm cho nhơ nhuốc!” Chính vì Sonia biết rõ câu truyện của Tin Mừng đúng sự thật, nên qua câu truyện phép lạ Chúa Giêsu phục sinh Ladarô, Raskolnikov tiến đến chỗ ý thức chân chính được chính mình và cảm nhận được sự gần gũi với mặt đất, với điều René Wellek, trong định nghĩa của ông về phong trào Lãng Mạn đã trích dẫn trên đây, gọi là việc hoà giải của con người với thiên nhiên, ý thức với vô thức, chủ thể với đối tượng. Ý nghĩa thi ca trọn vẹn của việc hoà giải và đồng nhất hóa với Chúa Kitô này trở nên hiển nhiên do một mục bất thường trong ghi chú của Dostoevsky cho cuốn tiểu thuyết (41):

Bây giờ, hãy hôn Kinh Thánh, hãy hôn nó, bây giờ hãy đọc.
[Ladarô tiến ra.]
[Và sau đó khi Svidrigaylov đưa tiền cho nàng]
“Chính tôi [là] Ladarô đã chết, nhưng Chúa Kitô đã phục sinh tôi”.
N.B. Sonia theo Người lên Gôngôtha, bốn mươi bước đàng sau
.

Và Chúa Kitô ấy cũng là Thi Sĩ của Thần Khí.
______________________________________________________________________________________

Ghi Chú

(1) Shakespeare, Hamlet 1.5.166-67
(2) René Wellek, “Romanticism Re-examined” trong Concepts of Criticism (New Haven: Yale University Press, 1963) tr. 221
(3) Arthur O. Lovejoy, Essays in the History od Ideas (New York: Braziller Press, 1955), tr. 232.
(4) Friedrich Schleiermacher, On Religion. Speeches to Its Cultured Despisers, bản tiếng Anh của John Oman (1893; New York: Harper Torchbooks, 1958).
(5) Jack C. Verheyden, “Introduction” to Friedrich Schleiermacher, The Life of Jesus, bản dịch của S. Maclean Gilmour (Philadelphia: Fortress Press, 1975) tr. x.
(6) Schleiermacher, The Christian Faith, bản tiếng Anh của H.R. Mackintosh and J.S. Stewart (Edinburgh: T and T Clark, 1928).
(7) Samuel Taylor Coleridge, The Complete Works, ed. W.G. T. Shedd, 7 vols. (New York: Harper, 1956).
(8) The Complete Eassays and Other Writings of Ralph Waldo Emerson, ed. Brooks Atkinson (New York: Modern Library, 1940).
(9) Lovejoy, Essays, tr. 235.
(10) Xem J. Robert Barth, Coleridge and Christian Doctrine (Cambridge, Mass.: Harvard University Press, 1969) tr.37-42.
(11) Coleridge, The Friend, trong Works 3:468.
(12) Emerson, Nature, Atkinson ed. tr.37.
(13) James D. Boulger, Coleridge as Religious Thinker (New Haven: Yale University Press, 1961) tr. 175.
(14) Schleiermacher, Life of Jesus, tr. 190-229
(15) Schleiermacher, Life of Jesus, tr. 205.
(16) Schleiermacher, Life of Jesus, tr. 87-122.
(17) Schleiermacher, On Religion, tr. 246.
(18) On Religion, tr. 3.
(19) Schleiermacher, The Christian Faith, chương 90.
(20) Georg Wilhelm Friedrich Hegel, Early Theological Writings, bản tiếng Anh của T. M. Knox (Chicago: University of Chiacago Press, 1948) tr. 196, 212.
(21) Harold Bloom, Blake’s Apocalypse, 2nd ed. (Ithaca, N.Y.: Cornell University Press, 1970).
(22) The Painting and Drawing of William Blake, ed. Martin Butlin, 2 vols. (New Haven: Yale University Press, 1981), Text, tr.175-76.
(23) Harold Bloom, Figures of Capable Imagination (New York: Seabury Press, 1976) tr.50.
(24) Emerson, Nature, Atkinson ed. tr. 6, 9.
(25) Ralph Waldo Emerson, Early Lectures, 3 vols. (Cambridge, Mass. Harvard University Press, 1961-72) 1:73.
(26) John Haynes Holmes, “Introduction” to Ernest Renan, The Life of Jesus (1864; New York: Modern Library, 1927) tr. 23.
(27) Renan, Life of Jesus, tr. 69
(28) Renan, Life of Jesus, tr. 392-93
(29) Renan, Life of Jesus, tr. 65.
(30) Gay Wilson Allen, Waldo Emerson. A Biography (New York: The Viking Press, 1981) tr. 570-92.
(31) Emerson, Essays: Second Series, Atkinson ed. tr. 321, 338.
(32) Poems, Atkinson ed. tr. 775.
(33) Karl Barth, Die Protestantische Theologie im. 19 Jahrhundert (Zurich: Evangelischer Verlag, 1947) tr. 385, 412-13.
(34) Dacid Friedlich Strauss, The Christ of Faith and The Jesus of History, bản tiếng Anh của Leander E. Keck (Philadelphia: Fortress Press, 1977) tr. 37.
(35) Schweitzer, Quest, tr. 67.
(36) Barth, 19 Jahrhundert, tr. 397-99.
(37) James Hasrings Nichols, Romanticism in American Theology (Chicago: University of Chicago Press, 1961) tr. 107-39.
(38) Jaroslav Pelikan, The Vindication of Tradition. The 1983 Jefferson Lecture in the Humanities (New Haven: Yale University Press, 1984) tr. 3-40.
(39) Emerson, An Address, Atkinson ed. tr. 64-84.
(40) Fyodor Dostoevsky, Crime and Punishment 4.4.
(41) The Notebooks for “Crime and Punishment” ed. Edward Wasiolek (Chicago: University of Chiacago Press, 1967) tr. 231.
 
VietCatholic TV
Hiện tượng kinh hoàng vừa xảy ra ở một bệnh viện Napoli sau khi máu Thánh Gennariô không hóa lỏng
Thế Giới Nhìn Từ Vatican
16:05 11/01/2021


1. Nhật Bản áp đặt tình trạng khẩn cấp sau khi số trường hợp nhiễm bệnh tăng mạnh

Tử vong tại Nhật tính đến ngày 9 tháng Giêng đã lên đến 3,857 người chết, trong số 265,299 trường hợp nhiễm coronavirus. Số trường hợp nhiễm bệnh trong 24 giờ của ngày 8 tháng Giêng là 6,076 trường hợp, nghĩa là cao gấp hơn 3 lần số trường hợp nhiễm bệnh cao nhất trong đợt lây nhiễm thứ nhất, là 1,998 trường hợp vào ngày 3 tháng Tư.

Hội Đồng Giám Mục Nhật Bản bày tỏ lo âu vì trong năm qua, số người tự tử cao gấp 5 lần số người chết vì COVID-19 vì lâm vào tình trạng trầm cảm do bị cô lập tại nhà, và mất công ăn việc làm.

Đối diện với số trường hợp nhiễm bệnh tăng nhanh này, Nhật đã áp đặt tình trạng khẩn cấp mới. Các quán bar và nhà hàng ở Tokyo phải đối mặt với một đợt đóng cửa mới trong đó yêu cầu tất cả các quán ăn ngừng phục vụ rượu trước 7:00 tối và đóng cửa trước 8:00 tối.

Quy tắc cũng bao gồm các tỉnh lân cận của Saitama, Kanagawa và Chiba. Tất cả đã nói, chiếm khoảng 30% dân số cả nước.

Các hạn chế sẽ có hiệu lực cho đến ngày 7 tháng 2. Giờ đây, một số quán rượu izakaya truyền thống phải đối mặt với tình thế khó xử.

“Vì hầu hết khách hàng đến sau 7:00 tối, không có lý do gì để mở cửa cho bữa tối”, quản lý quán bar này nói.

Nhiều cơ sở đã gặp khó khăn khi nhiều người làm việc tại nhà hơn và ít ra ngoài đường hơn. Đối với một số chủ quán, đóng cửa hoàn toàn có thể là hành động tiết kiệm nhất cho tháng tới.


Source:Reuters

2. Kim Chính Ân hứa tạo ra nhiều vũ khí hơn, nhưng mọi người đang chết đói

Theo Asia-News, cơ quan thông tin của Hội Giáo Hoàng Truyền Giáo Hải Ngoại, hôm 7 tháng Giêng, nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên, là Kim Chính Ân, hay còn gọi là Kim Jong-un tuyên bố sẽ tăng cường khả năng quân sự của đất nước để bảo vệ người dân.

Tuyên bố trên được đưa ra vào ngày thứ hai của một đại hội hiếm hoi của Đảng Công nhân, là đảng cầm quyền Bắc Triều Tiên kể từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc.

Kim không đề cập đến vũ khí hạt nhân hoặc chiến tranh răn đe trong bài phát biểu của mình. Các nhà phân tích coi đây là cách để tránh làm gia tăng căng thẳng với Mỹ trước khi Joe Biden nhậm chức.

Triều Tiên bị cô lập trên bình diện quốc tế, ngoại trừ Trung Quốc và Nga, và đã bị quốc tế trừng phạt trong nhiều năm về các chương trình hạt nhân và tên lửa của nước này.

Bất chấp ba hội nghị thượng đỉnh và mối quan hệ với tổng thống Donald Trump, các cuộc đàm phán hạt nhân với Washington đã bị đình trệ trong một thời gian.

Đất nước đang trong tình trạng hết sức khó khăn. Đại dịch coronavirus và hàng loạt cơn bão mùa hè đã làm suy yếu một nền kinh tế vốn đã bị tàn phá bởi các lệnh trừng phạt.

Khi khai mạc đại hội, lần đầu tiên trong 5 năm, Kim thừa nhận rằng kế hoạch 5 năm gần nhất là một thất bại.

Nhà độc tài đã công bố một chiến lược mới để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng hiện tại. Điều này bao gồm các kế hoạch đổi mới các lĩnh vực như xây dựng, giao thông và thông tin liên lạc, và thúc đẩy một cách tiếp cận mới trong quan hệ kinh tế và chính trị đối ngoại.

Theo một số nhà quan sát, việc Kim thừa nhận “sai lầm” là một dấu hiệu cho thấy chế độ quan tâm đến tình hình kinh tế xã hội của đất nước. Bình Nhưỡng nhận thức được vấn đề sản xuất thực phẩm đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến dân chúng và lực lượng vũ trang.

Daily NK, một tờ báo trực tuyến có trụ sở tại Seoul, có liên hệ với Bộ Thống nhất Hàn Quốc cho biết khi các thành phố của Bắc Triều Tiên bắt đầu cạn kiệt nguồn cung cấp thực phẩm, vào ban đêm dân chúng túa ra các vùng nông thôn tìm mua lương thực.

Các nhà chức trách Bắc Triều Tiên thường làm ngơ trước những hoạt động này bất chấp lệnh giới nghiêm vào ban đêm vẫn còn hiệu lực tại Bắc Triều Tiên.


Source:Asia News

3. Máu tháng Gennariô không hóa lỏng, hiện tượng kinh hoàng xảy ra ở một bệnh viện

Hôm thứ Sáu 8 tháng Giêng, trong bãi đậu xe của bệnh viện Ospedale del Mare, nghĩa là bệnh viện Biển, ở Napoli, bên Ý, một khoảng đất rộng 2,000 mét vuông đã bất ngờ sụp xuống, tạo thành một hố sâu, nuốt chửng cả 3 chiếc xe hơi đang đậu trong bãi đậu xe.

Hôm thứ Tư 16 tháng 12, tại Naples tiếng Ý gọi là Napoli, máu của Thánh Gennariô vẫn khô đặc, không có bất cứ dấu chỉ hóa lỏng nào, một giọt cũng không có.

Diễn biến này được nhiều người Ý xem là một điềm rất xấu. Vài ngày trước đó, một cây cầu đột nhiên gẫy làm đôi trong đêm. Một chiếc xe chở khách đã lao xuống dòng sông.

Trong khi đó, số trường hợp nhiễm coronavirus tăng mạnh khiến Ý phải tái lập tình trạng khẩn cấp sau Đêm Giáng Sinh. Diễn biến mới này khiến nhiều người âu lo.

Bệnh viện đã bị buộc phải tạm thời đóng cửa một toà nhà gần đó đang được dùng để phục hồi bệnh nhân COVID-19 vì điện nước đã bị cắt.

May mắn là tòa nhà chính của bệnh viện không bị ảnh hưởng và các nhân viên cứu hỏa cho biết không có bất kỳ ai bị thương.

Bệnh viện cho biết hố sụt sâu tới 20 mét đã xảy ra vào lúc rạng sáng. Nhà chức trách địa phương trấn an dân chúng rằng vụ đất sụt lở này có thể là do sự thẩm thấu của nước dưới lòng đất do hậu quả của những trận mưa lớn gần đây.

Thống đốc khu vực, Vincenzo De Luca, cho biết tòa nhà dùng làm nơi điều trị cho các bệnh nhân COVID-19 sẽ mở cửa trở lại trong vòng vài ngày sau khi điện và nước được khôi phục.

“Thành thật mà nói, chúng tôi rất lo lắng về sự sụp đổ của tất cả các tiện ích và hoạt động của bệnh viện có thể bị đe dọa. Tạ ơn Chúa, điều này đã không xảy ra. Chúng tôi đã bị mất điện, nhưng điện đã được khôi phục và hiện tại chúng tôi không gặp bất kỳ vấn đề gì trong việc chăm sóc cho các bệnh nhân”.


Source:Huff Post

4. Tổng thống Mễ Tây Cơ đề nghị cho Assange tị nạn sau khi yêu cầu dẫn độ của Hoa Kỳ bị Anh bác bỏ

Tổng thống Mễ Tây Cơ Andres Manuel Lopez Obrador đã đề nghị cung cấp quyền tị nạn chính trị cho người sáng lập WikiLeaks, là ông Julian Assange, một động thái có thể khiến chính quyền ông Joe Biden tức giận.

Lên tiếng hoan hô phán quyết của một thẩm phán Anh, đưa ra hôm thứ Hai 4 tháng Giêng, bác bỏ yêu cầu dẫn độ Assange sang Hoa Kỳ, Lopez Obrador cho biết ông muốn ngoại trưởng Mễ Tây Cơ hỏi nước Anh xem liệu nước này có thể thả Assange để sang Mễ Tây Cơ tị nạn hay không.

“Assange là một nhà báo và xứng đáng có cơ hội”, ông nói. “Chúng tôi sẽ bảo vệ anh ấy”.

Chính quyền Hoa Kỳ dưới thời Barack Obama đã cáo buộc Assange về những hành vi phạm tội liên quan đến việc tiết lộ các hồ sơ mật của Hoa Kỳ và các bức điện ngoại giao mà họ cho là có nguy cơ đe dọa tính mạng của nhiều người.

Mark Feierstein, một cựu quan chức của chính quyền Obama cho biết: “Lopez Obrador dường như đang cố gắng làm tổn hại quan hệ Hoa Kỳ ngay khi Joe Biden chuẩn bị nhậm chức”.

Lopez Obrador đã khiến cho đảng Dân Chủ Mỹ thất vọng khi từ chối công nhận kết quả cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ cũng như không lên tiếng chúc mừng ông Joe Biden.

Thẩm phán Anh từ chối yêu cầu dẫn độ của Mỹ với lý do các vấn đề sức khỏe tâm thần của Assange khiến anh ta có nguy cơ tự sát.

Assange, 49 tuổi, biết rất nhiều chuyện về chính quyền Barack Obama - Joe Biden và có khả năng anh ta còn dấu các tài liệu mật ở đâu đó.

Tháng Giêng năm ngoái, Lopez Obrador thúc giục Anh thả Assange, gọi việc giam giữ ông là một hành vi “tra tấn”, vi phạm nhân quyền và nói rằng các tài liệu của WikiLeaks đã cho thấy nhiều hoạt động “độc tài” trên thế giới.

Một quan chức Mễ Tây Cơ cho biết, lời đề nghị ban cấp tư cách tị nạn của Lopez Obrador đã gửi một thông điệp rằng Mễ Tây Cơ sẽ theo đuổi một chính sách đối ngoại độc lập dưới thời chính phủ tiếp theo của Mỹ.


Source:Reuters
 

Liên Hệ: Contact Us: bbt@vietcatholicint.com
© 2022 - VietCatholic News - Designed by J.B. Đặng Minh An