Ngày 29-04-2026
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Ngày 30/04: Đức Giêsu Người phòng bị đại tài - Lm Antôn Nguyễn Thế Nhân SSS
Giáo Hội Năm Châu
02:33 29/04/2026


Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Sau khi đã rửa chân các môn đệ, Chúa Giêsu phán với các ông: "Thật, Thầy bảo thật các con: Tôi tớ không trọng hơn chủ, kẻ được sai không trọng hơn đấng đã sai mình. Nếu các con biết điều đó mà thực hành thì có phúc. Thầy không nói về tất cả các con, vì Thầy biết những kẻ Thầy đã chọn, nhưng lời Thánh Kinh sau đây phải được ứng nghiệm: Chính kẻ ăn bánh của Ta sẽ giơ gót lên đạp Ta. Thầy nói điều đó với các con ngay từ bây giờ, trước khi sự việc xảy đến, để một khi xảy đến, các con tin rằng: Thầy là ai. Thật, Thầy bảo thật các con: Ai đón nhận kẻ Thầy sai, là đón nhận Thầy, và ai đón nhận Thầy là đón nhận Đấng đã sai Thầy".

Đó là lời Chúa.
 
Lao Động – Ơn Gọi Thánh Hóa Con Người Và Thế Giới
Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
16:04 29/04/2026
Lao Động – Ơn Gọi Thánh Hóa Con Người Và Thế Giới

SUY NIỆM LỄ THÁNH GIUSE LAO ĐỘNG

(Ga 20, 19-31)

Hôm nay mùng 01 tháng 5, Phụng vụ Lời Chúa trong Lễ Thánh Giu-se Thợ, khi trùng với Ngày Quốc tế Lao động, giúp chúng ta ý thức được: Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo, con người được dựng nên để “canh tác và gìn giữ” trái đất và phẩm giá cao quý của lao động. Lao động không chỉ là phương tiện kiếm sống, mà là ơn gọi phát xuất từ chính Thiên Chúa, dù chân tay hay trí óc, kể cả trong kỷ nguyên công nghệ và máy móc, đều phải nhằm phục vụ sự sống và phẩm giá con người.

Thiên Chúa sáng tạo

Đoạn Sách Sáng Thế (St 1,26 – 2,3) mở ra một chân lý nền tảng: con người được dựng nên “theo hình ảnh Thiên Chúa” và được trao trách nhiệm “làm chủ cá biển, chim trời, dã thú khắp mặt đất, và tất cả loài bò sát di chuyển trên mặt đất” (St 1,26). Nhưng “làm chủ” ở đây không phải là thống trị theo nghĩa khai thác vô độ, mà là cộng tác với Thiên Chúa trong công trình sáng tạo, quản lý khôn ngoan và có trách nhiệm với tình yêu thương. Như thế, con người được tạo dựng giống hình ảnh Chúa, không những giống trong tư tưởng và lòng yêu thương, mà còn giống trong sự sáng tạo nữa. Lao động là một phần trong tình trạng nguyên thủy của con người và đã có trước khi con người phạm tội.

Khi đặt đoạn Lời Chúa trên trong ánh sáng của Lễ Thánh Giu-se Thợ và Ngày Quốc tế Lao động, ta thấy lao động mang một phẩm giá rất cao quý. Lao động là yếu tố nến tảng đối với phẩm giá của một người. Lao động làm cho chúng ta giống Thiên Chúa (x. Ga 5,17). Lao động trao ban cho chúng ta khả năng nuôi sống bản thân, gia đình, góp phần vào việc phát triển quốc gia mình.

Chúa Giê-su, con người lao động

Đoạn Tin Mừng Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu (Mt 13,54-58) nói đến thân phận của Chúa Giê-su “con bác thợ mộc”. Chính lời nói tưởng như hạ thấp ấy lại ẩn chứa một mạc khải sâu xa về phẩm giá lao động. Con Thiên Chúa đã chọn lớn lên trong gia đình của Thánh Giu-se, sống đời lao động âm thầm. Điều đó nói rằng: không có công việc chân chính nào là tầm thường; chính Thiên Chúa đã thánh hóa lao động của con người. Lao động không phải là hình phạt hay một lời chúc dữ. Lao động chỉ trở nên vất vả và cực nhọc khi con người (Adam và Eva) phạm tội phá vỡ tình thân nghĩa thiết với Thiên Chúa, với vũ trụ vạn vật và với nhau.

Thánh Giu-se, người cha lao động

Tông thư Patris Corde, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã nên bật Thánh Giu-se là người lao động. Với nghề thợ mộc, ngài làm việc lương thiện để nuối sống gia đình. Nơi thánh Giu-se, Chúa Giê-su đã học được giá trị, phẩm giá và niềm vui của việc ăn miếng bánh là thành quả lao động của chính mình.

Thánh Giu-se là mẫu gương sống động cho người lao động. Ngài làm việc âm thầm, trung thực, không tìm lợi ích bất chính, và đặt mọi sự dưới thánh ý Chúa. Lao động của ngài không phá hủy nhưng nuôi dưỡng; không chiếm đoạt nhưng phục vụ. Đây chính là định hướng cho người lao động hôm nay: dùng tài năng để bảo vệ sự sống, chăm sóc con người và gìn giữ thiên nhiên như rừng xanh, biển cả, và môi trường sống chung.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy con người nhiều khi lạm dụng, cũng lao động nhưng bất chính, dùng trí tuệ để sản xuất thuốc giả, thực phẩm bẩn, hàng hóa gian dối; khi buôn lậu, tham nhũng, hối lộ trở thành con đường làm giàu; khi thay vì phát triển y học để cứu người lại lao vào chạy đua vũ trang để hủy diệt thì đó không còn là lao động theo thánh ý Chúa. Nhưng là sự phản bội lại phẩm giá con người và xúc phạm đến công trình tạo dựng mà Thiên Chúa đã gọi là “rất tốt đẹp”.

Những hành vi ấy không chỉ gây tổn hại kinh tế mà còn giết chết niềm tin, phá hoại môi trường và đe dọa sự sống. Rừng bị tàn phá vì lợi nhuận ngắn hạn, biển bị đầu độc bởi chất thải công nghiệp, và con người trở thành nạn nhân của chính lòng tham. Lao động khi bị tách khỏi lương tâm và Thiên Chúa sẽ biến thành công cụ của hủy diệt.

Ngược lại, lao động theo tinh thần của Thánh Giu-se là lao động có đạo đức: trung thực trong sản xuất, công bằng trong kinh doanh, và trách nhiệm với xã hội. Chọn tạo ra thuốc chữa bệnh thay vì hàng giả, bảo vệ môi trường thay vì khai thác cạn kiệt, chọn xây dựng hòa bình thay vì nuôi dưỡng chiến tranh.

Ngày Quốc tế Lao động, Tin Mừng này trở thành lời nhắc nhở mạnh mẽ về phẩm giá người lao động. Hiến chế Gaudium et Spes số 35 dạy rằng: “Con người, nhờ lao động, không những biến đổi thế giới mà còn hoàn thiện chính mình”. Lao động không chỉ tạo ra của cải, mà còn là con đường giúp con người sống đúng ơn gọi làm con Thiên Chúa.

Các Giáo phụ cũng đã nhìn thấy chiều kích thiêng liêng ấy. Thánh Gio-an Kim Khẩu từng nói: “Không có gì đáng xấu hổ trong lao động, chỉ có lười biếng mới đáng xấu hổ”. Còn Thánh Au-gút-ti-nô nhắc rằng: “Hãy yêu mến, rồi làm điều bạn muốn”, nghĩa là mọi hành động, kể cả lao động, phải bắt nguồn từ tình yêu và hướng về điều thiện hảo.

Ngày thứ bảy Thiên Chúa nghỉ ngơi nhắc ta rằng mọi lao động phải quy hướng về Ngài. Khi con người biết làm việc với lương tâm ngay thẳng và trái tim kính sợ Thiên Chúa, thì công việc hằng ngày dù nhỏ bé cũng trở thành lời chứng cho sự thật, sự sống và tình yêu giữa thế giới hôm nay.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
 
Giữa một thế giới đầy xao xuyến, hãy vững tin vào Chúa
Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
16:06 29/04/2026
Giữa một thế giới đầy xao xuyến, hãy vững tin vào Chúa

SUY NIỆM CHÚA NHẬT V PHỤC SINH NĂM – A

(Ga 14, 1-12)

Thế giới chúng ta đang sống đầy bất ổn và lo âu. Tại một số nơi, bom không ngừng rơi, mạng sống con người luôn bị rình rập, khiến lòng người xao xuyến, đức tin bị thử thách. Giống như các môn đệ, chúng ta thấy đức tin của mình bị lung lay, vì chẳng những cá nhân mình mà cả thế giới đều đang lo sợ: lo cho bản thân, lo cho gia đình và người thân; sợ loạn lạc, đói khổ, và cả cái chết.

Lòng người xao xuyến giữa những bất ổn của thời đại

Lời Chúa Giê-su nói: “Lòng các con đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (Ga 14,1). Đây không phải là một lời an ủi chung chung, nhưng là lời được thốt ra trong bối cảnh chia ly, khi các môn đệ đang hoang mang và sợ hãi trước viễn cảnh mất Thầy. Cũng như chúng ta hôm nay, khi thế giới đầy bất ổn: chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, và cả sự thay đổi khó lường của lòng người; thật, giả lẫn lộn. Nỗi lo âu dường như trở thành một phần của đời sống thường nhật.

Vững tin vào Chúa

Nhưng Chúa Giê-su không chỉ bảo: “Đừng xao xuyến”, Người còn chỉ ra việc làm cụ thể là: “Hãy tin”. Lời Chúa Giê-su thức tỉnh niềm tin của cả nhân loại và trấn an thế giới, giúp chúng ta bớt sợ hãi, an tâm, tin tưởng, phó thác và cậy trông vào Chúa. Tin không phải là trốn tránh thực tại, nhưng là bám chặt vào một Đấng vững chắc hơn mọi thực tại mong manh. Và Đấng đó chính là Đức Ki-tô.

Trong bài đọc I (Cv 6,1-7), chúng ta thấy Hội Thánh sơ khai cũng đối diện với khủng hoảng: sự bất mãn, chia rẽ giữa các nhóm tín hữu. Các Tông Đồ không phủ nhận vấn đề, nhưng tìm cách giải quyết trong ánh sáng Thánh Thần. Họ thiết lập các phó tế để phục vụ, để Lời Chúa tiếp tục được loan báo. Điều này cho thấy: đức tin không làm chúng ta thoát khỏi khó khăn, nhưng giúp chúng ta sống và vượt qua khó khăn một cách đúng đắn.

Thánh Phê-rô trong bài đọc II nhắc nhở: “Anh em hãy đến cùng Chúa, là viên đá sống động… và anh em cũng như những viên đá sống động, hãy để Thiên Chúa xây dựng thành ngôi đền thiêng liêng” (1 Pr 2,4-5).

Hình ảnh này thật đẹp: mỗi người tín hữu là một viên đá, nhưng không đứng riêng lẻ. Chỉ khi gắn kết với Đức Ki-tô là Đá góc tường, chúng ta mới đứng vững. Trong một thế giới mà các mối tương quan dễ đổ vỡ, con người dễ cô lập, lời mời gọi này càng trở nên cấp thiết: hãy xây dựng đời mình trên nền tảng vững chắc là Đức Ki-tô.

Đức Ki-tô là Đường – Sự Thật – Sự Sống

Đỉnh cao của Lời Chúa hôm nay là Tin Mừng: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6). Đây không chỉ là một câu nói đẹp, mà là một tuyên bố mang tính quyết định cho đời sống đức tin.

Trước hết, “Thầy là đường”. Trong một thế giới đầy những ngã rẽ, con người dễ lạc hướng bởi quá nhiều lựa chọn. Chúa Giê-su không chỉ chỉ đường, nhưng Người chính là đường. Nghĩa là, sống theo Chúa, gắn bó với Chúa, là ta đang đi đúng hướng.

Thứ đến, “Thầy là sự thật”. Trong thời đại có nhiều tin giả, giá trị bị đảo lộn, sự thật nhiều khi bị bóp méo theo lợi ích cá nhân. Nơi Đức Kitô, chúng ta gặp được sự thật không thay đổi: sự thật về Thiên Chúa là Cha yêu thương, và về con người là thụ tạo được mời gọi sống trong tình yêu. Đức cố Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI đã từng nói: “Sự thật không phải là một ý tưởng, nhưng là một con người: Đức Giê-su Ki-tô.” Gặp gỡ Người là gặp gỡ sự thật giải thoát.

Sau cùng, “Thầy là sự sống”. Con người hôm nay sợ: mất an toàn, mất tương lai, thậm chí mất mạng vì chiến tranh và thiên tai. Nhưng Chúa Giê-su khẳng định: sự sống đích thực không bị giới hạn bởi cái chết thể lý. Ai gắn bó với Chúa thì được tham dự vào sự sống vĩnh cửu. Trong Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng (Evangelii Gaudium, số 1) Đức cố Giáo Hoàng Phan-xi-cô nhắc nhở: “Niềm vui Tin Mừng tràn ngập tâm hồn và đời sống của những ai gặp gỡ Đức Giê-su.” Chính niềm vui này là dấu chỉ của sự sống Chúa ban.

Chúa hứa: “Ai tin vào Thầy… sẽ làm những việc Thầy đã làm, và còn làm những việc lớn lao hơn” (Ga 14,12). Điều này không có nghĩa là chúng ta vượt qua Chúa, nhưng là nhờ sức mạnh của Chúa, Hội Thánh được sai đi để tiếp tục sứ mạng của Người trong thế giới.

Vậy, giữa những lo âu của cuộc đời. Đức tin giúp ta không chìm trong sợ hãi. Khi đối diện với chiến tranh hay biến đổi khí hậu, người Ki-tô hữu không bi quan, nhưng vẫn hy vọng, vì biết rằng Thiên Chúa đang làm chủ lịch sử.

Thứ đến, hãy xây dựng đời mình trên Đức Ki-tô. Đừng đặt nền tảng cuộc đời trên tiền bạc, quyền lực hay những bảo đảm tạm bợ. Chỉ có Đức Ki-tô là nền tảng không lay chuyển.

Chúa không hứa cho chúng ta một cuộc sống dễ dàng, nhưng trao cho chúng ta một Đấng để tin cậy. Khi lòng người dễ thay đổi, người Ki-tô hữu được mời gọi sống trung tín, yêu thương và chân thành. Giữa một thế giới xao xuyến, chúng ta được mời gọi bước đi trong bình an, vì biết rằng chúng ta đang đi trên chính con đường là Đức Ki-tô.

Xin cho mỗi người chúng ta, giữa những bất an của thời đại, luôn nghe được lời Chúa: “Lòng các con đừng xao xuyến”, và can đảm đáp lại bằng một niềm tin vững vàng và một đời sống chứng tá sống động.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
 
MẶC KHẢI TRONG PHẢN BỘI
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
16:07 29/04/2026
MẶC KHẢI TRONG PHẢN BỘI

“Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con!”.

Không phản bội nào đau hơn phản bội từ người thân. Caesar đã nếm điều đó; khi thấy Brutus với con dao trong tay, ông buông mình thốt lên: “Cả ngươi nữa, Brutus, con ta?”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Cả ngươi nữa, Brutus, con ta?”. Lời Chúa hôm nay đặt chúng ta trước một vết thương tương tự; nhưng chính nơi phản bội, điều tưởng như khép lại lại trở thành nơi Thiên Chúa mở ra - ‘mặc khải trong phản bội’.

Trong Tin Mừng Gioan, phản bội không chỉ là một biến cố luân lý, nhưng mang chiều kích mặc khải. Chúa Giêsu biết trước, nói trước, và đọc biến cố ấy dưới ánh sáng Kinh Thánh: “Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con”. Như thế, phản bội không vượt khỏi tầm tay Thiên Chúa; không phá vỡ kế hoạch cứu độ, nhưng làm lộ ra một điều ẩn khuất: Đấng bị phản bội vẫn làm chủ, vẫn yêu đến cùng; Ngài biến bóng tối thành nơi mặc khải. “Trong thập giá Đức Kitô, không những ơn cứu độ được thực hiện qua đau khổ, mà chính đau khổ của con người cũng được cứu chuộc!” - Gioan Phaolô II.

Chịu phản bội, nhưng Chúa Giêsu không để biến cố ấy làm sụp đổ đức tin; trái lại, nó trở thành nơi các môn đệ nhận ra Ngài. Vì thế, với Ngài, phản bội không còn là một tai nạn, nhưng được đặt vào trong một chuyển động khác, nơi điều tưởng như phá vỡ lại trở thành chỗ dựa cho đức tin. Khi điều đó xảy ra, người môn đệ không còn dựa vào sự trung tín của con người, nhưng vào Đấng vẫn yêu không rút lại. Đó là ‘mặc khải trong phản bội’.

Phaolô cũng rao giảng một Thiên Chúa trung tín giữa những phản bội của con người: Ngài kiên nhẫn chịu đựng Israel; vẫn giữ lời hứa với Đavít, “Từ dòng dõi vua này, theo lời hứa, Thiên Chúa đã đưa đến cho Israel một Đấng Cứu Độ là Đức Giêsu!” - bài đọc một. Vì thế, điều quyết định không còn là sự trung tín mong manh của con người, nhưng là sự trung tín không lay chuyển của Thiên Chúa. “Lạy Chúa, tình thương Chúa, đời đời con ca tụng!” - Thánh Vịnh đáp ca.

Phản bội không xa lạ; không nhất thiết là một biến cố lớn, nhưng âm thầm trong những chọn lựa nhỏ, nơi con người dễ thoả hiệp, dễ đánh mất sự trung tín đã từng có. Và chính ở đó, điều mong manh lộ ra; đức tin của chúng ta dễ sụp đổ khi chỉ dựa vào con người, thay vì vào một Đấng không đổi thay, nhưng yêu đến cùng. “Đừng đặt niềm tin nơi con người hay bất cứ thụ tạo nào, nhưng chỉ nơi một mình Thiên Chúa!” - Thomas à Kempis.

Anh Chị em,

Trung tín là của Thiên Chúa, còn bất tín xem ra là của con người. Đức Kitô không chỉ đi qua phản bội, nhưng mang lấy nó; và chính khi bị trao nộp, Ngài lại trao ban chính mình. Ở đó, điều tưởng như đổ vỡ không còn là tận cùng, nhưng trở thành nơi tình yêu không còn giữ lại; không dừng trước bóng tối, nhưng mở ra một sự sống khác. Vì thế, theo Ngài không còn là tránh né phản bội, nhưng là ở lại trong tình yêu ấy; và hừng đông phục sinh ló rạng.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con dễ phản bội hơn con nghĩ, xin giữ con trong tình yêu của Ngài; khi con yếu lòng, xin đừng để con rời xa, nhưng kéo con ở lại đến cùng!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 
Mỗi Ngày Một Câu Danh Ngôn Của Các Thánh
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. ·
23:57 29/04/2026

10. Khi con làm việc thiện thì không được kiêu ngạo, bởi vì sự phán đoán của Thiên Chúa thì không giống sự phán đoán của con người, rất nhiều lần con người thích thú thì Thiên Chúa lại chán ghét.

(sách Gương Chúa Giê-su)

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

(Trích dịch từ tiếng Hoa trong "Cách ngôn thần học tu đức")


---------

http://www.vietcatholic.net

https://www.facebook.com/jmtaiby

http://www.nhantai.info
 
Mỗi Ngày Một Câu Chuyện
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. ·
23:59 29/04/2026
14. TRONG BỤNG ĐẦY TIỀN

Thời của Tống Thái Tông, Vương Tiểu Ba ở Thanh Châu tạo phản, giết chết Từ Nguyên Chấn là huyện lịnh huyện Bành Sơn, mổ bụng ông ta bỏ tiền vào cho đầy, bởi vì căm ghét ông ta là người rất tham lam keo kiệt.

(Quách Đàm Trợ)

Suy tư 14:

Có những người giàu có chơi ngông trên sự thèm khát của người nghèo: họ cho con chó của họ ăn từng tô thịt bò trước mâm cơm dĩa rau của người giúp việc; họ “đốt” hàng triệu đồng chỉ một chai bia trước mặt người ăn xin nghèo khó.v.v... mất nước, mất nhà, mất vợ con, mất danh giá cũng vì thói chơi ngông vô đạo đức ấy.

Không phải vô cớ mà lòng thù hận của người nghèo bộc phát, đó là vì những người khi gặp thời vận thì kiêu ngạo coi trời bằng vung, coi người nghèo như rác rưởi, chính những việc làm ấy đã làm cho lòng căm thù của người khác nổi lên.

Người Ki-tô hữu phải sống như thế nào, để khi sa cơ thất thế thì vẫn còn có người yêu mến? Thưa, đó chính là: trước hết, trong bụng phải có đức ái, chứ không phải có nhiều tiền, và tiếp theo là thực hành đức ái trong cuộc sống với tất cả sự tôn trọng người khác.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư)


----------

http://www.vietcatholic.net

https://www.facebook.com/jmtaiby

http://www.nhantai.info
 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Thomas Colsy: Anh Giáo đang lầm lạc.
J.B. Đặng Minh An dịch
00:52 29/04/2026

Thomas Colsy là một nhà báo Công Giáo sống tại Anh. Sau khi tốt nghiệp Đại học Durham, ông đã làm việc ba năm trong ban biên tập của tờ Catholic Herald, ấn phẩm Công Giáo lớn nhất Vương quốc Anh. Ông vẫn tiếp tục viết bài cho tờ Herald, đồng thời cộng tác với LifeSiteNews, Catholic Family News và Gregorius Magnus. Các bài viết của ông cũng được đăng trên UnHerd, Spiked và Irish Catholic Newspaper.

Ông vừa có bài viết nhan đề “The Church of England is confused”, nghĩa là “Anh Giáo đang lầm lạc” nhân chuyến viếng thăm Tòa Thánh của nữ Tổng Giám Mục Sarah Mullally.

Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.

Anh Giáo đang trong tình trạng hỗn loạn. Thực tế, tình trạng này đã kéo dài kể từ Đạo luật Tối cao và việc Vua Henry VIII loại bỏ các lời cầu nguyện cho Giáo hoàng khỏi Thánh lễ (vào thời điểm đó, Thánh lễ vẫn giữ nguyên tính chất bí tích và được cử hành bằng tiếng Latinh). Vốn dĩ là một thực thể khá phù du, Anh Giáo đã vật lộn trong một cuộc khủng hoảng bản sắc triền miên.

Đôi khi, Anh Giáo đã sản sinh ra những người đàn ông và phụ nữ đức hạnh, có lòng mộ đạo chân thành – thậm chí cả những bài thơ và bản nhạc tuyệt đẹp cố gắng thể hiện lòng tôn kính và thờ phượng chân thành đối với Chúa Giêsu Kitô. Tuy nhiên, với việc bổ nhiệm nữ y tá Sarah Mullally vào vị trí Giám mục Canterbury, có lẽ dấu hiệu rõ ràng nhất cuối cùng đã xuất hiện, cho thấy với tất cả những ai chịu khó suy ngẫm rằng thể chế này về cơ bản đã bị tách rời khỏi di sản tông đồ sống động của thế giới Kitô giáo xưa, rằng các thể chế của Anh đã tự tách mình khỏi quá khứ, và rằng chúng ta đang bị chi phối bởi sự nhầm lẫn giới tính ngày càng nguy hiểm.

Bà Mullally hiện đang nắm giữ một vị trí có ý nghĩa biểu tượng quan trọng không kém gì tầm ảnh hưởng về mặt thể chế. Do đó, việc bà lên ngôi không chỉ đơn thuần là việc phá vỡ một rào cản vô hình nào đó hay câu chuyện cảm động về một cựu y tá vươn lên chức vụ cao trong giáo hội. Thay vào đó, nó đặt ra câu hỏi, và có khả năng khép lại, một chương tương đối dài trong lịch sử Kitô giáo Anh: đó là cuộc tranh luận xoay quanh việc ai thực sự là người thừa kế đích thực của quá khứ, tổ tiên và nền tảng tôn giáo của chúng ta.

Để hiểu tại sao việc bổ nhiệm bà lại quan trọng, người ta phải bắt đầu với sự thật lịch sử đơn giản rằng Anh Giáo không sinh ra đã là Anh giáo. Nó sinh ra rõ ràng và dễ nhận biết là Công Giáo. Đức tin mà Thánh Augustinô thành Canterbury mang đến từ tu viện San Gregorio al Cielo ở Rôma (nơi năm vị Tổng Giám Mục đầu tiên của Canterbury và Đức Tổng Giám Mục đầu tiên của York từng là tu sĩ), theo lệnh của Giáo hoàng Thánh Grêgôriô Cả, mang bốn dấu ấn truyền thống và nhiều điều mà sau này những người Anh giáo sẽ bác bỏ: việc cầu khẩn các thánh, sự hiểu biết về Thánh lễ mang tính tế lễ và hy sinh, cầu nguyện cho người chết, đời sống tu viện và quyền uy của Thánh Phêrô.

Khi Thánh Augustinô đến Kent vào năm 597, ngài không thành lập một Giáo hội quốc gia được điều hành bởi sở thích địa phương. Ngược lại, tổ chức mà ngài thành lập đã thiết lập một biểu hiện địa phương của một tổ chức toàn cầu có thẩm quyền vượt ra ngoài các vị vua và hội đồng. Điều tương tự cũng đúng với tôn giáo mà ngài giới thiệu. Chức tư tế mà ngài mang đến – không ngoại lệ, đều là nam giới – là một quyền thừa kế cố định, chứ không phải là một chức vụ linh hoạt tùy thuộc vào sự thương lượng văn hóa.

Di sản đó đã tồn tại gần một ngàn năm mà không gặp phải thách thức nghiêm trọng nào đối với hình thức cơ bản của nó. Nó đã vượt qua các cuộc xâm lược của người Viking, các cuộc chiến tranh triều đại và những biến động xã hội. Nó tồn tại bởi vì cả những người cai trị và giáo sĩ Anh đều hiểu rằng Giáo hội không phải là thứ họ có thể tùy ý thiết kế lại. Di sản đó sẽ mang lại cho quốc gia họ sự tiếp nối tông đồ và phước lành thiêng liêng miễn là họ tôn trọng và gìn giữ nó.

Giáo hội Celtic bản địa tồn tại ở Ireland, Iona, Scotland và Northumbria – mà nhiều người Anh giáo thích viện dẫn như những tiền thân của họ để biện minh cho sự ly khai với Rôma – cũng không phải là một tổ chức tiền Anh giáo đang chờ đợi để thoát khỏi sự kiểm soát của Rôma. Do vô tình bị tách rời khỏi lục địa vì thiếu liên lạc, họ trở nên biệt lập. Họ hoạt động độc lập khỏi quyền lực của Thánh Phêrô, giống như người Maronite ở Li Băng đã làm trong vài thế kỷ thời Trung cổ, một cách ngẫu nhiên chứ không phải do hành động tách biệt và từ chối có chủ đích.

Quan niệm sai lầm hiện đại cho rằng những người này là những người tiên phong của đạo Tin Lành sụp đổ khi xem xét kỹ lưỡng. Các tu sĩ ở Iona và Lindisfarne khác với Rôma ở một số phong tục, nhưng không khác nhau về chức tư tế, các bí tích và chắc chắn không khác nhau về giới tính của giám mục. Khi liên lạc với lục địa được thiết lập lại và các tranh chấp nảy sinh – nổi tiếng nhất là về việc xác định ngày lễ Phục Sinh – họ đã tuân phục hội đồng và chính quyền. Công đồng Whitby đã giải quyết vấn đề vì tính liên tục quan trọng hơn tính độc lập. Hơn nữa, nếu các tín hữu Kitô giáo Celtic thực sự bảo vệ một mầm mống Tin Lành đang ngủ yên, thì những nhà sử học theo chủ nghĩa xét lại đầy ảo tưởng này có bao giờ thấy kỳ lạ rằng chính căn cứ và mảnh đất màu mỡ của nhánh Celtic, Ireland, cùng với miền Bắc nước Anh, lại kiên quyết bác bỏ cuộc Cải cách thay vì đón nhận nó?

Hơn nữa, các vị vua xây dựng nước Anh hiểu một cách bản năng nhu cầu về sự tiếp nối. Alfred Đại đế, đối mặt với sự hủy diệt văn hóa dưới tay người Đan Mạch, đã không cố gắng hiện đại hóa Kitô giáo hay dân chủ hóa hàng giáo sĩ. Ngài đã khôi phục các tu viện, dịch các văn bản Kitô giáo cổ và nhấn mạnh tính kỷ luật trong giới linh mục. Chương trình đổi mới của ngài dựa trên sự phục hồi hơn là sự đổi mới – hướng đến sự vĩ đại của Rôma (sống theo lý tưởng hơn là thay đổi chúng và gọi đó là tiến bộ, như Chesterton đã nói). Ngài tin rằng nền văn minh phụ thuộc vào sự trung thành với những gì đã được truyền lại.

Trong lời tựa cho bản dịch tác phẩm “Chăm sóc mục vụ” của Thánh Grêgôriô Cả, Alfred Đại đế đã thể hiện khá rõ ràng tư tưởng này: “Tổ tiên chúng ta, những người từng nắm giữ những vị trí này, yêu mến sự khôn ngoan, và nhờ đó họ đã đạt được sự giàu có và để lại cho chúng ta. Trong điều này, chúng ta vẫn có thể thấy dấu vết của họ, nhưng chúng ta không thể noi theo họ, và vì vậy chúng ta đã đánh mất cả sự giàu có lẫn sự khôn ngoan, bởi vì chúng ta không chịu hướng lòng mình theo gương của họ.”

Vào thời Alfred Đại đế, một lần nữa, tất cả các giáo sĩ Anh chắc chắn đều theo chủ nghĩa bí tích. Tất cả đều là nam giới. Tất cả đều sống theo một tôn giáo trong đó việc cầu khẩn các vị thánh được đề cao và quyền tối cao của Giáo hoàng được thừa nhận. Sau chiến thắng quyết định tại Edington, Alfred Đại đế đã chấm dứt tục lệ lâu đời trả tiền cho những tên cướp biển man rợ khủng bố đất nước mình – gọi là Danegeld. Đây là Alfred Đại đế, chính người đã hành hương đến Rôma, nơi ông được Đức Giáo Hoàng Lêô IV ban phước và xác nhận. Alfred Đại đế, người cha của nước Anh. Ông sẽ nghĩ gì về Mullally? Một người phụ nữ, giả danh giám mục, tìm cách trả hàng triệu đô la tiền “bồi thường” cho các dân tộc nước ngoài vì những “tội ác” mà người ta nghi ngờ liệu những người trong các cơ sở của bà ta có thực sự phạm phải hay không, trong khi đang ly khai với Đức Thánh Cha ở Rôma. Người Anh nên suy ngẫm và tự hỏi mình điều này.

Một thế hệ sau, Athelstan – vị vua đầu tiên cai trị toàn bộ nước Anh – đã bao quanh mình bằng các giám mục và tu viện trưởng, những người có quyền lực bắt nguồn từ sự kế thừa tông đồ, chứ không phải từ trào lưu chính trị. Là một vị vua chiến binh đầy sức hút, cháu trai chiến thắng của Alfred Đại đế đã tôn trọng những giáo lý Kitô giáo cổ xưa khắc nghiệt về việc phân chia giới tính bằng kỷ luật và sống độc thân suốt đời – điều này khiến các học giả sau này suy đoán (một cách không công bằng và quá nhàm chán) liệu ông có phải là người đồng tính hay không. Dù là người đồng tính hay không, việc ông có nuốt kiếm nhiều như chiến đấu bằng kiếm hay không hiện tại không quan trọng; người ta biết rằng các giáo sĩ của ông – một lần nữa, không có ngoại lệ – đều là nam giới. Thánh lễ mà ông tham dự về cơ bản giống với Thánh lễ Latinh, được cử hành bởi một người có thẩm quyền tông đồ, mà những người Công Giáo truyền thống tham dự ngày nay. Các hiến chương, luật lệ và công đồng của ông cho thấy một xã hội hiểu tôn giáo là nền tảng thiêng liêng, bất khả xâm phạm của đời sống công cộng. Họ cai trị như những vị hoàng tử Kitô giáo bởi vì họ tin rằng Giáo hội thể hiện một trật tự kế thừa lâu đời hơn chính họ. Nước Anh vào thế kỷ thứ 10 khó có thể được coi là một xã hội đang thử nghiệm sự bình đẳng tôn giáo. Toàn bộ trật tự văn minh của nước này đều tin rằng hệ thống thứ bậc là một phần của cấu trúc hiện thực.

Niềm tin đó vẫn tồn tại đến tận cuối thời Trung cổ. Người ta chỉ cần xem xét sự nghiệp của Reginald Pole, vị Tổng Giám Mục Công Giáo cuối cùng của Canterbury trước khi xảy ra sự chia rẽ dưới thời Elizabeth. Pole là một học giả thời Phục hưng, một nhà ngoại giao và một nhà cải cách. Tuy nhiên, ông chưa bao giờ tưởng tượng rằng cải cách lại có nghĩa là thay đổi bản chất của chức tư tế hay cấu trúc quyền lực. Mẹ ông, Margaret Pole, thà chết chứ không chấp nhận tuyên bố về quyền tối cao về mặt tinh thần của nhà vua. Sự tử đạo của bà và việc ông bị lưu đày cũng không phải là những chi tiết nhỏ nhặt về nghi lễ. Thay vào đó, chúng được dẫn dắt bởi nguyên tắc đơn giản rằng Giáo hội không phải là một thực thể của nhà nước và hiến pháp của nó không thể được viết lại tùy ý. Nếu họ sẵn sàng gọi Henry VIII là kẻ dị giáo (người tin vào hầu hết các giáo lý mà người Công Giáo ngày nay cho là cấm quyền lực của Giáo hoàng), thì họ sẽ nghĩ gì về Mullally?

Đây là điểm mà các nhà bình luận hiện đại thường né tránh. Anh Giáo trước thời Cải cách không phải là Anh giáo theo bất kỳ nghĩa nào có thể nhận biết được. Giáo hội này không tin rằng giáo lý có thể bị thay đổi bằng bỏ phiếu lập pháp. Giáo hội này không coi các giám mục là những nhà quản lý được lựa chọn để phản ánh sự tiến bộ xã hội. Và Giáo hội này không hề – ở bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử lâu dài của mình – xem xét việc phong chức linh mục cho phụ nữ.

Sự thật cuối cùng đó thực sự là mấu chốt của vấn đề. Lời răn dạy của Thánh Phaolô trong Kinh Thánh khá rõ ràng và không mơ hồ: ngài không cho phép phụ nữ giảng dạy trong Giáo hội. Hơn nữa, các giáo phái Tin Lành chính thống và truyền thống thường tự hào về việc bác bỏ những truyền thống bất hợp pháp và quay trở lại sự thuần khiết của Kitô giáo cổ đại. Thực tế vẫn là mặc dù có bằng chứng mơ hồ về các nữ phó tế (thực chất là những người quản lý nhà thờ được tôn vinh), nhưng không có giáo phái Kitô giáo cổ đại nào – cả người Ethiopia, người Ấn Độ hay người Nestorian phương Đông – phong chức linh mục cho phụ nữ. Đây là một sự đổi mới. Một sự đổi mới trắng trợn, mà những lý lẽ biện minh dường như dựa trên những tình cảm giải phóng, phê phán giới tính và bình đẳng mơ hồ của thời đại, chắc chắn hơn là lòng trung thành với Kinh Thánh hay những gì đã được truyền lại.

Việc bổ nhiệm Mullally rất đáng chú ý, vì nó đánh dấu một bước ngoặt quyết định. Đó là một sự đứt gãy rõ rệt trong lịch sử nước Anh trên ba phương diện: sự rạn nứt trong sự hài hòa giữa người Anh và quá khứ của họ; giữa người Kitô giáo và cội nguồn tông đồ sống động của họ; và giữa nam giới và phụ nữ trong một trật tự xã hội bổ sung cho nhau.

Điều chúng ta thấy trong Anh Giáo là một sự lệch lạc: một nỗ lực thoát khỏi sự hiểu biết hài hòa, bổ sung lẫn nhau về giới tính và tình dục đã được thiết lập – sự chuyển đổi từ các thể chế với vai trò người gìn giữ trật tự và bổn phận cổ xưa sang sự tự định nghĩa. Tôi hy vọng vào sự tái khẳng định của tự nhiên và sự khôn ngoan, vẻ đẹp của lịch sử. Có vẻ như Mullally lại hoàn toàn trái ngược với những gì thời đại chuyển giới và siêu nhân của chúng ta cần, dù bà ấy có vẻ là một người phụ nữ dễ mến và có thiện chí đến đâu đi chăng nữa.

Để minh họa điều này, tôi muốn đưa ra một sự so sánh và kể lại câu chuyện về hai người phụ nữ. Vươn lên tầm cỡ quốc tế cách nhau khoảng một thế kỷ, một người đưa ra giải pháp cho những sự nhầm lẫn và bệnh lý về tư tưởng (đặc biệt là xung quanh vấn đề giới tính) của thời hiện đại, trong khi người kia lại giống như sự đầu hàng hoàn toàn trước những điều đó.

Nhà văn kiêm sử gia Sigrid Undset đã được trao giải Nobel Văn học năm 1928. Là người Na Uy gốc Đan Mạch, cải đạo từ Tin Lành sang Công Giáo, con đường tâm linh của bà bị chỉ trích gay gắt và bị coi là phản bội và lạc hậu trong bối cảnh văn hóa Scandinavia đương thời. Là người bênh vực phụ nữ và phê bình chủ nghĩa nữ quyền, bà đi ngược lại xu hướng và có tài năng đặc biệt trong việc giúp độc giả hiện đại nhận thấy giá trị của thế giới trung cổ, nhưng không hề ủy mị. Bà ngưỡng mộ tính kỷ luật của thời kỳ đó nhưng không lãng mạn hóa nó; bà công nhận sức mạnh của phụ nữ mà không cho rằng họ nắm giữ (hoặc phù hợp để nắm giữ) những vị trí ngang bằng với nam giới.

Tác phẩm nổi tiếng nhất của bà, Kristin Lavransdatter, khắc họa một nhân vật chính đáng chú ý nhưng cũng khá bình thường. Cô ấy có những khuyết điểm, tâm lý phức tạp và tài năng. Undset tin rằng sự kết hợp của những mâu thuẫn này là có thể xảy ra, thậm chí là phổ biến, ở cả nam và nữ. Bà bác bỏ và không tin vào quan điểm cho rằng lịch sử, với những phân biệt đồng thời về vai trò của nam và nữ, đã từng áp bức bất kỳ giới tính nào. Undset thẳng thắn cho thấy Kristin đã quản lý trang trại và điền trang ở Husaby tốt hơn chồng mình, người có tài năng ở những khía cạnh khác – những phẩm chất như sức hút cá nhân vượt trội, sự táo bạo và tấm lòng rộng mở: những lý do khiến cô yêu anh ngay từ đầu và cũng là lý do khiến cô oán giận anh. Undset hiểu rằng vấn đề không phải là phụ nữ không đủ năng lực về mặt lý thuyết đối với bất kỳ công việc nào của nam giới, mà là liệu họ có phù hợp nhất với công việc đó trong bối cảnh rộng hơn hay không.

Trong câu chuyện của Undset, Kristin là một nhân vật bi kịch nhưng cuối cùng vẫn có thể được chuộc lỗi, bởi vì dù là một người ngay thẳng và đức hạnh, việc không thể buông bỏ mối hận thù dai dẳng suốt hàng thập niên đã hủy hoại cuộc hôn nhân của cô, làm tổn thương tuổi thơ của con cái và góp phần lớn vào sự tan vỡ của gia đình. Kristin bị ám ảnh bởi sự khinh miệt một phần chính đáng đối với những nỗ lực kinh tế yếu kém, sự bất cẩn và liều lĩnh của chồng. Biết rõ người mình đã cưới, cô không bao giờ chấp nhận những khuyết điểm của anh ta (mà chính cô đã lựa chọn), và điều này được thể hiện như một lòng kiêu hãnh tự hủy hoại bản thân, bởi vì chồng cô không phải là một người hoàn toàn xấu xa và cô đã biết rõ về anh ta trước khi nhiệt tình yêu thương anh ta.

Tuy nhiên, trong thế giới Na Uy thời Trung cổ của Undset, người ta thấy rằng con người, bất kể giới tính, đều bị coi là thất bại vì không hoàn thành vai trò xã hội của mình. Họ không thất bại – như quan điểm của Anh Giáo từ những năm 1990 – vì không thể vượt qua hoặc định nghĩa lại những vai trò đó. Đối với Undset, Kristin thất bại trong vai trò người vợ và người mẹ bởi sự lạnh lùng, thù hận và sự không sẵn lòng thừa nhận, khuyến khích và hỗ trợ những đức tính và tiềm năng đáng kể của chồng mình. Erlend, chồng cô, gần như thành công trong việc thực hiện một cuộc đảo chính táo bạo và đầy tham vọng, điều mà lẽ ra sẽ nâng cao vận mệnh của gia đình và quốc gia, sau khi tập hợp được nhiều sự ủng hộ từ các bá tước địa phương quyền lực. Âm mưu của anh ta bị phá vỡ một cách gián tiếp nhưng phần lớn là do một cuộc tranh cãi gia đình không đáng có, mà chính tâm hồn bất hạnh và không khoan nhượng của Kristin là nguyên nhân chính.

Mặt khác, Erlend cũng không phải là không có lỗi. Sự thiếu siêng năng, tính bốc đồng và khuynh hướng lãng phí cơ hội do sự liều lĩnh của anh ta đều góp phần vào những rắc rối của gia đình. Tuy nhiên, Undset không phá vỡ mối quan hệ vợ chồng hay gợi ý rằng Kristin nên đảm nhận vai trò người mưu lược chính trị hoặc lãnh đạo công chúng thay cho anh ta. Thay vào đó, bi kịch diễn ra chính xác bởi vì mỗi người đều không bổ sung cho người kia trong những vai trò được Chúa, tự nhiên, lịch sử và phong tục quy định. Sức mạnh của Kristin với tư cách là người quản lý và người mẹ là có thật; sức hút và lòng dũng cảm của Erlend cũng là có thật. Tội lỗi của họ nằm ở chỗ từ chối tôn trọng sự bổ sung lẫn nhau, điều lẽ ra có thể cứu rỗi cả hai người.

Hãy đối chiếu sự hiểu biết sâu sắc này với con đường mà Sarah Mullally thể hiện. Việc bà lên ngôi vị Tổng Giám Mục Canterbury nữ đầu tiên trên danh nghĩa là biểu tượng tối cao cho sự gián đoạn lâu dài của Anh giáo với tôn giáo của Alfred Đại đế, Athelstan, Augustinô thành Canterbury và dòng truyền thừa tông đồ bất diệt mà họ bảo vệ. Từ sứ mệnh Rôma năm 597 đã gieo mầm một đức tin phổ quát, theo Thánh Phêrô, mang tính giáo sĩ và do nam giới thống trị trên đất Anh – nơi sự hài hòa giữa nam và nữ phản ánh trật tự thiêng liêng chứ không phải vai trò có thể hoán đổi – qua lòng trung thành phục hồi của Alfred Đại đế, người đã khôi phục trí tuệ tổ tiên mà không cần đổi mới, đến vương quốc Kitô giáo thống nhất của Athelstan được xây dựng trên hệ thống thứ bậc bất khả xâm phạm và sự bổ sung lẫn nhau, và thậm chí đến chứng nhân kiên định và vững chắc của Reginald và Margaret Pole dưới sự bức hại, Anh Giáo đã phát triển mạnh mẽ khi tự coi mình là người gìn giữ một trật tự kế thừa, chứ không phải là người tái tạo hay làm chủ nó.

Sự liên tục này đề cao tính bổ sung giữa hai giới như một phần của cấu trúc thiêng liêng của thực tại: những ơn gọi riêng biệt đều có khả năng đạt được sự thánh thiện và hạnh phúc thiêng liêng, với chức tư tế nam giới tượng trưng cho Chúa Kitô là Chú rể của Giáo hội, là Cô dâu của Ngài. Hầu như mọi nhân vật từ Augustinô đến Pole đều coi những tiền đề thần học cho phép Mullally được tôn vinh là dị giáo – một sự đứt gãy. Các nhân vật của Undset một lần nữa mang đến một bài học cho thời đại hỗn loạn của chúng ta: những tâm hồn cao thượng nhưng đầy khiếm khuyết đã tìm thấy bi kịch khi họ không tôn vinh những ơn gọi bổ sung mà Chúa ban cho. Khi tỷ lệ sinh tiếp tục giảm mạnh và việc sử dụng thuốc chống trầm cảm và thuốc an thần ở phụ nữ tiếp tục gia tăng, liệu chúng ta có đang trải qua điều tương tự khi chúng ta vượt qua các ranh giới nhân danh những cảm nhận trừu tượng, không tưởng, bình đẳng, phủ nhận thực tại và mới lạ trong lịch sử? Liệu chúng ta không thành công bằng cách trở thành những người đàn ông và phụ nữ tốt hơn, thay vì loại bỏ các tiêu chuẩn và định nghĩa để chúng ta, một cách khá thoải mái, không còn không thể sống theo chúng nữa? Nói rằng điều này tạo nên một chiến thắng Pyrrhic khá nông cạn thì vẫn còn là nói giảm nói tránh.

Ngược lại, việc Mullally lên ngôi – cùng với những ưu tiên đương thời như các sáng kiến bồi thường mở rộng – thể hiện một quỹ đạo hoàn toàn trái ngược: một Giáo hội ngày càng được định nghĩa bởi sự tự thể hiện, tính bao dung như là điều tốt đẹp nhất và sự thích nghi với các câu chuyện tiến bộ thế tục làm tan biến chính sự bổ sung lẫn nhau từng duy trì trật tự xã hội và tinh thần.

Những gì bắt đầu bằng việc Đạo luật Tối cao khẳng định quyền lãnh đạo của hoàng gia đã phát triển thành một thể chế nơi mà tòa giám mục Augustinô có thể bị chiếm giữ theo cách tách rời người Anh khỏi quá khứ của họ, người Kitô hữu khỏi cội nguồn tông đồ và nam giới và nữ giới khỏi mối quan hệ hài hòa, có trật tự của họ. Cuộc tranh luận cuối cùng không thực sự xoay quanh một cựu y tá tài giỏi hay một nhân cách dễ mến nào đó. Quan trọng hơn nhiều là câu hỏi liệu Anh Giáo có còn là một nhánh sống động của Giáo hội duy nhất, thánh thiện, Công Giáo và tông đồ hay không – hay đã tự bộc lộ mình như một thử nghiệm cao quý một phần nhưng cuối cùng lại thất bại, bất hạnh, bị chia cắt, đôi khi đẹp đẽ trong âm nhạc và lòng mộ đạo thỉnh thoảng, nhưng lại bị cắt đứt khỏi cội nguồn sống động từng nâng đỡ nó.

Trong sự lên ngôi của Mullally, sự rạn nứt ba chiều đó không còn là điều trừu tượng nữa mà đã được khẳng định một cách rõ ràng, về mặt lịch sử và thần học. Người Anh (và những người theo Anh giáo trên toàn thế giới) trân trọng dấu ấn của tổ tiên mình nên suy ngẫm lời cảnh báo của Alfred Đại đế: nếu không hướng lòng mình theo gương mẫu của họ, chúng ta có nguy cơ đánh mất cả sự khôn ngoan lẫn di sản.

Việc trân trọng phụ nữ như phụ nữ và đàn ông như đàn ông trong sự khác biệt của chúng ta có thể là lỗi thời, nhưng tôi tin rằng cuối cùng nó sẽ cứu chúng ta. (Thứ nhất, điều tôi thích nhất ở phụ nữ là họ không phải là đàn ông.) Có lẽ bằng cách cuối cùng chấm dứt sự giả tạo kéo dài gần năm trăm năm và trở về Rôma, theo bước chân của vị vua vĩ đại nhất của mình, nước Anh sẽ lấy lại được sự tỉnh táo trong quá khứ và hạnh phúc thiêng liêng một lần nữa.


Source:Catholic Herald
 
Bài Giáo lý Hàng tuần của Đức Giáo Hoàng Leo: tóm tắt chuyến đi 11 ngày như một cơ hội để nêu bật tiếng nói của người dân châu Phi
Vũ Văn An
14:11 29/04/2026

Antoine Mekary | ALETEIA


Kathleen N. Hattrup, trong bản tin ngày 29/04/2026 của tạp chí Aleteia, cho hay: Đức Giáo Hoàng Leo nói rằng thời gian ngài ở bốn quốc gia châu Phi là một "kho báu vô giá đối với trái tim và sứ mệnh của tôi."

"Chuyến thăm của Đức Giáo Hoàng là một cơ hội để người dân châu Phi được lên tiếng," Đức Giáo Hoàng Leo XIV giải thích trong buổi tiếp kiến chung ngày 29 tháng 4 năm 2026. Sáu ngày sau khi trở về từ chuyến tông du 11 ngày qua bốn quốc gia châu Phi (Algeria, Cameroon, Angola và Guinea Xích đạo), Đức Giáo Hoàng đã điểm lại một số vấn đề chính của chuyến đi, như thường lệ trong buổi tiếp kiến chung đầu tiên sau một chuyến tông du.

Được chào đón tại Quảng trường Thánh Phêrô bởi hàng ngàn tín hữu tụ tập dưới ánh nắng mặt trời rực rỡ, Đức Giáo Hoàng đã suy gẫm về một hành trình được thực hiện trong những ngày mưa tầm tã, và diễn ra qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn đều giàu ý nghĩa. Nhận thấy rằng ngài đã bắt đầu cân nhắc chuyến đi này từ những ngày đầu triều đại giáo hoàng của mình, Đức Giáo Hoàng Leo XIV giải thích rằng ngài cảm nhận được đó là "một thông điệp hòa bình trong thời điểm lịch sử đầy rẫy chiến tranh và những vi phạm nghiêm trọng và thường xuyên luật pháp quốc tế."

Buổi tiếp kiến chung này là buổi đầu tiên được tổ chức với sự hiện diện của tân Tổng quản Phủ Giáo hoàng, Đức Tổng Giám Mục Petar Rajič, được Đức Giáo Hoàng Leo XIV bổ nhiệm vào ngày 30 tháng 3. Chức vụ này đã bị bỏ trống kể từ khi Đức Tổng Giám Mục Georg Gänswein, thư ký riêng của Đức Giáo Hoàng Benedict XVI, nắm giữ chức vụ này lần cuối.

Sau đây là bản dịch bài giáo lý của ngài, dựa vào bản tiếng Anh của Tòa Thánh

Anh chị em thân mến, chào buổi sáng và chào mừng!

Hôm nay tôi muốn nói về Chuyến Tông du mà tôi đã thực hiện từ ngày 13 đến 23 tháng 4, thăm bốn quốc gia châu Phi: Algeria, Cameroon, Angola và Guinea Xích đạo.

Ngay từ đầu triều đại giáo hoàng của mình, tôi đã nghĩ đến một chuyến đi đến châu Phi. Tôi tạ ơn Chúa đã ban cho tôi cơ hội thực hiện chuyến đi này, với tư cách là Mục tử, để gặp gỡ và khích lệ dân Chúa; và cũng để trải nghiệm nó như một thông điệp hòa bình trong thời điểm lịch sử đầy rẫy chiến tranh và những vi phạm nghiêm trọng và thường xuyên luật pháp quốc tế. Và tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các giám mục và chính quyền dân sự đã đón tiếp tôi, và đến tất cả những người đã giúp tổ chức chuyến thăm.

Sự quan phòng của Chúa đã sắp đặt để điểm dừng chân đầu tiên chính là đất nước nơi có các địa điểm liên quan đến Thánh Augustinô, tức Algeria. Vì vậy, một mặt, tôi thấy mình đang trở lại cội nguồn bản sắc tâm linh của mình và mặt khác, tôi đang bắc cầu và củng cố những cây cầu rất quan trọng đối với thế giới và Giáo hội ngày nay: cây cầu với thời đại đầy sức sống của các Giáo phụ; cây cầu với thế giới Hồi giáo; và cây cầu với lục địa châu Phi.

Tại Algeria, tôi đã nhận được sự đón tiếp không chỉ tôn trọng mà còn nồng ấm, và chúng tôi đã có thể trực tiếp trải nghiệm và cho thế giới thấy rằng có thể sống chung với nhau như anh chị em, ngay cả khi khác tôn giáo, khi chúng ta nhận ra nhau là con cái của cùng một người Cha nhân từ. Hơn nữa, đó là một cơ hội kịp thời để học hỏi từ tấm gương của Thánh Augustinô: qua kinh nghiệm sống, các tác phẩm và đời sống tâm linh của ngài, ngài là một bậc thầy trong việc tìm kiếm Thiên Chúa và chân lý. Một minh chứng quan trọng hơn bao giờ hết đối với các Kitô hữu và mỗi người trong thời đại ngày nay.

Ở ba quốc gia tiếp theo tôi đến thăm, dân số chủ yếu là Kitô hữu, và do đó tôi thấy mình được hòa mình vào bầu không khí hân hoan của đức tin và sự đón tiếp nồng hậu, được tô điểm thêm bởi những nét đặc trưng của người dân châu Phi. Giống như những vị tiền nhiệm của tôi, tôi cũng trải nghiệm điều gì đó tương tự như những gì đã xảy ra với Chúa Giêsu giữa đám đông ở Ga-li-lê: Người thấy họ khát khao và đói khát công lý, và tuyên bố với họ: “Phúc cho người nghèo, phúc cho người hiền lành, phúc cho người kiến tạo hòa bình”, và, nhận biết đức tin của họ, Người phán: “Các ngươi là muối của đất và là ánh sáng của thế gian” (xem Mt 5:1-16).

Chuyến thăm Cameroon cho phép tôi củng cố lời kêu gọi cùng nhau nỗ lực vì sự hòa giải và hòa bình, bởi vì đất nước đó, thật không may, cũng bị ảnh hưởng bởi căng thẳng và bạo lực. Tôi rất vui mừng khi được đến Bamenda, thuộc vùng nói tiếng Anh, nơi tôi đã khuyến khích mọi người cùng nhau làm việc vì hòa bình. Cameroon được biết đến như “châu Phi thu nhỏ”, ám chỉ sự đa dạng và phong phú của môi trường tự nhiên, tài nguyên của nó, nhưng chúng ta cũng có thể hiểu cách diễn đạt này có nghĩa là những nhu cầu lớn lao của toàn lục địa đều nằm ở Cameroon: nhu cầu phân phối của cải công bằng; nhu cầu tạo không gian cho giới trẻ, khắc phục nạn tham nhũng tràn lan, thúc đẩy phát triển toàn diện và bền vững, chống lại các hình thức tân thực dân khác nhau bằng sự hợp tác quốc tế có tầm nhìn xa. Tôi cảm ơn Giáo hội ở Cameroon và toàn thể người dân Cameroon, những người đã đón tiếp tôi với tình yêu thương xiết bao, và tôi cầu nguyện rằng tinh thần hiệp nhất đã thể hiện rõ trong chuyến thăm của tôi sẽ được giữ vững và hướng dẫn những lựa chọn và hành động trong tương lai.

Giai đoạn thứ ba của chuyến đi là ở Angola, một quốc gia rộng lớn phía nam xích đạo, với truyền thống Kitô giáo lâu đời, gắn liền với thời kỳ thuộc địa của Bồ Đào Nha. Giống như nhiều quốc gia châu Phi khác, sau khi giành được độc lập, Angola đã trải qua một thời kỳ khó khăn, trong trường hợp của nước này là cuộc nội chiến kéo dài và đẫm máu. Trong thử thách của lịch sử này, Chúa đã hướng dẫn và thanh tẩy Giáo hội, ngày càng biến đổi Giáo hội để phục vụ Tin Mừng, thúc đẩy sự tiến bộ của con người, hòa giải và hòa bình. Một Giáo hội tự do cho một dân tộc tự do! Tại Thánh đường Đức Mẹ Mamã Muxima – có nghĩa là “Mẹ của trái tim” – tôi cảm nhận được nhịp đập trái tim của người dân Angola. Và trong các buổi gặp gỡ khác nhau, tôi vui mừng khi thấy rất nhiều nam nữ tu sĩ ở mọi lứa tuổi, một lời tiên tri về Nước Trời giữa lòng dân tộc họ; tôi thấy các giáo lý viên tận tâm cống hiến hết mình cho lợi ích cộng đồng; tôi thấy nhiều người già chai sạn vì lao động và đau khổ nhưng vẫn rạng rỡ niềm vui của Tin Mừng; tôi thấy nữ giới và nam giới nhảy múa theo nhịp điệu của những bài ca ngợi Chúa Phục Sinh, nền tảng của một niềm hy vọng vượt qua những thất vọng do các hệ tư tưởng và những lời hứa suông của những kẻ quyền lực gây ra.

Niềm hy vọng này đòi hỏi sự cam kết cụ thể, và Giáo hội có trách nhiệm, bằng chứng nhân và sự loan báo can đảm Lời Chúa, để công nhận quyền của tất cả mọi người và thúc đẩy việc tôn trọng các quyền đó trên thực tế. Với chính quyền dân sự Angola, cũng như với chính quyền của các quốc gia khác, tôi đã có thể đảm bảo với họ về sự sẵn lòng của Giáo Hội Công Giáo trong việc tiếp tục đóng góp này, đặc biệt là trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và giáo dục.

Quốc gia cuối cùng tôi đến thăm là Guinea Xích đạo, 170 năm sau lần truyền giáo đầu tiên. Với sự khôn ngoan của truyền thống và ánh sáng của Chúa Kitô, người dân Guinea đã vượt qua những thăng trầm của lịch sử và, trong những ngày gần đây, trước sự hiện diện của Đức Giáo Hoàng, đã nhiệt tình đổi mới quyết tâm cùng nhau hướng tới một tương lai đầy hy vọng.

Tôi không thể quên những gì đã xảy ra trong nhà tù ở Bata, Guinea Xích đạo: các tù nhân đã hát vang bài ca tạ ơn Chúa và Đức Giáo Hoàng, cầu xin ngài cầu nguyện “cho tội lỗi của họ và cho sự tự do của họ”. Tôi chưa từng thấy điều gì như vậy. Và sau đó họ cùng tôi đọc kinh “Lạy Cha” dưới cơn mưa tầm tã. Một dấu hiệu đích thực của Nước Thiên Chúa! Và ngay cả trong cơn mưa, cuộc gặp gỡ trọng đại với giới trẻ đã bắt đầu tại sân vận động ở Bata. Một lễ hội của niềm vui Kitô giáo, với những lời chứng cảm động từ những người trẻ tuổi đã tìm thấy trong Tin Mừng con đường dẫn đến sự trưởng thành tự do và có trách nhiệm. Lễ hội này lên đến tuyệt đỉnh trong Thánh lễ vào ngày hôm sau, xứng đáng khép lại chuyến thăm Guinea Xích đạo, cũng như toàn bộ Hành trình Tông đồ.

Anh chị em thân mến, chuyến thăm của Đức Giáo Hoàng là cơ hội để người dân châu Phi được cất tiếng nói, để bày tỏ niềm vui khi là dân Chúa và niềm hy vọng về một tương lai tốt đẹp hơn, về phẩm giá cho mỗi người. Tôi rất vui vì đã mang đến cho họ cơ hội này, và đồng thời tôi tạ ơn Chúa vì những gì họ đã ban cho tôi, một kho báu vô giá cho trái tim và sứ vụ của tôi.
 
Thủ tướng Benjamin Netanyahu gặp gỡ một nhóm binh sĩ Kitô giáo phục vụ trong Lực lượng Phòng vệ Israel vào ngày 26 tháng 4 năm 2026.
Vũ Văn An
16:11 29/04/2026

Cuộc gặp diễn ra vào thời điểm Israel đang phải đối diện với những lời chỉ trích ngày càng tăng về cách đối xử với người Kitô giáo ở cả Israel và miền nam Lebanon.

Thủ tướng Benjamin Netanyahu gặp gỡ một nhóm binh sĩ Kitô giáo phục vụ trong Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF) vào ngày 26 tháng 4 năm 2026. | Nguồn: Ảnh do Văn phòng Thủ tướng Nhà nước Israel cung cấp/Ảnh chụp màn hình


Michele Chabin thuộc hãng tin EWTNNews, trong bản tin ngày 29 tháng 4 năm, cho hay: Các binh sĩ Công Giáo nằm trong số ba chục quân nhân trẻ người Israel được mời nói chuyện với Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu vào Chúa nhật, ngày 26 tháng 4. Cuộc gặp là một cơ hội hiếm hoi để những người Kitô giáo phục vụ trong quân đội Israel chia sẻ quan điểm và kinh nghiệm của họ với người đứng đầu chính phủ Israel. “Tôi đang ở đây trong văn phòng thủ tướng cùng với một nhóm thanh niên và phụ nữ xuất sắc. Đây là những người lính Ki-tô giáo, cả nam và nữ, trong Lực lượng Phòng vệ Israel,” ông Netanyahu nói trong một video khi ông ngồi tại bàn làm việc, bên cạnh là các binh sĩ. “Họ đảm nhiệm tất cả các vị trí quan trọng trong quân đội tuyệt vời của chúng ta, và họ làm những công việc phi thường.”

Có tới 1,000 trong số khoảng 185,000 người Ki-tô giáo mang quốc tịch Israel phục vụ trong IDF. Mặc dù một số người bị gọi nhập ngũ, nhưng phần lớn phục vụ với tư cách tình nguyện viên.

Cuộc gặp được lên lịch vào thời điểm Israel đang phải đối diện với những lời chỉ trích ngày càng tăng về cách đối xử với người Ki-tô giáo ở cả Israel và miền nam Lebanon, nơi lực lượng Israel đang chiến đấu chống lại nhóm khủng bố Hezbollah được Iran hậu thuẫn. Vào ngày 19 tháng 4, một binh sĩ IDF đã phá hủy một bức tượng Chúa Giêsu ở làng Debel, miền nam Lebanon. Cùng tuần đó, một video cho thấy một chiếc xe của IDF phá hủy một tấm pin năng lượng mặt trời lớn gần cùng ngôi làng Ki-tô giáo Lebanon này.

Theo Trung tâm Dữ liệu Tự do Tôn giáo, một tổ chức phi chính phủ của Israel chuyên theo dõi các vụ việc này, cũng có 180 vụ việc chống Ki-tô giáo được báo cáo ở Israel trong năm 2025 — từ việc nhổ nước bọt vào các giáo sĩ Ki-tô giáo đến việc phá hoại tài sản nhà thờ.

Trái ngược với các quốc gia Trung Đông khác, luật pháp Israel trao đầy đủ quyền cho cộng đồng Ki-tô giáo nhỏ bé của mình. Nhưng tình trạng di cư của người Ki-tô giáo từ cả Israel và Palestine đã gia tăng trong những năm gần đây, do chiến tranh, bất ổn tài chính và các hành vi chống Ki-tô giáo của cả người Do Thái và người Hồi giáo.

Bổ nhiệm đặc phái viên

Phản ánh cuộc khủng hoảng ngày càng gia tăng giữa Israel và người Ki-tô giáo trên toàn thế giới, vào ngày 23 tháng 4, chính phủ đã bổ nhiệm nhà ngoại giao George Deek, một tín đồ Ki-tô giáo Chính thống, làm đặc phái viên cho thế giới Ki-tô giáo. Trước đây, ông Deek từng là đại sứ của Israel tại Azerbaijan. Trong một tuyên bố công bố việc bổ nhiệm ông Deek, Ngoại trưởng Israel Gideon Sa’ar cho biết Israel “coi trọng mối quan hệ với thế giới Kitô giáo và với những người bạn Kitô giáo trên toàn thế giới. Tôi tin tưởng rằng George, một nhà ngoại giao được kính trọng và giàu kinh nghiệm, sẽ đóng góp rất lớn vào tình hữu nghị và việc củng cố mối quan hệ giữa nhà nước Israel và thế giới Kitô giáo.”

Trong cuộc gặp với các binh sĩ hôm Chúa nhật, Netanyahu nói rằng “Israel đấu tranh cho quyền lợi của người Kitô giáo trên khắp Trung Đông” và lưu ý rằng “Israel có những binh sĩ Kitô giáo chiến đấu để bảo vệ Israel và cho anh em Kitô giáo của chúng ta trên khắp khu vực, khắp vùng và xa hơn nữa.”

Netanyahu cho biết ông “ấn tượng” bởi những câu chuyện cá nhân của các binh sĩ, “sự tận tâm, sự hy sinh và những thành tựu của họ.”

Juergen Buehler, người đứng đầu Đại sứ quán Kitô giáo Tin lành Quốc tế Jerusalem, cho biết rất vui mừng khi được mời tham dự cuộc gặp, nơi 17 binh sĩ Kitô giáo Tin Lành và khoảng 20 binh sĩ Kitô giáo Ả Rập đã có cuộc trò chuyện dài với thủ tướng. “Đó là một cuộc gặp gỡ đặc biệt, kéo dài ít nhất một tiếng rưỡi. Ban đầu, thủ tướng đã đi vòng quanh và chào hỏi từng người lính. Đó là một cuộc thảo luận rất cởi mở,” Buehler nói.

Được trao cơ hội chia sẻ một số thách thức khi là một người lính Ki-tô giáo trong Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF), “một người lính Ki-tô giáo gốc Ả Rập nói với Netanyahu rằng anh ấy không gặp bất cứ thách thức nào trong IDF vì là người Ki-tô giáo, nhưng khi về nhà, thực tế lại khác,” Buehler kể lại.

Buehler cho biết cuộc gặp gỡ này đặc biệt quan trọng sau những sự cố liên tiếp ở miền nam Lebanon.

“Một mục đích của cuộc gặp là để chính phủ gửi tín hiệu rằng những người lính Ki-tô giáo được trân trọng. Người Ki-tô giáo ở đây là thiểu số trong một thiểu số, vì vậy nó đã tạo ra một cơ hội độc đáo để chính phủ thấy lý do tại sao chúng tôi phục vụ. Chúng tôi là những người theo chủ nghĩa Phục quốc Do Thái, nhưng vẫn có những vấn đề khi bạn là thiểu số.”

Buehler cho biết các binh sĩ nói với Netanyahu rằng chính phủ phải nỗ lực hơn nữa để nâng cao vị thế của cộng đồng Ki-tô giáo nhỏ bé ở Israel.

“Israel cần đảm bảo rằng thế hệ người Israel tiếp theo được dạy rằng người Kitô hữu là một phần của nhà nước Israel và rằng có rất nhiều người Kitô hữu trên khắp thế giới ủng hộ Israel,” Buehler nói.

Shadi Khalloul, một người Kitô hữu Maronite đến từ Miền Bắc Israel đồng ý.

“Israel cần bình thường hóa việc người Kitô giáo có chỗ đứng ở đất nước này, và phải ngăn chặn những kẻ cực đoan Do Thái và Hồi giáo. Những kẻ cực đoan như những kẻ chúng ta đã thấy ở miền nam Lebanon không đại diện cho người Israel, Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF), hay tinh thần Do Thái,” Khalloul, một cựu chiến binh IDF, nói.
 
Quan điểm khác nhau giữa các giáo sĩ Công Giáo nổi tiếng của Hoa Kỳ về tuyên bố chiến tranh chính nghĩa.
Vũ Văn An
16:16 29/04/2026

Một trong những nhân vật công chúng nổi bật nhất của Giáo hội Hoa Kỳ cho rằng việc đưa ra quyết định cuối cùng về việc một cuộc chiến cụ thể có chính nghĩa hay không không phải là vai trò của các nhà lãnh đạo Giáo hội.

Cha Gerald Murray (trái) và Giám mục Robert Barron. | Nguồn: “The World Over with Raymond Arroyo”/Ảnh chụp màn hình; Daniel Ibañez/EWTN News


Ken Oliver-Méndez, trong bản tin EWTNNews ngày 28 tháng 4 năm 2026, nhận định rằng: Trong khi nhiều vị giám mục hàng đầu của Hoa Kỳ đã giữ lập trường cho rằng cuộc chiến của Hoa Kỳ với Iran không đáp ứng các tiêu chuẩn chiến tranh chính nghĩa cổ điển của Giáo hội, thì ý kiến về vấn đề này không phải là nhất trí.

Thực vậy, trong những ngày gần đây, một trong những giám mục nổi bật nhất trong dư luận nước này, Giám mục Robert Barron của Winona-Rochester, Minnesota, đã lập luận rằng ngay cả việc đưa ra quyết định cuối cùng về việc một cuộc chiến cụ thể là chính nghĩa hay bất chính cũng không phải là vai trò của các nhà lãnh đạo Giáo hội.

“Vai trò của Giáo hội,” Barron viết trong một bài đăng trên X vào ngày 20 tháng 4, “là kêu gọi hòa bình và thúc giục rằng bất cứ cuộc xung đột nào cũng phải được giới hạn nghiêm ngặt bởi các ràng buộc đạo đức của các tiêu chuẩn chiến tranh chính nghĩa,” được nêu trong Sách Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo (số 2309).

Tuy nhiên, ngài nói tiếp, “việc đánh giá xem một cuộc chiến cụ thể là chính nghĩa hay bất chính không phải là vai trò của Giáo hội.” Để củng cố lập luận của mình, Barron đã trích dẫn giáo lý “chiến tranh chính nghĩa” rõ ràng của Sách giáo lý (số 2309) dạy rằng “việc đánh giá các điều kiện này về tính hợp pháp đạo đức thuộc về phán đoán thận trọng của những người có trách nhiệm đối với lợi ích chung.”

“Vậy, liệu cuộc chiến đang được đề cập có thực sự là giải pháp cuối cùng?” ĐC Barron đặt câu hỏi, viện dẫn các tiêu chuẩn về chiến tranh chính nghĩa: “Liệu có thực sự có sự cân bằng giữa lợi ích đạt được và sự tàn phá do chiến tranh gây ra? Liệu những người tham chiến và thường dân có được phân biệt đúng đắn trong quá trình tiến hành xung đột? Các bên tham chiến có ý định đúng đắn không? Liệu có hy vọng thành công hợp lý nào không? Việc đặt ra những câu hỏi đó — thậm chí là việc nhấn mạnh tầm quan trọng về mặt đạo đức của chúng — thuộc về Giáo hội, nhưng việc trả lời chúng thuộc về chính quyền dân sự,” ngài kết luận.

Trong khi đó, các giáo sĩ khác có ảnh hưởng đáng kể trong công chúng, chẳng hạn như linh mục Gerald Murray thuộc Tổng giáo phận New York, một cựu tuyên úy Hải quân Hoa Kỳ, khẳng định dứt khoát rằng hành động quân sự của Hoa Kỳ chống lại Iran đủ điều kiện là một cuộc chiến tranh chính nghĩa.

Trong một bài đánh giá sâu rộng về tình hình dưới ánh sáng của giáo lý chiến tranh chính nghĩa, Murray đã viết trên tờ The Free Press rằng “tính chính nghĩa của cuộc tấn công của Hoa Kỳ vào Iran được xác nhận bởi sự thừa nhận của chế độ Iran.” Murray dẫn lời nhà đàm phán người Mỹ Steve Witkoff, người tiết lộ rằng trong những ngày ngay trước khi chiến tranh bùng nổ, “cả hai nhà đàm phán Iran đều nói thẳng với chúng tôi [Witkoff và nhà đàm phán người Mỹ Jared Kushner], không hề xấu hổ, rằng họ kiểm soát 460 kg uranium làm giàu 60% và họ biết rằng lượng uranium đó có thể chế tạo được 11 quả bom hạt nhân, và đó là khởi đầu cho lập trường đàm phán của họ.” Witkoff tiếp tục, các nhà đàm phán Iran nói với phía Mỹ rằng “họ có quyền bất khả xâm phạm để làm giàu tất cả nhiên liệu hạt nhân mà họ sở hữu.”

Một Iran sở hữu vũ khí hạt nhân và tên lửa đạn đạo là mối đe dọa cận kề đối với Hoa Kỳ, Israel và nhiều quốc gia khác,” Murray nói. “Tình trạng làm giàu uranium ở mức độ cao đồng nghĩa với việc Hoa Kỳ và Israel phải đối diện với mối đe dọa cận kề. Ý định rõ ràng của chế độ Iran trong việc chế tạo vũ khí hạt nhân vẫn không thay đổi. Do đó, việc Hoa Kỳ và Israel tấn công Iran để loại bỏ mối đe dọa hạt nhân là điều chính đáng”, Murray khẳng định, gọi hành động quân sự chung này là “một hành động bảo vệ, chứ không phải là hành động gây hấn, theo lý thuyết chiến tranh chính nghĩa”.

Murray cũng chỉ ra rằng các cuộc đàm phán trước cuộc tấn công vào Iran “cho thấy Hoa Kỳ sẵn sàng làm đến mức nào để tránh chiến tranh - bằng chứng cho thấy cuộc tấn công là biện pháp cuối cùng”.

Hơn nữa, cha lưu ý rằng khi Witkoff và Kushner nói với các nhà đàm phán Iran rằng Hoa Kỳ sẽ cung cấp uranium không dùng cho vũ khí cho Iran trong 10 năm nếu nước này ngừng theo đuổi vũ khí hạt nhân, họ đã bị phía Iran bác bỏ.

“Họ đã bác bỏ điều đó, điều này cho chúng tôi biết ngay lúc đó rằng họ không có ý định làm bất cứ điều gì khác ngoài việc duy trì quá trình làm giàu uranium với mục đích chế tạo vũ khí”, Witkoff kể lại.

“Tôi tin rằng đây là một cuộc chiến chính nghĩa chính vì bản chất của mối đe dọa mà một Iran sở hữu vũ khí hạt nhân gây ra cho Hoa Kỳ, Israel và các đồng minh của họ,” Cha Murray nói trong một cuộc phỏng vấn riêng. “Theo tôi, tiêu chuẩn của một cuộc chiến chính nghĩa không yêu cầu chúng ta phải hứng chịu một cuộc tấn công hạt nhân trước khi chúng ta có thể đáp trả để cố gắng phá hủy vũ khí hạt nhân của họ.”

Hoa Kỳ và Israel đã tấn công Iran vào cuối tháng Hai nhưng đã ngừng bắn kể từ ngày 8 tháng Tư, mà Tổng thống Donald Trump đã gia hạn vô thời hạn trong bối cảnh đàm phán. Không bên nào đồng ý với một nền hòa bình lâu dài.

Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã chỉ trích cuộc chiến và kêu gọi hòa bình trong khi Quốc vụ khanh Vatican, Hồng Y Pietro Parol, cũng lên tiếng. Đức Giáo Hoàng Leo nói rằng cuộc tấn công “dường như không đáp ứng các điều kiện” của một cuộc chiến tranh chính nghĩa.

Ngày 23 tháng 4, Đức Leo tiếp tục khẳng định lập trường phản đối chiến tranh của mình, nói rằng ngài khuyến khích “tiếp tục đối thoại vì hòa bình” trong bối cảnh các cuộc đàm phán ngừng bắn.

“Với tư cách là một linh mục, tôi không thể ủng hộ chiến tranh, và tôi muốn khuyến khích mọi người nỗ lực hết sức để tìm kiếm những giải pháp xuất phát từ văn hóa hòa bình chứ không phải thù hận”, Đức Thánh Cha nói.
 
Tiến sĩ George Weigel: Trong niềm tri ân hồng ân phép rửa tội
J.B. Đặng Minh An dịch
18:56 29/04/2026

Tiến sĩ George Weigel là thành viên cao cấp của Trung tâm Đạo đức và Chính sách Công cộng Washington, và là người viết tiểu sử Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Ông vừa có bài viết nhan đề “In Thanksgiving for the Gift of Baptism”, nghĩa là “Trong niềm tri ân hồng ân phép rửa tội”

Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.

Ba phần tư thế kỷ trước, vào ngày 29 tháng 4 năm 1951, tôi được cha Thomas Love, một linh mục dòng Tên, làm lễ rửa tội tại nhà thờ Hai Thánh Philipphê và Giacôbê Tông Đồ ở Baltimore. Có lẽ ma quỷ đã bám chặt lấy tôi khi còn bé; theo truyền thuyết gia đình, tôi đã khóc thét lên khi bị nước và Chúa Thánh Thần xua đuổi đến nỗi người chị họ Judy của tôi phải trốn vào phòng xưng tội. (Những người chỉ trích có thể tìm thấy dấu vết của trải nghiệm này trong văn phong sau này của tôi; tôi không thể bình luận gì thêm.)

Nhà thờ Hai Thánh Philipphê và Giacôbê Tông Đồ, sự kết hợp tuyệt vời giữa phong cách kiến trúc Hy Lạp-Rôma và Byzantine, hiện đang được các Cha dòng Đa Minh thuộc Tỉnh dòng Thánh Giuse chăm sóc. Các ngài điều hành một giáo xứ sôi động và một hoạt động mục vụ tại trường Đại học Johns Hopkins gần đó. Nhà thờ có một số cửa sổ kính màu tuyệt đẹp và phần trang trí hậu cung, gợi nhớ đến nhiều vương cung thánh đường Rôma với hàng loạt các vị thánh, khiến tôi nhớ đến một chủ đề thích hợp để suy ngẫm nhân dịp kỷ niệm 75 năm ngày rửa tội của mình: đó là sự hiệp thông của các thánh.

Được rửa tội là được gia nhập vào Giáo Hội. Được tái sinh trong đời sống mới trong Chúa Kitô qua nước phép rửa tội đồng thời được gia nhập vào thân thể siêu thời gian của những người bạn hữu Chúa Giêsu Kitô: là điều mà truyền thống gọi là Giáo Hội Chiến Đấu (những người đang sống ngày nay), Giáo Hội Đau Khổ (những người đang trải qua thời kỳ thanh tẩy sau khi chết), và Giáo Hội Khải Hoàn (những người được chúc phúc khi được chiêm ngưỡng Thiên Chúa Ba Ngôi). Ba “trạng thái” này trong Giáo Hội tạo thành một thân thể, hay một sự hiệp thông, xuyên suốt các thế kỷ, và thực sự vượt ra ngoài thế giới tự nhiên như chúng ta nhận thức. Đó là một “sự hiệp thông của các thánh” bởi vì tất cả những ai thuộc về nó nhờ phép rửa tội đều được kêu gọi đến ơn gọi thánh thiện, mà không có một khuôn mẫu duy nhất nào.

Trong suốt 75 năm qua, tôi đã cảm nhận được sự thiêng liêng ấy bằng nhiều cách khác nhau, mỗi cách đều để lại dấu ấn trong tâm hồn và đời sống tâm linh của tôi. Xin kể ra một vài ví dụ:

Có lẽ tôi đã có được trực giác đầu tiên về ý nghĩa của sự thánh thiện thông qua tình yêu hy sinh của cha mẹ tôi, những người đã đưa tôi đến với phép rửa tội và đã làm rất nhiều điều cho tôi trong hai thập niên tôi sống cùng các ngài.

Nhìn lại, giờ đây tôi hiểu rằng những người thầy đã định hình sâu sắc tâm trí và rèn giũa kỷ luật cho thời thơ ấu và tuổi thiếu niên của tôi đã mang đến một trải nghiệm khác về sự hiệp thông của các vị thánh.

Tương tự như vậy, giáo viên dạy piano của tôi, Sơ Mary Arnold kiên nhẫn thuộc Dòng Nữ tu Notre Dame, và người chỉ huy dàn hợp xướng tuyệt vời của tôi, thiên tài nóng tính nhưng đầy nhiệt huyết Robert Twynham cũng vậy — bởi vì bất cứ khi nào tôi có những gì tôi cho là “trải nghiệm tâm linh”, thì hầu như nó đều liên quan đến âm nhạc.

Tôi đã học được rất nhiều điều từ kinh nghiệm của một vị linh mục, người đã vượt qua cuộc chiến dài hơi với chứng nghiện rượu để đạt được sự thánh thiện và thanh thản.

Vợ và các con tôi đều đã thể hiện cho tôi những phẩm chất thánh thiện độc đáo — và tất cả họ chắc chắn đều đã sống trọn vẹn phẩm chất thánh thiện của sự kiên nhẫn!

Tôi đã may mắn được biết những vị tử đạo bị bách hại và tuyên xưng đức tin, những người đã trưởng thành trong sự thánh thiện giữa lúc bị bách hại nhờ đức tin, niềm hy vọng và tình yêu được gieo vào lòng họ qua phép rửa tội: Myroslav Marynovych của Ukraine, Sơ Nijolė Sadūnaitė của Lithuania, Jimmy Lai của Hương Cảng và Đức Hồng Y Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận của Việt Nam, đó chỉ là bốn trong số rất nhiều người tiêu biểu.

Và trong khi 30 năm qua đã cho tôi sự trân trọng sâu sắc đối với lời cảnh báo thận trọng của Ronald Knox (mà trước đây tôi đã nhầm lẫn gán cho John Henry Newman) rằng “người nào đi trên con thuyền của Thánh Phêrô thì tốt hơn hết đừng nhìn quá kỹ vào phòng máy “, tôi đã có nhiều trải nghiệm về sự thánh thiện ở Rôma, trong những cuộc gặp gỡ với những người như Đức Hồng Y Bernardin Gantin của Benin, Đức Hồng Y Francis Arinze của Nigeria và Đức Hồng Y Robert Sarah của Guinea — ba vị giáo sĩ, cả sống và đã khuất, mà ngay cả những người hoài nghi nhất trong Giáo triều cũng công nhận là những người của Chúa, sống đúng với sự thánh thiện mà các ngài được kêu gọi trong phép rửa tội.

Hơn nữa, tôi đặc biệt ghi nhớ ân sủng to lớn khi được biết đến hai vị giáo hoàng thánh thiện, Gioan Phaolô II và Đức Bênêđíctô XVI. Trong cả hai trường hợp, sự vĩ đại trong công việc và giáo huấn của các ngài phản ánh thực tế rằng các ngài là những môn đệ Kitô giáo được hoán cải triệt để — những người coi trọng phép rửa tội của mình như ngày quan trọng nhất trong cuộc đời.

Việc được tham gia vào “sự hiệp thông của các thánh” là một trong những ân sủng lớn lao được ban trong phép rửa tội. Khi tôi tạ ơn về ân sủng phép rửa tội của mình cách đây 75 năm, tôi đặc biệt biết ơn việc được gia nhập vào “đám mây chứng nhân vĩ đại” này (Dt 12:1). Và viễn cảnh được cùng các ngài tại “núi Si-ôn, trong thành của Thiên Chúa hằng sống, Giêrusalem trên trời” (Dt 12:22) chính là niềm hy vọng lớn lao của tôi.


Source:National Catholic Register
 
Văn Hóa
SỰ THẬT VỀ GIÁO SĨ LẠM DỤNG TÌNH DỤC, phần 1, chương 2 tiếp
Vũ Văn An
00:11 29/04/2026

SỰ THẬT VỀ GIÁO SĨ LẠM DỤNG TÌNH DỤC
Làm rõ sự thật và nguyên nhân

NHÀ XUẤT BẢN IGNATIUS PRESS SAN FRANCISCO

PHẦN I
Phân biệt sự thật và hư cấu

2. Giáo Hội Đối Diện Với Vụ Tai Tiếng
tiếp theo

Các cuộc cải cách có hiệu quả không?

Một lời nói dối lớn khác về Giáo Hội Công Giáo là vụ tai tiếng lạm dụng tình dục vẫn tiếp diễn không ngừng. Điều này hoàn toàn vô lý. Chắc chắn, vẫn còn những vấn đề nghiêm trọng—chẳng hạn như việc Vatican không giải thích kịp thời ai biết gì và khi nào về Theodore McCarrick, cựu Hồng Y bị thất sủng—nhưng xét về phạm vi của vụ tai tiếng, nó từ lâu đã không còn là một cuộc khủng hoảng.

Theo Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng Tông đồ của Đại học Georgetown, số lượng cáo buộc trung bình chống lại các thành viên giáo sĩ hiện tại trong bất cứ năm nào đã giảm mạnh.Vào những năm 1970, có 6,155 trường hợp; con số của những năm 1980 là 3,594; có 777 trường hợp vào những năm 1990 và 351 trường hợp vào những năm 2000. Hiện nay, con số này chỉ còn ở mức một chữ số. (49)

Đây là biểu đồ về số lượng cáo buộc đáng tin cậy được đưa ra kể từ khi Hội đồng Đánh giá Quốc gia bắt đầu thu thập dữ liệu. (50)

2004 22
2005 9
2006 14
2007 4
2008 10
2009 8
2010 7
2011 7
2012 6
2013 7
2014 6
2015 7
2016 2
2017 6
2018 3
2019 8
 


Hội đồng Đánh giá Quốc gia đã làm rất tốt công việc thu thập dữ liệu. Tuy nhiên, họ đã làm không tốt việc quảng bá Tin tốt. Những người chịu trách nhiệm về các báo cáo luôn nhắc nhở chúng ta rằng một nạn nhân cũng là quá nhiều, điều này dĩ nhiên là đúng. Nhưng điều đó không nên ngăn cản họ làm một vài phép tính. Ví dụ, hãy xem báo cáo năm 2018. Báo cáo này nêu chi tiết 26 cáo buộc mới liên quan đến trẻ vị thành niên hiện tại, trong đó 3 cáo buộc được chứng thực (ba người đàn ông này đã bị loại khỏi chức vụ mục tử). Điều này có nghĩa là 0.006% trong số 50,648 thành viên của giới giáo sĩ đã bị cáo buộc có căn cứ trong khoảng thời gian một năm đó. Báo cáo năm 2019 đã tìm thấy 37 cáo buộc mới, trong đó chỉ có 8 cáo buộc, tương đương 0.016% (trong số 49,972 giáo sĩ), được chứng thực.

Không cần Liên đoàn Công Giáo phải tính toán và ca ngợi sự tiến bộ đáng kinh ngạc này. Nhưng họ đã làm vậy. Khi tiết lộ rằng chỉ có ba trường hợp được chứng thực, chủ tịch Hội đồng Đánh giá Quốc gia, Francesco C. Cesareo, đã nắm lấy cơ hội để nói: “Những cáo buộc hiện tại chỉ ra thực tại này: việc lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên bởi các giáo sĩ không nên được các giám mục coi là chuyện của quá khứ hay một ký ức xa vời.” (51) Đó là một phản ứng đáng thương. Anne Burke, người đứng đầu Hội đồng Đánh giá Quốc gia đầu tiên, đã liên tục phủ nhận việc đã có bất cứ tiến bộ nào, và vào cuối năm 2019, bà nói rằng vấn đề lạm dụng tình dục của giáo sĩ “tồi tệ hơn” so với trước đây. (52) Bà không đưa ra bằng chứng nào. Thực tế là không có bằng chứng nào cả. Không ai kêu gọi ăn mừng chiến thắng, nhưng việc không thừa nhận sự tiến bộ đáng kinh ngạc đã đạt được là không công bằng. Hơn nữa, điều đó chẳng làm gì để ngăn chặn giả định sai lầm cho rằng nhiều linh mục vẫn tiếp tục lạm dụng trẻ vị thành niên.

Không một tổ chức nào khác, dù tôn giáo hay thế tục, có thành tích ấn tượng hơn trong việc chống lại lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên ngày nay hơn Giáo Hội Công Giáo (sẽ nói thêm về điều này sau). Liệu sự tiến bộ có hoàn toàn là nhờ vào các cải cách ở Dallas? Không, nhưng phần lớn là như vậy. Thực tế là số lượng cáo buộc đã giảm trước khi cải cách được tiến hành là bằng chứng cho thấy sự tiến bộ không thể chỉ được quy cho các chuẩn mực mới. Thứ nhất, cuộc cách mạng tình dục bắt đầu suy yếu. Cũng đúng là nhiều giám mục bắt đầu đứng lên, một số vì nghĩa vụ và một số khác vì sợ hãi. Dù sao đi nữa, những người phản đối vẫn còn đó, từ chối thừa nhận sự tiến bộ.

Tiến sĩ Mary Gail Frawley-O’Dea, một nhà tâm lý học, đã được mời phát biểu trước các giám mục ở Dallas. Vào tháng 1 năm 2003, bà dự đoán rằng cuộc khủng hoảng sẽ sớm tái xuất hiện. “Các vị sẽ thấy một loại bong bóng nào đó vào năm 2005, khi những người bị lạm dụng vào những năm 1990 lên tiếng.” (53) Bà đã sai. Điều đó chưa bao giờ xảy ra. Chính xác hơn là Gregory Erlandson và Matthew Bunson, những người đã lưu ý vào năm 2010 rằng “Giáo hội Hoa Kỳ, vốn trong vài năm là tâm điểm của các vụ tai tiếng, hiện đang dẫn đầu trong việc thiết lập các chuẩn mực và cung cấp hướng dẫn để đối phó với các linh mục lạm dụng, hỗ trợ các nạn nhân và ngăn chặn các tội ác tiếp theo.” (54)

Tin tốt về những tiến bộ đã đạt được không được đón nhận tốt bởi những người thích chìm đắm trong tin xấu. Họ có thể được tìm thấy ở cả cực hữu lẫn cực tả. Cánh hữu nói rằng Công đồng Vatican II đã thực hiện quá nhiều cải cách; cánh tả nói rằng nó chưa đủ. Cả hai bên đều thích khi tin xấu xuất hiện — họ chuyển sang chế độ tự chúc mừng.

Khi Tổng Giám mục New York Timothy Dolan được phỏng vấn trên chương trình 60 Minutes vào năm 2011, ngài nói rằng vụ tai tiếng lạm dụng tình dục đã “kết thúc”. Điều đó đã khiến Jamie Manson của National Catholic Reporter nổi giận. Bà đã tấn công Dolan vì nhận xét của ngài, không đưa ra bằng chứng nào cho thấy ngài đã sai. (55) Ngài không sai. Một năm sau, vào dịp kỷ niệm 10 năm loạt bài của tờ Boston Globe về vụ tai tiếng, điều tốt nhất mà tờ báo có thể làm là đăng một câu ngắn gọn, không đáng kể. (56) Nếu tình hình trong Giáo hội xấu đi, tờ báo hẳn đã đăng một bài báo dài trên trang nhất; nhưng với những tin tốt lành, đơn giản là không đáng để nói nhiều về điều đó.

Những cáo buộc vô căn cứ cho rằng Giáo hội không thay đổi được đưa ra liên tục, và từ những nguồn tin nổi tiếng. Vào tháng 10 năm 2019, có một bài xã luận giận dữ trên tờ Washington Post về việc Vatican không xử lý thẳng thắn vụ việc của cựu Hồng Y Theodore McCarrick. Bài xã luận đã đúng về điều đó - lẽ ra phải có một sự giải trình đầy đủ vào thời điểm đó - nhưng những người ở tờ báo đã để cảm xúc chi phối suy nghĩ của họ về những vấn đề gần gũi hơn. Bài xã luận đề cập đến “những cáo buộc mới… về hiếp dâm, hành hung, quấy rối và những hành vi tàn bạo khác”. (57) Điều này khiến người đọc nghĩ rằng vụ tai tiếng vẫn đang tiếp diễn. Điều này đơn giản là không đúng sự thật.

Đức ông Stephen Rossetti, người am hiểu vấn đề này, đã lưu ý vào năm 2018 rằng nghiên cứu đầu tiên của Đại học John Jay cho thấy 4% linh mục bị cáo buộc lạm dụng trẻ vị thành niên. “Con số này đã giảm mạnh và hiện được ước tính là dưới 1%.” (58) Bằng chứng rõ ràng hơn về sự tiến bộ vượt bậc có thể được tìm thấy bằng cách đọc các báo cáo khác nhau do các giáo phận và tổng chưởng lý tiểu bang công bố.

Vào tháng 3 năm 2019, luật sư kiện Giáo hội Jeff Anderson đã ban hành một báo cáo về các linh mục bị cáo buộc ở Illinois trong nửa thế kỷ qua. Có nhiều bài báo trên phương tiện truyền thông về 395 linh mục được nêu tên trong báo cáo, nhưng hầu hết đều không đầy đủ. Không phải tất cả đều là linh mục: báo cáo bao gồm cả phó tế, chủng sinh, tu sĩ và nữ tu. Một số linh mục đến từ các dòng tu, không thuộc quyền tài phán của giám mục. Trong các trường hợp khác, các linh mục của dòng tu không đến từ Illinois, và các hành vi phạm tội bị cáo buộc của họ, nếu có xảy ra, có thể không diễn ra ở đó. Hơn nữa, đây chỉ là những cáo buộc, hầu hết trong số đó chưa bao giờ được chứng minh tại tòa án. Điều thực sự quan trọng là: trong số 395 người được đề cập, 394 người hoặc đã chết hoặc bị đuổi khỏi chức vụ! (59) Điều đó chỉ còn lại một người. Điều này không phải cho thấy rằng vụ tai tiếng không còn là một cuộc khủng hoảng ở Hoa Kỳ nữa sao?

Vào tháng 4 năm 2019, Giáo phận Sacramento đã công bố một báo cáo về 1,500 thành viên giáo sĩ đã phục vụ trong giáo phận trong bảy mươi năm qua. Có 44 linh mục bị cáo buộc, chiếm khoảng 3% tổng số. Quan trọng là, 3 linh mục đã gây ra khoảng một nửa số vụ lạm dụng. (60) Nói cách khác, hầu hết các linh mục chưa bao giờ tham gia vào việc lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên.

Vào tháng 9 năm 2019, tổng chưởng lý Missouri Eric Schmitt đã ban hành một báo cáo về lạm dụng tình dục do các linh mục, phó tế, chủng sinh và nữ tu gây ra. Người ta xác định rằng 163 linh mục trong số hơn 2,000 người làm việc tại Missouri kể từ Thế chiến II đã bị cáo buộc. Hơn một nửa trong số họ đã chết. Trong số 154 linh mục có cung cấp ngày tháng, tất cả trừ 15 cáo buộc xảy ra trước năm 1990 (chỉ có ba cáo buộc trong những năm 2010); 117 vụ việc xảy ra trong những năm 1960, 1970 và 1980. (61) Tóm lại, cuộc khủng hoảng không còn tồn tại nữa.

Vào tháng 10 năm 2019, tổng chưởng lý Colorado đã công bố một báo cáo về lạm dụng tình dục trong Giáo Hội Công Giáo trong bảy mươi năm qua. Báo cáo cho thấy trong số 166 linh mục được nêu tên, 5 người đã lạm dụng 102 trẻ vị thành niên, chiếm 61% tổng số. Trên thực tế, 2 người chịu trách nhiệm cho 82 vụ việc. Có tới 84% nạn nhân là nam giới, và hầu hết đều đã qua tuổi dậy thì, có nghĩa là những kẻ gây hại cho họ là người đồng tính. (62) Một lần nữa, chúng ta thấy rằng một vài linh mục xấu đã gây ra hầu hết các hành vi phạm tội.

Tình hình tương tự ở New York. Năm 2019, Hồng Y Timothy Dolan, tổng giám mục New York, tuyên bố rằng hầu hết các vụ lạm dụng đều xảy ra trong thế kỷ trước và trong số 120 linh mục được nêu tên trong báo cáo, nhiều người đã chết và không ai còn đang phục vụ trong giáo hội. (63)

Nhận thức của công chúng có nhiều sai lệch

“Ở Hoa Kỳ không có quá một trăm người ghét Giáo Hội Công Giáo. Tuy nhiên, có hàng triệu người ghét những gì họ tin tưởng một cách sai lầm là Giáo Hội Công Giáo—tất nhiên, đó là một điều hoàn toàn khác.” Những lời đó vẫn đúng cho đến ngày nay như năm 1938, khi Fulton J. Sheen, khi đó là một giám mục, viết chúng. (64)

Khi vụ tai tiếng lên trang nhất các tờ báo vào năm 2002, một cuộc thăm dò của Wall Street Journal-NBC News cho thấy 64% tin rằng các linh mục Công Giáo “thường xuyên” lạm dụng trẻ em. (65) Mười năm sau, người ta thấy rằng chỉ có 21% người Công Giáo có thể xác định chính xác rằng các vụ lạm dụng phổ biến hơn trước năm 1985 so với sau đó. (66) Các giám mục và linh mục quản xứ cũng phải chịu trách nhiệm phần lớn về sự thiếu hiểu biết này; nhiệm vụ của họ là giáo dục các tín hữu, nhưng ít người giảng giải đề cập đến bất cứ điều gì về những tiến bộ đã đạt được.

Năm 2018, một cuộc thăm dò của CBS đã hỏi những người được hỏi về mức độ nghiêm trọng của việc lạm dụng tình dục của các linh mục. Đây là kết quả: rất nghiêm trọng, 69%; hơi nghiêm trọng, 21%; không quá nghiêm trọng, 7%; không biết hoặc không trả lời, 4%. (67) Nếu câu hỏi này được đặt ra trong khoảng thời gian từ giữa những năm 1960 đến giữa những năm 1980, kết quả có thể sẽ ngược lại: chúng ta sẽ kỳ vọng rằng khoảng 7% sẽ nói rằng có một vấn đề “rất nghiêm trọng”, và khoảng 69% sẽ nói rằng vấn đề đó “không quá nghiêm trọng”. Nghịch lý ở đây là: mốc thời gian vừa nêu chính xác là giai đoạn mà hầu hết các vụ lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên diễn ra, nhưng ít người biết đến điều đó. Ngày nay, hầu như không có vụ lạm dụng nào xảy ra, nhưng chuông cảnh báo vẫn vang lên.

Vào mùa xuân năm 2019, một cuộc khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Pew cho thấy tám trong mười người Mỹ tin rằng lạm dụng tình dục của giáo sĩ Công Giáo là một “vấn đề đang diễn ra”, trong khi chỉ có 12% nói rằng những vấn đề này “đã xảy ra trong quá khứ và hầu như không còn xảy ra nữa”; Một phần tư số người Công Giáo, tức 24%, có quan điểm thứ hai. (68)

Sự hiểu sai này đáng lo ngại đến mức nào, điều tồi tệ hơn nữa là nhiều nhà lãnh đạo Công Giáo nổi tiếng lại từ chối thách thức quan điểm méo mó này. Tại một hội nghị lãnh đạo giáo dân được tổ chức vào năm 2019 tại Đại học Georgetown, dữ liệu của Pew đã được thảo luận, nhưng không ai bận tâm đến việc đính chính lại: dữ liệu bác bỏ nhận thức bất lợi rằng vụ tai tiếng vẫn đang tiếp diễn.

Vào tháng 11 năm 2019, NBC đã công bố một cuộc khảo sát thú vị về những người Công Giáo làm việc cho Giáo hội ở một cương vị nào đó. Kết quả cho thấy gần bốn trong mười người (39%) nói rằng vụ tai tiếng lạm dụng tình dục “vẫn là một vấn đề lớn”; 14% nói rằng nó “không còn là một vấn đề lớn nữa”; và 46% nói rằng điều này chưa bao giờ là vấn đề lớn hơn đối với Giáo Hội Công Giáo so với các định chế khác tham gia chăm sóc trẻ vị thành niên. Các nữ tu là những người lo ngại nhất và thiếu thông tin nhất, với 56% tin rằng nó vẫn là một vấn đề lớn hiện nay. Trong bộ phim tài liệu truyền hình về cuộc khảo sát này, đài NBC đã cho tôi cơ hội để làm rõ vấn đề. Tôi nói: “Đây là kết quả của việc đầu độc tâm trí công chúng. Hầu hết những kẻ xấu, hầu hết các linh mục lạm dụng tình dục, đều đã chết hoặc không còn phục vụ trong giáo hội nữa. Đó không phải là ý kiến. Đó là sự kiện.” (69)

Ghi chú

(1) Mary Eberstadt, “Con voi trong phòng thánh”, Weekly Standard, ngày 17 tháng 6 năm 2002. Xem thêm bài báo của Eberstadt “Con voi trong phòng thánh, xem xét lại”, Weekly Standard, ngày 24 tháng 9 năm 2018.
(2) 60 Minutes II, bản ghi chép của CBS News, ngày 12 tháng 6 năm 2002.
(3) Đã dẫn.
(4) Michael D’Antonio, Tội trọng: Tình dục, tội ác và kỷ nguyên tai tiếng Công Giáo (New York: Nhà xuất bản St. Martin’s Press, 2013), 37-39.
(5) Jeremy Rogalski và Tina Macias, “Linh mục Công Giáo từ bỏ áo choàng để đấu tranh cho nạn nhân bị lạm dụng tình dục bởi giáo sĩ”, WUSA9, ngày 10 tháng 1 năm 2019, https://www.wusa9.com/article/news/investigations/unforgivable/catholicpriest-shuns-collar-to-fight-for-survivors-of-clergy-sexual-abuse/2851d16e66d-5a17-4f14-a074-7793c8cac10d.
(6) Daniel J. Wakin, “Linh mục Công Giáo giúp đỡ nạn nhân bị lạm dụng tình dục trong nhà thờ mất việc”, New York Times, ngày 29 tháng 4 năm 2004,
https://www.nytimes.com/2004/04/29/us/catholic-priest-who-aids-churchsexual-abuse-victims-loses-job-military-chaplain.html.
(7) Tom Roberts, “Thomas Doyle theo dõi sự tan rã của Văn hóa giáo sĩ/phân cấp”, National Catholic Reporter, ngày 27 tháng 11 năm 2018,
http://www.ncronline.org/news/accountability/ncr-
connections/thomas-doyle-traces-disintegration-clericalhierarchicalculture.
(8) Nhận xét của tôi có thể được tìm thấy trên trang web của Liên đoàn Công Giáo, http://www.catholicleague.org, trong bản tóm tắt báo cáo thường niên năm 2002.
(9) Dan Barry và Robin Toner, “Người Công Giáo Hoa Kỳ, Buồn bã và Tức giận, Nhưng vẫn Giữ vững Đức tin”, New York Times, ngày 24 tháng 3 năm 2002, A1.
(10) Đã dẫn.
(11) Victor L. Simpson, “Đức Giáo Hoàng: Lạm dụng trong vụ tai tiếng tình dục là một tội ác”, Associated Press, ngày 23 tháng 4 năm 2002.
(12) Nhóm điều tra của tờ Boston Globe, Sự phản bội: Cuộc khủng hoảng trong Giáo Hội Công Giáo (Boston: Little Brown and Company, 2002), 112.
(13) Laurie Goodstein, “Vụ tai tiếng trong Giáo hội: Các Hồng Y; Nhiệm vụ khôi phục uy tín”, New York Times, ngày 21 tháng 4 năm 2002, A1.
(14) Matt Stearns và Scott Canon, “Các Giám mục sẽ giải quyết ‘khủng hoảng lãnh đạo’ tại Hội nghị”, Knight Ridder / Tribune News Service, ngày 9 tháng 6 năm 2002.
(15) Bill Donohue, “Các Giám mục soạn thảo văn bản hợp lý”, ngày 4 tháng 6 năm 2002, http://www.catholicleague.org.
(16) Bill Donohue, “Luật pháp được áp dụng—ngay cả đối với Giáo hội”, ngày 7 tháng 6 năm 2002, https://www.catholicleague.org/rule-of-law-applies-even-to-thechurch-2/.
(17) Bill Donohue, “Mọi ánh mắt đều đổ dồn về Dallas”, New York Times, quảng cáo trang xã luận, ngày 7 tháng 6 năm 2002, A27, đăng trên Catholic League, http://70.40.202.97/wpcontent/uploads/2011/09/ALL-EYES-ARE-ON-DALLAS.pdf.
(18) “Các thỏa thuận bí mật Pr “Bảo vệ những kẻ săn mồi tình dục”, USA Today, ngày 12 tháng 11 năm 2017, http://www.usatoday.com/story/opinion/2017/ii/12/secretsettlements-protect-sexual-predators-weinstein-assault/833861001/.
(19) Alexandra Alter, “Cuốn sách mới về Weinstein nêu tên những nguồn tin chưa từng được biết đến trước đây”, New York Times, ngày 10 tháng 9 năm 2019, B4.
(20) Bill Donohue, “Các Giám mục đạt được tiến bộ nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm”, ngày 14 tháng 6 năm 2002, http://www.catholicleague.org.
(21) Laurie Goodstein và Sam Dillon, “Những vụ tai tiếng trong Giáo hội: Hội nghị Giám mục; “Các Giám mục Đặt Chính sách Loại bỏ Linh mục trong Các Vụ Lạm dụng Tình dục”, New York Times, ngày 15 tháng 6 năm 2002, A1.
(22) Avery Dulles, “Quyền của các Linh mục Bị buộc tội: Hướng tới việc sửa đổi Hiến chương Dallas và các Chuẩn mực Thiết yếu”, America, ngày 21 tháng 6 năm 2004, https://www.americamagazine.org/issue/488/article/rights-accusedpriests.
(23) Nicole Winfield, “Vatican Ban hành Báo cáo Chỉ trích Chính sách”, Associated Press, ngày 23 tháng 2 năm 2004.
(24) “Các Giám mục ở Ngã ba Đường”, New York Times, ngày 9 tháng 6 năm 2002, A14.
(25) Andrew Greeley, “Giáo triều thiếu hiểu biết không lắng nghe sự tức giận của Hoa Kỳ”, Chicago Sun-Times, ngày 25 tháng 10 năm 2002, 47.
(26) Thomas G. Guarino, “Betsy DeVos và các Giám mục”, First Things, ngày 8 tháng 12 năm 2017, https://www.firstthings.com/webexclusives/2017/12/betsy-devos-and-the-bishops.
(27) Thomas G. Guarino, “Mặt tối của Hiến chương Dallas”, First Things, ngày 2 tháng 10 năm 2019, https://www.firstthings.com/webexclusives/2019/10/the-dark-side-of-the-dallas-charter.
(28) Christopher White, “Hai thập kỷ khủng hoảng, vẫn chưa có sự đồng thuận về ý nghĩa của cụm từ ‘Bị cáo buộc một cách đáng tin cậy’”, Crux, ngày 19 tháng 12, 2018,
https://cruxnow.com/church-in-the-usa/2018/12/two-decades-into-crisis-noconsensus-on-what-credibly-accused-means/.
(29) George Pell, Nhật ký nhà tù: Hồng Y đưa ra lời kêu gọi của mình (San Francisco: Ignatius Press, 2020).
(30) Maureen Loftus Hogel, “Người chết không thể tự bào chữa”, Washington Post, ngày 29 tháng 4 năm 2019, A20.
(31) Cathleen Falsani và Stefano Esposito, “Cảnh sát muốn buộc tội linh mục sớm hơn: Nguồn tin cho biết Tổng giáo phận khuyên McCormick nên im lặng”, Chicago Sun-Times, ngày 25 tháng 1 năm 2006, 3.
(32) Karen J. Terry, Trường Cao đẳng Tư pháp Hình sự John Jay (JJCCJ), và Hoa Kỳ Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ (USCCB), Bản chất và phạm vi lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên bởi các linh mục và phó tế Công Giáo tại Hoa Kỳ giai đoạn 1950-2002: Một nghiên cứu do Trường Cao đẳng Tư pháp Hình sự John Jay thực hiện (Washington, D.C.: Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ, 2004), 27.
(33) Laurie Goodstein, “Những thập kỷ tổn hại; “Dấu vết đau thương trong cuộc khủng hoảng Giáo hội Dẫn đến hầu hết mọi giáo phận”, New York Times, ngày 12 tháng 1 năm 2003, 1.
(34) Andrew Greeley, “Vấn đề lạm dụng tình dục bởi giáo sĩ nghiêm trọng đến mức nào?”, America, ngày 20 tháng 3 năm 1993. 7.
(35) Terry, JJCC J, và USCCB, Bản chất và phạm vi, 4.
(36) Greeley, “Vấn đề nghiêm trọng đến mức nào?”, 7.
(37) Terry, JJCC J, và USCCB, Bản chất và phạm vi, 6.
(38) Đã dẫn, 9-10.
39 Đã dẫn, 7.
(40) Michael Paulson, “Nghiên cứu về lạm dụng cho thấy 4% linh mục ở Mỹ bị cáo buộc”, Boston Globe, ngày 17 tháng 2, 2004,
http://archive.boston.com/news/nation/articles/2004/02/17/abuse_study_say s_4_of_priests_in_us_accused/..
(41) Terry, JJCCJ, và USCCB, Bản chất và Phạm vi, 94.
(42) Alan Cooperman, “Hàng trăm linh mục bị cách chức kể từ những năm 60; “Khảo sát cho thấy phạm vi rộng hơn so với những gì đã được tiết lộ”, Washington Post, ngày 9 tháng 6 năm 2002, A1.
(43) Goodstein, “Thập kỷ thiệt hại”.
(44) Phỏng vấn Bill O’Reilly, The O’Reilly Factor, phát sóng ngày 3 tháng 5 năm 2002 trên Fox News.
(45) Bob von Sternberg, “Bảo hiểm không đủ trong các vụ lạm dụng trong nhà thờ; Các giáo phận Công Giáo buộc phải tìm các nguồn khác để trả tiền bồi thường”, Star Tribune, ngày 27 tháng 7 năm 2002, 1A.
(46) Andrew M. Greeley, “Thời đại và lạm dụng tình dục bởi các linh mục”, America, ngày 10 tháng 2 năm 2003, 17.
(47) Terry, JJCCJ và USCCB, Bản chất và phạm vi, 6.
(48) Đã dẫn.
(49) Bart Jones và Craig Schneider, “Giáo Hội Công Giáo tại ‘Bước ngoặt’”, Newsday, ngày 7 tháng 3 năm 2019, https://www.newsday.com/longisland/catholic-church-sex-abuse-scandal-1.28150439.
(50) Các số liệu được lấy từ các cuộc kiểm toán của Hội đồng Đánh giá Quốc gia trong Báo cáo Thường niên về Việc Thực hiện Hiến chương Bảo vệ Trẻ em và Thanh thiếu niên, được tìm thấy trên trang web của Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ (USCCB). Sau đây là số trang cho mỗi năm được trích dẫn: 2004, 7; 2005, 29; 2006, 8; 2007, 28; 2008, 28; 2009, 35; 2010, 35; 2011, 3; 2012, 4; 2013, 9; 2014, vii; 2015, vii; 2016, vii; 2017, vii; 2018, vi; 2019, 28. Lưu ý: các báo cáo kiểm toán cho các năm 2004-2010 liệt kê số lượng cáo buộc đáng tin cậy; các số liệu cho năm 2011-2012 là số lượng được cơ quan thực thi pháp luật đánh giá là đáng tin cậy; các số liệu cho năm 2013-2019 là số lượng cáo buộc đã được chứng thực..
(51) Francesco C. Cesareo, Thư gửi Hồng Y Daniel DiNardo, ngày 27 tháng 2 năm 2019. Xem trang vi của báo cáo thường niên năm 2018 trên trang web của USCCB.
(52) Claudia Lauer và Meghan Hoyer (AP), “Hàng trăm giáo sĩ bị cáo buộc bị loại khỏi danh sách lạm dụng tình dục của Giáo hội”, Time, Salt Lake Tribune, ngày 30 tháng 12 năm 2019, https://www.sltrib.com/news/nation-world/2019/12/28/hundredsaccused-clergy/.
(53) Goodstein, “Hàng thập kỷ tổn hại”.
(54) Gregory Erlandson và Matthew Bunson, Giáo hoàng Bê-nê-đic-tô XVI và cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục: Nỗ lực chuộc lỗi và đổi mới (Huntington, Ind.: Our Sunday Visitor, 2010), 13.
(55) Jamie Manson, “Dolan trên chương trình 60 Minutes: ‘Người quyến rũ’ hay ‘Kẻ quở trách gay gắt’?”, National Catholic Reporter, ngày 22 tháng 3 năm 2011,
http://www.ncronline.org/blogs/grace-margins/dolan-60-minutes-charmeror-shrill-scold.
(56) “Ngày này trong lịch sử”, bài xã luận của Boston Globe, ngày 13 tháng 6 năm 2012, G34.
(57) “Ông McCarrick ‘bất khả xâm phạm’”, Washington Post, ngày 26 tháng 10 năm 2019, A16.
(58) Stephen Rossetti, “Năm cách để bảo vệ trẻ em ở khắp mọi nơi”, America, ngày 20 tháng 9 năm 2018, http://www.americamagazine.org/politicssociety/2018/09/20/five-ways-safeguard-children-everywhere.
(59) Corky Siemaszko, “Khoảng 390 linh mục Công Giáo và 6 nữ tu ở Illinois bị nêu tên là những kẻ bị cáo buộc lạm dụng tình dục trong một danh sách khổng lồ”, NBC News, ngày 20 tháng 3 năm 2019, https://www.nbcnews.com/news/us-news/about-390-catholic-priests-6nuns-ill-named-alleged-sexual-n985581.
(60) Marcus Bretón và Alexandra Yoon-Hendricks, “Danh tính của hơn 40 linh mục khu vực Sacramento bị cáo buộc lạm dụng tình dục được tiết lộ”, Sacramento Bee, ngày 30 tháng 4 năm 2019, https://www.sacbee.com/news/local/article229815334.html.
(61) Eric Schmitt, Báo cáo Điều tra Lạm dụng Tình dục của Giáo sĩ Giáo Hội Công Giáo, Ngày 13 tháng 9 năm 2019, Văn phòng Tổng chưởng lý Missouri,
https://ago.mo.gov/docs/default-source/pressreleases/2019/catholicchurchclergyabuseinvestigationreport.pdf.
(62) Lạm dụng tình dục trẻ em của Giáo sĩ Công Giáo Rô-ma ở Colorado từ năm 1950 đến năm 2019, Báo cáo của Chuyên gia Đặc biệt, ngày 22 tháng 10 năm 2019, Văn phòng Tổng chưởng lý Colorado, https://coag.gov/app/uploads/2019/10/Special-MastersReport_10.22.19_FINAL.pdf.
(63) Jennifer Peltz, “Tổng giáo phận New York nêu tên 120 linh mục bị cáo buộc lạm dụng tình dục”, Associated Press, ngày 26 tháng 4 năm 2019, https://apnews.com/c2d572976fdc4e1fb2aa2e9903cb3a2f.
(64) Tod Worner, “Cha Fulton Sheen và hàng triệu người căm ghét Giáo Hội Công Giáo”, Aleteia, ngày 20 tháng 6 năm 2016,
https://aleteia.org/2016/06/20/father-fulton-sheen-the-millions-who-hatethe-catholic-church/.
(65) Pat Wingert, “Các linh mục không phạm tội lạm dụng nhiều hơn những người đàn ông khác”, Newsweek, ngày 7 tháng 4 năm 2010, https://www.newsweek.com/priests-commit-nomore-abuse-other-males-70625.
(66) Mark M. Gray, “Nỗi đau không bao giờ biến mất khỏi những vết thương chưa lành”, 1964 (blog), ngày 8 tháng 8 năm 2018, http://nineteensixty-
four.blogspot.com/2018/08/pain-never-disappears-fromunhealed.html.
(67) Fred Backus và Jennifer De Pinto, “Người Mỹ Công Giáo đánh giá thấp Giáo hoàng về cách xử lý vụ tai tiếng lạm dụng tình dục – Khảo sát của CBS News”, CBS News, ngày 17 tháng 10 năm 2018, http://www.cbsnews.com/news/catholicamericans-give-pope-poor-marks-on-handling-sex-abuse-scandal-cbs-newspoll.
(68) “Người Mỹ coi lạm dụng tình dục của giáo sĩ Công Giáo là một vấn đề đang diễn ra”, Trung tâm Nghiên cứu Pew, ngày 11 tháng 6 năm 2019,
https://www.pewforum.org/2019/06/11/americans-see-catholic-clergy-sexabuse-as-an-ongoing-problem/.
(69) Chris Glorioso và Evan Stulberger, “Khảo sát tiết lộ nhân viên Giáo Hội Công Giáo chia rẽ về vấn nạn lạm dụng tình dục của giáo sĩ và cải cách”, NBC, cập nhật ngày 6 tháng 12 năm 2019, https://www.nbcsandiego.com/news/nationalinternational/survey-reveals-employees-of-catholic-church-divided-onclergy-abuse-and-reforms/2194308/.
 
VietCatholic TV
Vua Charles xuất sắc bảo vệ Ukraine và NATO ở Quốc Hội Mỹ. Trump-Merz bùng nổ. Kho Iskander tan tành
VietCatholic Media
02:51 29/04/2026


1. Vua Charles gửi thông điệp ngầm thách thức Tổng thống Trump về NATO và Ukraine.

Các vị vua và nữ hoàng Anh thường truyền tải thông điệp chính trị của mình bằng mật mã — và lời ám chỉ mà chúng ta vừa nghe từ Vua Charles đưa ra về sự kiện 11/9 rất đáng để phân tích. “Ngay sau sự kiện 11/9, khi NATO lần đầu tiên viện dẫn Điều 5… chúng ta đã cùng nhau đáp lại lời kêu gọi, như người dân của chúng ta đã làm trong hơn một thế kỷ qua, sát cánh bên nhau”, nhà vua nói.

Đừng nhầm lẫn — đây là một lời phản bác có chủ đích nhắm vào Tổng thống Trump và các đồng minh của ông trong Quốc hội, trái ngược với những tuyên bố lặp đi lặp lại của tổng thống trong những tuần gần đây, NATO thực sự đã có mặt để giúp đỡ nước Mỹ trong lúc khó khăn. Charles sẽ đến thăm đài tưởng niệm 11/9 ở thành phố New York vào ngày Thứ Tư, 29 Tháng Tư, vì vậy các vụ tấn công xảy ra ở đó gần 25 năm trước vẫn còn rất được quan tâm.

Nhà vua còn đi xa hơn nữa, liên kết khoảnh khắc quan trọng năm 2001 với nhu cầu duy trì sự đoàn kết của phương Tây trong việc hỗ trợ Ukraine khi chiến tranh vẫn tiếp diễn. “Ngày nay,” Vua Charles nói, “quyết tâm kiên định đó là cần thiết để bảo vệ Ukraine và người dân dũng cảm nhất của nước này — nhằm bảo đảm một nền hòa bình thực sự công bằng và lâu dài.”

Nhà vua đang thể hiện một giọng điệu hoàn toàn khác so với những lời chỉ trích không ngừng nghỉ của Tổng thống Trump và Phó tổng thống Mỹ James David Vance đối với Ukraine và Tổng thống Volodymyr Zelenskiy. Vua Charles đã gặp riêng Tổng thống Zelenskiy nhiều lần trong vài năm qua. Đoạn văn này là lời kêu gọi trực tiếp tới Tổng thống Trump và các Dân biểu Cộng hòa tại Quốc hội để duy trì sự ủng hộ của Mỹ chống lại cuộc xâm lược của Nga.

Các nhà lập pháp thuộc cả hai đảng đều ca ngợi bài phát biểu lịch sử của Vua Charles Đệ Tam trước Quốc hội hôm thứ Ba.

Vua Charles đã ca ngợi những điểm tương đồng giữa Anh và Mỹ, kêu gọi sự đoàn kết và lên án bạo lực, thậm chí còn pha trò vài câu. Cựu Phó Tổng thống Mike Pence nhận xét đó là một bài phát biểu “truyền cảm hứng”.

“Việc ông ấy khẳng định các giá trị và lịch sử chung của chúng ta chính là thông điệp đúng đắn để tái khẳng định mối quan hệ đặc biệt giữa Hoa Kỳ và Vương quốc Anh,” Pence viết trên mạng xã hội. “Tuyệt vời, thưa Bệ hạ!”

Trong suốt bài phát biểu của mình, Vua Charles đã nhận được những tràng vỗ tay và ít nhất một tràng pháo tay đứng dậy. Thượng Nghị Sĩ Lindsey Graham Đảng Cộng Hòa đơn vị Nam Carolina gọi bài phát biểu là “liều thuốc tinh thần rất cần thiết”.

“Nói một cách đơn giản: Nhà vua đã làm rất tốt,” Graham viết. “Bài phát biểu là sự kết hợp tuyệt vời giữa sự dí dỏm, hài hước, lịch sử và lòng biết ơn. Tôi tin rằng hầu hết các thành viên Quốc hội đều cảm thấy tốt hơn sau bài phát biểu so với trước đó. Mặc dù tôi phải thừa nhận rằng việc tạo ra cảm giác đoàn kết lại đến từ Vua nước Anh có vẻ hơi kỳ lạ… nhưng thôi kệ vậy!”

Cựu Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc Nikki Haley cũng lên tiếng: “Thật tuyệt vời khi thấy Vua Charles đoàn kết Quốc hội theo cách mà nước Mỹ mong muốn.”

Trong khi đó, Lãnh đạo phe thiểu số tại Thượng viện Chuck Schumer cho rằng bài phát biểu của nhà vua nên được xem như một “lời nhắc nhở” về sự cần thiết của các đồng minh, một lời chỉ trích trực tiếp nhắm vào Tổng thống Trump, người đã chỉ trích các đồng minh của Mỹ về hàng loạt vấn đề, trong khi không ngừng ca ngợi trùm mafia Vladimir Putin và trải thảm đỏ đón tên tội phạm chiến tranh như một vị quốc khách.

Thượng Nghị Sĩ Schumer viết: “Chuyến thăm của Quốc vương Charles Đệ Tam nên là lời nhắc nhở đối với Tổng thống Hoa Kỳ và mọi quan chức được bầu ở đất nước này: bạn bè và đồng minh rất quan trọng.”

Vua Charles đã nhận được tràng vỗ tay vang dội khi ông nhấn mạnh tầm quan trọng của cơ chế kiểm soát và cân bằng trong bài phát biểu trước Quốc hội.

Vua Charles đã chỉ ra Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1689 của Vương quốc Anh như là nền tảng cho Hiến chương Nhân quyền của Mỹ, bao gồm cả Magna Carta do Vua John của Anh ban hành.

“Hiệp hội Lịch sử Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã tính toán rằng Magna Carta được viện dẫn trong ít nhất 160 vụ án của Tòa án Tối cao kể từ năm 1789, đặc biệt là với tư cách là nền tảng của nguyên tắc rằng quyền hành pháp phải chịu sự kiểm soát và cân bằng,” Vua Charles nói.

Gần như ngay lập tức, các thành viên đứng dậy, reo hò, huýt sáo và vỗ tay vang dội.

Lời ám chỉ này dường như nhằm thẳng vào Tổng thống Trump. Trong khi tại các quốc gia khác, những kẻ dính líu đến vụ tai tiếng hồ sơ Jeffrey Epstein, kể cả hoàng thân Vương Quốc Anh đều bị trừng phạt nghiêm khắc, cho đến nay tại Hoa Kỳ, nơi xảy ra vụ Epstein, chưa có ai bị gì cả.

Hiến chương Magna Carta, được ký năm 1215, quy định rằng mọi người — kể cả nhà vua — đều phải tuân theo luật pháp của quốc gia. Hiến chương này cũng bảo đảm quyền được xét xử công bằng, quyền được xét xử bởi bồi thẩm đoàn và các quyền cơ bản khác.

Đảng Dân chủ đã nhiều lần cáo buộc Tổng thống Trump cố gắng lách luật, thậm chí còn nói rằng tổng thống tin rằng ông ta đứng trên cả luật pháp.

[Politico: King Charles issues coded challenge to Trump over NATO and Ukraine]

2. Thủ tướng Ba Lan Tusk cho biết Ukraine sẽ giúp Ba Lan xây dựng “hạm đội máy bay điều khiển từ xa hiện đại”.

Ngày 27 tháng 4, Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk thông báo rằng Ba Lan đang khởi động một dự án mới nhằm xây dựng một đội máy bay điều khiển từ xa hiện đại với sự hỗ trợ chuyên môn kỹ thuật từ Ukraine và nguồn tài trợ của Âu Châu.

“Ukraine đã chứng tỏ mình là một đối tác đáng tin cậy cho các quốc gia muốn tự vệ trước các cuộc tấn công trên không”, ông Tusk phát biểu tại một sự kiện ở thành phố Rzeszow, phía đông nam Ba Lan, nơi ông gặp Thủ tướng Ukraine Yuliia Svyrydenko.

“Do đó, tôi có thể khẳng định với sự hài lòng lớn rằng dự án xây dựng đội máy bay điều khiển từ xa của Ba Lan sẽ được hỗ trợ bởi chuyên môn kỹ thuật và bí quyết của những người bạn Ukraine của chúng ta.”

Warsaw đã tăng cường nỗ lực hợp tác với Ukraine trong việc phát triển hệ thống điều khiển từ xa, đặc biệt là sau vụ máy bay điều khiển từ xa của Nga bị bắn rơi trên không phận Ba Lan vào tháng 9 năm 2025.

Ông Tusk cho biết hạm đội máy bay điều khiển từ xa mới của Ba Lan sẽ tăng cường an ninh quốc gia cho cả Ba Lan và các đồng minh của nước này.

“Ba Lan cần phải có hạm đội máy bay điều khiển từ xa hiện đại của riêng mình, để chúng ta không chỉ có thể giúp đỡ Ukraine ngày hôm nay, mà còn có thể nói với người dân Ba Lan một cách hoàn toàn tự tin rằng chúng ta an toàn”, ông Tusk phát biểu tại hội nghị an ninh được tổ chức nhằm chuẩn bị cho Hội nghị Phục hồi Ukraine 2026.

Thủ tướng Ba Lan nhấn mạnh rằng quan hệ của Ukraine với Ba Lan và Âu Châu dựa trên sự hợp tác cùng có lợi chứ không phải viện trợ một chiều. Theo ông Tusk, Warsaw đóng vai trò quan trọng trong việc tiên phong mô hình hợp tác này.

Cuộc chiến Nga-Ukraine đã chứng kiến những bước tiến nhanh chóng trong công nghệ máy bay điều khiển từ xa, thúc đẩy các quốc gia trên khắp Âu Châu và Trung Đông tìm kiếm sự hỗ trợ chuyên môn của Kyiv trong việc phát triển các hệ thống điều khiển từ xa.

Tại sự kiện, ông Svyrydenko cho biết hợp tác với Ba Lan sẽ tăng cường an ninh cho cả hai nước.

Thủ tướng Ukraine nói: “Chúng ta không cần phải giải thích ở đây thế nào là sự xâm lược của Nga. Chúng ta sát cánh bên nhau trong cuộc chiến vì tự do và hòa bình”.

Ba Lan, một thành viên của NATO và Liên Hiệp Âu Châu, giáp biên giới với Ukraine, đã cung cấp viện trợ quân sự và nhân đạo rộng rãi cho Kyiv kể từ khi Nga phát động cuộc chiến toàn diện vào năm 2022. Sân bay Rzeszow của nước này đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển viện trợ quân sự của phương Tây đến quốc gia bị chiến tranh tàn phá.

[Kyiv Independent: Ukraine to help Poland build 'modern drone armada,' Polish PM Tusk says]

3. Cụ bà chạy trốn chiến sự được robot Ukraine cứu sống

Quân đội Ukraine đã công bố đoạn video cho thấy một robot giải cứu một cụ bà khỏi chiến tuyến ở miền đông Ukraine, trong bối cảnh Kyiv đang mở rộng việc sử dụng robot chiến đấu trên mặt đất để chống lại quân đội Nga.

Theo thông báo đăng trên mạng xã hội của Quân đoàn 3 Ukraine, người phụ nữ 77 tuổi này đã được di dời an toàn khỏi khu vực gần thị trấn Lyman ở phía đông, nơi đang xảy ra giao tranh ác liệt, sau khi được phát hiện đang men theo con đường bị tàn phá bởi các hố bom và giữa những thi thể của người dân thiệt mạng.

Cả Nga và Ukraine đều đã đầu tư mạnh vào công nghệ máy bay điều khiển từ xa kể từ khi Mạc Tư Khoa phát động cuộc xâm lược toàn diện nước láng giềng vào ngày 24 tháng 2 năm 2022. Hai quốc gia này đã tham gia vào một cuộc chạy đua máy bay điều khiển từ xa được theo dõi sát sao, cả hai đều nỗ lực nâng cấp thiết kế của mình nhanh hơn đối phương.

Trong khi máy bay điều khiển từ xa và tàu điều khiển từ xa chở chất nổ của Ukraine đã được nhiều người biết đến, thì đội tàu xe tự hành điều khiển từ xa, gọi tắt là UGV ngày càng lớn mạnh của Kyiv lại thu hút ít sự chú ý hơn.

Những robot này được thiết kế để giữ con người tránh xa nguy hiểm và thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau, chẳng hạn như di tản những khu vực có người bị thương, rải mìn và lao thẳng đến mục tiêu rồi kích nổ.

Hôm thứ Sáu, quân đội Ukraine đã đăng tải một video dài hơn ba phút cho thấy một người phụ nữ khom lưng, tay cầm hai cây gậy chống, di chuyển chậm rãi trên một con đường dài. Đoạn phim, dường như được quay bởi ít nhất một máy bay điều khiển từ xa và một hệ thống đặt trên mặt đất, sau đó cho thấy người phụ nữ không rõ danh tính này tiến đến gần robot và leo lên.

Quân đội Ukraine cho biết, binh lính đã triển khai robot này cùng với một chiếc chăn có dòng chữ “Bà ơi, ngồi xuống đi!”.

Một đoạn phim ngắn sau đó cho thấy một người lính vũ trang mặc quân phục Ukraine giúp người phụ nữ xuống khỏi robot trước khi bà được vận chuyển đi.

Theo Quân đoàn 3, cuộc di tản kéo dài tổng cộng bốn giờ. Quân đội cho biết thêm, ba thường dân khác đang đi bộ trong khu vực đã được máy bay điều khiển từ xa hộ tống đến điểm di tản.

Theo thông báo của quân đội, nhà của người phụ nữ này đã bị phá hủy trong cuộc giao tranh giữa quân đội Nga và Ukraine.

Lyman, một đầu mối hỏa xa quan trọng ở vùng Donetsk phía đông Ukraine, ban đầu bị lực lượng Nga chiếm giữ ngay sau khi Điện Cẩm Linh bắt đầu cuộc xâm lược vào tháng 2 năm 2022.

Sau đó, quân đội Ukraine đã giành lại khu vực này trong cuộc phản công chớp nhoáng của Kyiv vào mùa thu năm 2022, được xem là một trong những chiến dịch thành công nhất của Ukraine trong cuộc chiến.

Donetsk và Luhansk lân cận được gọi chung là vùng Donbas. Nga tuyên bố đã sáp nhập Donbas, cùng với các vùng Kherson và Zaporizhzhia ở phía nam Ukraine.

Năm 2014, Mạc Tư Khoa đã sáp nhập Crimea, bán đảo phía nam lục địa Ukraine.

Nga đã nhiều lần tuyên bố đã kiểm soát toàn bộ Luhansk, mặc dù Ukraine chưa xác nhận điều này. Mạc Tư Khoa đã chiếm được khoảng ba phần tư Donetsk.

Các vùng lãnh thổ bị sáp nhập được quốc tế công nhận là lãnh thổ của Ukraine và là điểm mấu chốt trong các cuộc đàm phán hòa bình hiện đang bế tắc giữa Nga và Ukraine.

Tuần trước, tướng Valery Gerasimov, chỉ huy quân đội Nga, cho biết binh lính Nga đã chiếm được 70% lãnh thổ Lyman.

Tuy nhiên, các nhà phân tích có trụ sở tại Mỹ thuộc Viện Nghiên cứu Chiến tranh, một tổ chức tư vấn theo dõi những thay đổi hàng ngày trên chiến tuyến, cho biết ngay sau đó rằng họ chưa thấy bằng chứng nào cho thấy Mạc Tư Khoa đã kiểm soát bất kỳ vùng lãnh thổ nào trong thị trấn.

Tổng thống Ukraine, Tổng thống Volodymyr Zelenskiy, cho biết hồi đầu tháng này rằng binh lính Ukraine đã giành lại được lãnh thổ bị lực lượng Nga xâm lược chỉ bằng robot điều khiển từ xa, lần đầu tiên sau hơn bốn năm chiến tranh tổng lực. Tổng thống Zelenskiy nói rằng một số binh lính Nga đã “đầu hàng” trước các robot của Ukraine.

Trước đó vào tháng 4, Bộ Quốc phòng Ukraine cho biết robot mặt đất đã hoàn thành hơn 9.000 nhiệm vụ chiến đấu và hậu cần trên tiền tuyến chỉ riêng trong tháng 3, tăng so với con số dưới 3.000 nhiệm vụ vào tháng 11.

Hồi tháng 3, Alexander Kamyshin, một trong những cố vấn của Tổng thống Zelenskiy, người từng đứng đầu Bộ Công nghiệp Chiến lược Kyiv, cho biết tới 30% lực lượng bộ binh của Ukraine có thể được thay thế ngay lập tức bằng robot chiến đấu trên mặt đất. Ông Kamyshin cũng cho rằng con số này có thể tăng lên 80% trong tương lai.

“Bạn có thể tranh luận về các con số hoặc mốc thời gian, nhưng sự thay đổi là không thể phủ nhận,” ông nói thêm. “Xe tự hành trên mặt đất, gọi tắt là UGV là yếu tố thay đổi cuộc chơi.”

[Newsweek: Elderly Woman Fleeing War Fighting Rescued by Ukraine Robot]

4. Tổng thống Trump chỉ trích Thủ tướng Đức Merz về vấn đề Iran.

Tổng thống Trump đã chỉ trích gay gắt khả năng lãnh đạo của Thủ tướng Đức Friedrich Merz trên mạng xã hội hôm thứ Ba, khi ông tiếp tục lên án phản ứng của Âu Châu đối với cuộc chiến đang diễn ra của Mỹ và Israel ở Iran.

Tổng thống Trump cáo buộc Thủ tướng Merz “cho rằng việc Iran sở hữu vũ khí hạt nhân là điều chấp nhận được”. Đây là cáo buộc Tổng thống Trump thường xuyên đưa ra đối với bất cứ ai chống lại cuộc chiến Iran. Ông đã từng đưa ra cáo buộc tương tự với Đức Giáo Hoàng Lêô XIV.

“Ông ta không biết mình đang nói gì!” Tổng thống Trump viết. “Nếu Iran có vũ khí hạt nhân, cả thế giới sẽ bị bắt làm con tin. Tôi đang làm điều gì đó với Iran mà các quốc gia hoặc tổng thống khác lẽ ra phải làm từ lâu rồi. Chẳng trách nước Đức lại làm ăn kém cỏi như vậy, cả về kinh tế lẫn các lĩnh vực khác!”

Lời chỉ trích của Tổng thống Trump được đưa ra sau khi Thủ tướng Đức hôm thứ Hai tuyên bố rằng Mỹ đã bị “lãnh đạo Iran làm nhục”.

Thủ tướng Merz nói: “Rõ ràng người Iran mạnh hơn dự kiến và người Mỹ rõ ràng cũng không có chiến lược nào thực sự thuyết phục trong các cuộc đàm phán”.

Văn phòng của ông ấy chưa đưa ra phản hồi ngay lập tức khi được POLITICO yêu cầu bình luận.

Tổng thống Trump đã chỉ trích các đồng minh Âu Châu vì sự miễn cưỡng hỗ trợ Mỹ trong cuộc xung đột, đặc biệt là sau khi Iran đóng cửa eo biển Hormuz, một tuyến đường quan trọng vận chuyển khoảng 20% lượng dầu mỏ của thế giới.

Trong những ngày đầu của cuộc chiến, Âu Châu đã phản đối lời kêu gọi của Tổng thống Trump về việc tham gia tích cực vào cuộc chiến.

“Âu Châu không có lợi ích gì trong một cuộc chiến tranh không hồi kết,” Phó Chủ tịch Ủy ban Âu Châu Kaja Kallas phát biểu hồi tháng 3. “Đây không phải là cuộc chiến của Âu Châu, nhưng lợi ích của Âu Châu đang bị đe dọa trực tiếp.”

Một quan chức Đức, giấu tên để thảo luận về các cuộc trò chuyện nhạy cảm, đã đặt câu hỏi về tính đúng đắn của việc ông Merz công kích Tổng thống Trump hôm thứ Hai.

“Chúng ta có thể thấy rằng không có ai trong vòng thân cận của Tổng thống Trump có năng lực ngoại giao hay tầm nhìn xa, và ‘nghệ thuật đàm phán’ của ông ta đang đạt đến giới hạn. Chúng ta đã thấy điều này trong các cuộc đàm phán với Ukraine. Tuy nhiên, đây không phải là một tuyên bố khôn ngoan của Thủ tướng Merz, vì nó sẽ tạo ra một rạn nứt sâu sắc hơn trong quan hệ xuyên Đại Tây Dương. Một phần của ngoại giao là không nói ra mọi sự thật. Đôi khi im lặng cũng có giá trị.”

Nhưng trước đây Thủ tướng Merz đã từng chỉ trích khả năng lãnh đạo của tổng thống.

Vào tháng Hai, ông đã phát biểu trước khán giả tại Hội nghị An ninh Munich rằng Mỹ không còn có thể được trông cậy để giám sát trật tự thế giới toàn cầu nữa. Ông nói rằng sự lãnh đạo của Tổng thống Trump đã gây ra “sự chia rẽ sâu sắc” giữa Âu Châu và Hoa Kỳ.

“Vị thế lãnh đạo của Mỹ đang bị thách thức, thậm chí có lẽ đã mất đi,” ông Merz phát biểu tại hội nghị. “Trong thời đại của các cường quốc, tự do của chúng ta không còn được bảo đảm một cách chắc chắn nữa. Nó đang bị đe dọa.”

[Politico: Trump slams German Chancellor Merz over Iran]

5. Tình trạng tắc nghẽn giao thông tàu chở dầu của Iran cho thấy lệnh phong tỏa của Mỹ đang phát huy tác dụng.

Theo hình ảnh vệ tinh mới nhất về trung tâm xuất khẩu chính của Iran, cuộc phong tỏa hải quân của Mỹ nhằm siết chặt nền kinh tế nước này dường như đang phát huy tác dụng.

Michael Clarke, Giáo sư thỉnh giảng về Nghiên cứu Quốc phòng tại King's College Luân Đôn nói với Sky News hôm Thứ Ba, 28 Tháng Tư.

Ông cho biết những bức ảnh chụp ngày 26 tháng 4 do công ty tình báo hàng hải Windward công bố cho thấy hai tàu chở dầu thô với tổng sức chứa 3 triệu thùng đang bốc hàng tại các bến tàu phía đông và phía tây của đảo Kharg ở Vịnh Ba Tư, nơi giải quyết hơn 90% lượng dầu xuất khẩu của Iran năm ngoái.

Những gì tưởng chừng như diễn ra bình thường đối với huyết mạch kinh tế chính của Tehran hóa ra lại không hề như vậy, khi một hàng dài ít nhất tám tàu chở dầu lớn cho thấy đảo Kharg đang “chịu áp lực hoạt động rõ rệt”, theo phân tích của Windward được công bố hôm Chúa Nhật.

Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ, gọi tắt là CENTCOM cùng lực lượng hải quân và không quân thuộc Hạm đội 5 đã thực thi lệnh phong tỏa kể từ ngày 13 tháng 4, với mục đích đã nêu là ngăn chặn việc nhập cảnh và xuất cảnh vào các cảng của Iran đối với hàng hóa buôn lậu, bao gồm vũ khí và năng lượng, cùng nhiều mặt hàng khác.

Các quan chức Mỹ, bao gồm cả Bộ trưởng Tài chính Scott Bessent, đã nói rõ hơn về mục tiêu của Mỹ: buộc Iran phải tích trữ thay vì xuất khẩu dầu thô, dẫn đến giảm sản lượng, đóng cửa các giếng dầu và cuối cùng là mất đi nguồn thu chính của chính phủ, vốn dùng để trả lương cho công chức và binh lính.

“Việc Mỹ phong tỏa đang bắt đầu gây ra những gián đoạn nghiêm trọng đối với dòng chảy dầu mỏ của Iran, với việc các chuyến hàng bị hủy bỏ và các kho chứa đang nhanh chóng đầy lên”, ông nói.

Các chuyến hàng vận chuyển bằng đường biển hiện có đến Trung Quốc trước khi lệnh phong tỏa có hiệu lực có thể mang lại cho Iran một khoản lợi nhuận rất cần thiết trong những tuần tới—lên đến 250 triệu đô la mỗi ngày—nhưng theo phân tích, tổng dung lượng lưu trữ trên đất liền và nổi của nước này có thể chỉ đủ để duy trì sản lượng thêm 22 ngày nữa.

“Chúng tôi ước tính sản lượng dầu thô sẽ giảm từ 2,75 triệu thùng/ngày xuống còn 1,2-1,3 triệu thùng/ngày vào giữa tháng 5 nếu lệnh phong tỏa tiếp tục”, Giáo sư Clarke cho biết.

Ông nhấn mạnh rằng chưa có tàu chở dầu nào của Iran thoát khỏi vùng phong tỏa của Mỹ, vùng phong tỏa này hiện đã mở rộng vượt xa đường ranh giới phong tỏa ở Vịnh Oman đến vùng biển Á Châu.

Hơn 90% lượng dầu thô bị cấm vận của Iran được bán cho các nhà máy lọc dầu nhỏ ở đông bắc Trung Quốc, được gọi là “nhà máy lọc dầu nhỏ”, nhận sản phẩm trực tiếp hoặc thông qua các hoạt động chuyển tải bất hợp pháp từ tàu này sang tàu khác ngoài khơi bờ biển Malaysia.

Thứ Sáu tuần trước, Văn phòng Kiểm soát Tài sản Nước ngoài, gọi tắt là OFAC thuộc Bộ Tài chính Hoa Kỳ đã tìm cách siết chặt vòng vây đối với mạng lưới tàu thuyền “hạm đội ngầm” của Iran bằng cách trừng phạt khoảng 40 công ty và tàu thuyền.

Trong số 19 tàu được thêm vào danh sách của OFAC có tàu chở khí đốt Sevan mang cờ Panama, bị Hải quân Mỹ chặn bắt ngay ngày hôm sau ở Biển Ả Rập, không lâu sau khi rời Vịnh Ba Tư.

Theo nhóm giám sát TrackerTrackers.com, tàu Sevan, gần đây đã bốc dỡ hàng hóa ở Iran, thường xuyên vận chuyển hàng đến Bangladesh và cho phiến quân Houthi do Iran hậu thuẫn ở Yemen.

Hải quân cho biết vào cuối ngày Chúa Nhật rằng họ đã xoay hướng được 38 tàu, trong ngày thứ 14 của chiến dịch.

Việc phong tỏa không phải là một chiến lược không rủi ro đối với Tổng thống Trump, ông đang đánh cược với uy tín chính trị trong nước và với thị trường năng lượng toàn cầu ngày càng bất ổn.

Rất nhiều điều có thể thay đổi từ giờ đến tháng Năm, nhưng với lệnh cấm vận ngày càng mở rộng của Mỹ chắc chắn sẽ gây áp lực lên nền kinh tế Iran, có thể Tehran sẽ là bên nhượng bộ trước.

[Newsweek: Iran Tanker Traffic Jam Shows US Blockade at Work]

6. Kho chứa hỏa tiễn Iskander của Nga ở Crimea bị tạm chiếm bị tấn công, Lực lượng đặc nhiệm Ukraine công bố video.

Ngày 28 tháng 4, Lực lượng Đặc nhiệm Ukraine, gọi tắt là SOF báo cáo rằng máy bay điều khiển từ xa của nước này đã tấn công một kho chứa hỏa tiễn Iskander ở Crimea bị Nga tạm chiếm.

Theo Lực lượng Đặc nhiệm, gọi tắt là SOF, kho chứa này nằm trên lãnh thổ của một căn cứ hỏa tiễn cũ gần làng Ovrazhki, cách thành phố Simferopol 40 km (khoảng 25 dặm).

Từ căn cứ này, hỏa tiễn Iskander có thể vươn tới tiền tuyến hoặc các thành phố phía sau của Ukraine “chỉ trong vài phút”, theo lời lực lượng đặc nhiệm.

[Kyiv Independent: Russian Iskander missile storage facility in occupied Crimea hit, Ukraine's Special Forces release video]

7. Tài khoản X bí ẩn đăng tải hình ảnh ‘Cole Allen’ nhiều năm trước vụ xả súng tại WHCA.

Một tài khoản mạng xã hội từng đăng tải tên người đàn ông bị bắt giữ trong vụ xả súng hôm thứ Bảy tại bữa tiệc của Hiệp hội Phóng viên Tòa Bạch Ốc đang thu hút sự chú ý sau vụ việc này.

Tài khoản X @HenryMa79561893, sử dụng tên “Henry Martinez,” đã tham gia nền tảng này vào tháng 12 năm 2023. Tài khoản này chỉ đăng một bài viết duy nhất, viết “Cole Allen” vào ngày 22 tháng 12 năm đó, và kể từ đó không hoạt động nữa.

Bài đăng đó, hiện đã được xem hơn 44 triệu lần, đang thu hút sự chú ý sau khi một người đàn ông tên Cole Allen bị bắt giữ vì liên quan đến vụ xả súng tại bữa tiệc tối dành cho các phóng viên Tòa Bạch Ốc, có sự tham dự của Tổng thống Trump, các quan chức cao cấp của chính quyền và các nhà báo.

Hiện chưa rõ liệu tài khoản X có liên hệ gì với Allen hay không, người mà các nhà chức trách cho biết sẽ phải đối mặt với các cáo buộc, bao gồm sử dụng súng trong một tội phạm bạo lực và hành hung một sĩ quan liên bang.

Tuy nhiên, bài đăng và tài khoản này đã gây ra một làn sóng tranh cãi dữ dội trên nền tảng, với một số người dùng chia sẻ các thuyết âm mưu và cho rằng @HenryMa79561893 có thể đã biết trước về vụ việc.

“Vụ xả súng tại WHCD đang trở nên VÔ CÙNG KỲ LẠ. Kẻ xả súng tên là Cole Allen, và một tài khoản X của Henry Martinez đã đăng bài viết 'Cole Allen' vào ngày 22 tháng 12 năm 2023,” Mario Nawfal, một doanh nhân với hơn 3 triệu người theo dõi trên X, viết.

“Đó là bài đăng DUY NHẤT của tài khoản đó, và điều đáng kinh ngạc hơn nữa là ảnh bìa của tài khoản Henry lại lấy từ một trang web có tên là TIME MACHINE!! Kỳ lạ hết sức,” anh ta tiếp tục.

Tuy nhiên, những người dùng khác cho rằng bài đăng đó có lẽ chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên, vì “Cole Allen” là một cái tên khá phổ biến.

Giới chức cho biết một người đàn ông mang súng và dao đã đột nhập vào khu vực an ninh tại bữa tiệc chiêu đãi các phóng viên Tòa Bạch Ốc và nổ súng, buộc lực lượng Mật vụ phải đưa Tổng thống Trump và các thành viên Nội các ra ngoài. Tổng thống Trump không bị thương và nhanh chóng rời khỏi sân khấu.

Vụ xả súng xảy ra bên ngoài phòng khiêu vũ dưới lòng đất của khách sạn Washington Hilton, nơi đang diễn ra bữa tối.

Video do Tổng thống Trump đăng tải trên nền tảng Truth Social của ông cho thấy nghi phạm chạy vượt qua các rào chắn an ninh trong khi các đặc vụ Mật vụ đuổi theo. Một sĩ quan bị trúng đạn vào áo chống đạn và đang hồi phục, các quan chức cho biết. Tay súng đã bị khống chế và bắt giữ.

Cole Tomas Allen là ai?

Cơ quan thực thi pháp luật đã xác định nghi phạm là Cole Tomas Allen, 31 tuổi, đến từ Torrance, California.

Trên trang LinkedIn cá nhân, Allen tự mô tả mình là nhà phát triển game, kỹ sư, nhà khoa học và giáo viên.

Hồ sơ cá nhân cho biết ông đã làm việc bán thời gian trong sáu năm qua tại C2 Education, một công ty cung cấp dịch vụ tư vấn tuyển sinh và luyện thi cho các học sinh có nguyện vọng vào đại học. Một bài đăng trên trang Facebook của C2 đã liệt kê Allen là “Giáo viên của tháng” của công ty vào tháng 12 năm 2024. Hồ sơ của ông cũng cho biết ông là kỹ sư cơ khí tại IJK Controls ở South Pasadena từ tháng 6 năm 2017 đến tháng 9 năm 2018.

Theo thông tin trên LinkedIn, Allen đã lấy bằng cử nhân kỹ thuật cơ khí năm 2017 tại Viện Công nghệ California (Caltech). Caltech đã xác nhận với Newsweek rằng Allen tốt nghiệp trường đại học này vào năm 2017 nhưng “hiện chưa có thêm thông tin nào khác”.

Trên LinkedIn, hồ sơ của Allen ghi rằng ông đã tốt nghiệp thạc sĩ ngành khoa học máy tính tại Đại học bang California, Dominguez Hills.

Bin Tang, giáo sư khoa học máy tính tại trường đại học, nói với hãng tin AP rằng Allen đã theo học một số lớp của ông. “Cậu ấy thực sự là một sinh viên rất giỏi, luôn ngồi ở hàng ghế đầu trong lớp, chú ý lắng nghe và thường xuyên gửi email cho tôi hỏi về bài tập,” Tang nói. “Nói năng nhỏ nhẹ, rất lịch sự, một người tốt. Tôi rất sốc khi nghe tin này.”

Trong bản tuyên ngôn, nghi phạm xả súng tự xưng là “Sát thủ liên bang thân thiện” và lên án các hành động gần đây của chính phủ Mỹ dưới thời Tổng thống Trump, mặc dù tác giả không trực tiếp nêu tên tổng thống.

Anh trai của Allen đã thông báo cho cảnh sát ở New Luân Đôn, Connecticut, về bản tuyên ngôn mà Allen đã chia sẻ với các thành viên gia đình ngay trước vụ xả súng, một quan chức Tòa Bạch Ốc nói với Newsweek hôm Chúa Nhật.

Quan chức Tòa Bạch Ốc cũng cho biết, theo lời chị gái của Allen, anh ta đã mua hai khẩu súng ngắn và một khẩu súng săn từ cửa hàng Cap Tactical Firearms và cất giữ chúng tại nhà bố mẹ – điều mà bố mẹ anh ta không hề hay biết. Chị gái của Allen cũng cho biết, theo lời quan chức này, Allen là thành viên của một nhóm có tên là “Wide Awakes” và đã từng tham gia một cuộc biểu tình “No Kings” ở California.

Học sinh nói Allen là một 'người bình thường'.

Jason Moses, một học sinh lớp 11, nói với các phóng viên rằng Allen đã dạy kèm cậu tại C2 Education.

“Tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ thầy ấy trong việc làm bài tập vật lý và chuẩn bị cho các bài kiểm tra,” cậu ấy nói.

Moses mô tả Allen là người “khá bình thường” và “thông minh”.

“Thầy ấy hơi lập dị một chút, nhưng không phải là điều gì quá bất thường – bạn chắc chắn sẽ không ngờ thầy ấy lại làm những việc như tối nay,” anh ta nói thêm. “Thầy ấy hoàn toàn trông giống như một người rất bình thường.”

Moses tiếp tục: “Bạn sẽ không bao giờ ngờ điều đó lại đến từ một người như vậy. Thầy ấy là một người tốt. Một người rất giản dị.”

[CBSNews: X Account Mysteriously Posted ‘Cole Allen’ Years Before WHCA Shooting]

8. Vua Charles: Những thông điệp ẩn giấu trong bài phát biểu trước Quốc hội

Hôm Thứ Ba, 28 Tháng Tư, Vua Charles Đệ Tam đã có bài phát biểu hoàng gia đầu tiên trước Quốc hội Hoa Kỳ sau 35 năm — và ông có rất nhiều điều muốn nói với các nhà lãnh đạo chính trị có mặt tại Washington.

Bài phát biểu của ông trước một đám đông gồm các quan chức dân cử, thẩm phán Tòa án Tối cao và các quan chức quân đội Hoa Kỳ thuộc cả hai đảng được trình bày với phong cách ngắn gọn đặc trưng của người Anh nhưng lại chứa đựng nhiều ý nghĩa ngầm sâu sắc.

POLITICO giải mã một số đoạn quan trọng trong bài phát biểu công khai lớn nhất của quốc vương Anh trong chuyến thăm cấp nhà nước kéo dài bốn ngày tới Hoa Kỳ.

Nhà Vua nói: “Ngay sau sự kiện 11/9, khi NATO lần đầu tiên viện dẫn Điều 5 và Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đồng ý đối mặt với khủng bố, chúng ta đã cùng nhau đáp lại lời kêu gọi như người dân chúng ta đã làm trong hơn một thế kỷ qua, sát cánh bên nhau, trải qua hai cuộc chiến tranh thế giới, Chiến tranh Lạnh, Afghanistan và những thời khắc đã định hình an ninh chung của chúng ta.”

Ý của Nhà Vua là: Đừng bội ước Điều 5 vì người Anh đã ở bên cạnh các bạn khi điều đó thực sự cần thiết.

Nhà Vua nói: “Tôi đã phục vụ trong Hải quân Hoàng gia với niềm tự hào vô bờ bến, tiếp nối truyền thống hải quân của cha tôi, Hoàng tử Philip, Công tước xứ Edinburgh; ông nội tôi, Vua George VI; bác ruột tôi, Lãnh chúa Mountbatten; và ông cố tôi, Vua George V.”

Ý của Nhà Vua là: Đừng có coi thường Hải quân Hoàng gia nữa.

Nhà Vua nói: “Lời nói của nước Mỹ luôn có trọng lượng và ý nghĩa, như từ khi độc lập. Nhưng hành động của quốc gia vĩ đại này còn quan trọng hơn thế. Tổng thống Lincoln đã hiểu điều này rất rõ, với lời suy ngẫm đầy sức thuyết phục trong bài diễn văn Gettysburg rằng thế giới có thể ít chú ý đến những gì chúng ta nói, nhưng sẽ không bao giờ quên những gì chúng ta làm.”

Ý của Nhà Vua là: Những bài đăng trên mạng xã hội kiểu “nóng vội” không hay lắm, nhưng nếu các bạn cứ quay lại làm bạn với chúng tôi, chúng tôi sẽ bỏ qua những bình luận được viết hoa từ đầu đến cuối.

Nhà Vua nói: “Hiệp hội Lịch sử Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã tính toán rằng Hiến chương Magna Carta được trích dẫn trong ít nhất 160 vụ án của Tòa án Tối cao kể từ năm 1789, đặc biệt là với tư cách là nền tảng của nguyên tắc rằng quyền hành pháp phải chịu sự kiểm soát và cân bằng.”

Ý của Nhà Vua là: Chúng tôi đã cung cấp cho các anh công cụ để buộc kẻ đáng phải chịu trách nhiệm phải chịu trách nhiệm, các anh ạ.

Nhà Vua nói: “Ở cả hai quốc gia chúng ta, chính thực tế về một xã hội năng động, đa dạng và tự do đã mang lại cho chúng ta sức mạnh tập thể, bao gồm cả việc hỗ trợ các nạn nhân của một số tệ nạn đang tồn tại một cách bi thảm trong xã hội của cả hai nước ngày nay.”

Ý của Nhà Vua là: Có thể tôi sẽ không gặp các nạn nhân của Jeffrey Epstein trong thời gian ở thành phố này — nhưng giờ tôi đang cho thấy rằng tôi không hoàn toàn vô cảm.

Nhà Vua nói: “Từ đáy Đại Tây Dương đến những tảng băng đang tan chảy thảm khốc ở Bắc Cực, sự tận tâm và chuyên môn của Quân đội Hoa Kỳ và các đồng minh nằm ở cốt lõi của NATO, cam kết bảo vệ lẫn nhau, bảo vệ công dân và lợi ích của chúng ta, giữ an toàn cho người dân Bắc Mỹ và Âu Châu khỏi các kẻ thù chung.”

Ý của Nhà Vua là: Tôi không muốn nghe thêm bất cứ điều gì về Greenland nữa.

Nhà Vua nói: “Chúng ta gặp nhau trong thời điểm đầy bất ổn; trong thời điểm xung đột từ Âu Châu đến Trung Đông, điều này đặt ra những thách thức to lớn cho cộng đồng quốc tế và tác động của nó được cảm nhận trong các cộng đồng trên khắp các quốc gia của chúng ta.”

Ý của Nhà Vua là: Cuộc chiến tranh Iran đang gây tổn hại cho người Anh (và cả các bạn nữa) … và sẽ tốn một khoản tiền khổng lồ để sưởi ấm Cung điện Buckingham mùa đông này.

Nhà Vua nói: “Tôi hết lòng cầu nguyện rằng Liên minh của chúng ta sẽ tiếp tục bảo vệ các giá trị chung, cùng với các đối tác của chúng ta ở Âu Châu và Khối Thịnh vượng chung, và trên toàn thế giới, và rằng chúng ta sẽ phớt lờ những lời kêu gọi ngày càng hướng nội hơn.”

Ý của Nhà Vua là: Các bạn có thực sự chắc chắn về tinh thần “Nước Mỹ trên hết” này không?

[Politico: King Charles: The hidden messages in his speech to Congress]

9. Ukraine và Na Uy hợp tác sản xuất máy bay điều khiển từ xa tầm trung.

Hôm Thứ Ba, 28 Tháng Tư, Bộ Quốc phòng Ukraine cho biết nước này sẽ cùng nhau sản xuất máy bay điều khiển từ xa tầm trung do Ukraine thiết kế, với kế hoạch cung cấp vài ngàn chiếc cho Quân đội Ukraine.

Dự án này được triển khai sau tuyên bố quốc phòng được Ukraine và Na Uy ký kết ngày 14 tháng 4 tại Oslo, nơi Tổng thống Volodymyr Zelenskiy và Thủ tướng Jonas Gahr Stoere đồng ý tăng cường hợp tác quân sự, bao gồm cả sản xuất máy bay điều khiển từ xa chung, như một phần của quan hệ đối tác chiến lược rộng lớn hơn.

“Các dự án như sản xuất chung và bảo đảm nguồn cung máy bay điều khiển từ xa sẽ trực tiếp tăng cường sức mạnh cho lực lượng của chúng ta trên chiến trường”, Bộ trưởng Quốc phòng Mykhailo Fedorov cho biết.

Ông nói thêm rằng sự hợp tác này cho phép Na Uy sản xuất các công nghệ đã được chứng minh hiệu quả trong chiến đấu, trong khi Ukraine nhận được các thiết bị quan trọng cần thiết để giành lại thế chủ động trên chiến tuyến.

Các máy bay điều khiển từ xa này sẽ được sản xuất tại Na Uy và sau đó chuyển giao cho quân đội Ukraine.

Dự án này sẽ được Na Uy tài trợ bằng nguồn vốn bổ sung, ngoài khoản hỗ trợ quân sự 7 tỷ đô la mà nước này đã cam kết trước đó cho Ukraine vào năm 2026.

Thỏa thuận được ký kết tại Kyiv bởi Đại sứ Na Uy tại Ukraine, ông Lars Ragnar Aalerud Hansen và Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Ukraine phụ trách hội nhập Âu Châu, ông Serhii Boiev.

Những hệ thống đầu tiên được sản xuất tại Na Uy dự kiến sẽ được giao cho Ukraine vào mùa hè năm 2026.

Bộ trưởng Quốc phòng Na Uy Tore Onshuus Sandvik cho biết sự hợp tác này sẽ tăng cường an ninh và năng lực công nghiệp của cả hai nước.

“Hỗ trợ cuộc chiến của Ukraine là điều quan trọng nhất chúng tôi làm vì an ninh của Na Uy”, Sandvik cho biết, đồng thời nói thêm rằng dự án này sẽ giúp mở rộng năng lực sản xuất của Na Uy trong một lĩnh vực trọng yếu.

Thỏa thuận này cũng bao gồm hợp tác công nghiệp rộng hơn, bao gồm cả nghiên cứu và phát triển.

Na Uy là một trong những nước ủng hộ Ukraine đáng tin cậy nhất kể từ cuộc xâm lược toàn diện của Nga, cùng với các quốc gia Bắc Âu và Baltic khác. Na Uy đã cam kết khoảng 28 tỷ đô la hỗ trợ dài hạn cho Ukraine từ năm 2023 đến năm 2030, trở thành một trong những nhà tài trợ lớn nhất của Kyiv tính theo đầu người.

[Kyiv Independent: Ukraine, Norway to jointly produce mid-strike drones]

10. Ít nhất 2 người bị thương ở Kyiv khi máy bay điều khiển từ xa của Nga tấn công vào ban ngày, nhắm trúng một tòa nhà và khuôn viên nghĩa trang.

Hôm Thứ Tư, 29 Tháng Tư, Thị trưởng Vitali Klitschko cho biết, một vụ tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa của Nga vào ban ngày ở Kyiv đã làm hư hại một tòa nhà đang xây dựng và khu vực nghĩa trang, khiến hai người bị thương.

Thị trưởng cho biết, một trong những nạn nhân bị thương đã được điều trị tại chỗ, trong khi một người khác, một người đi bộ bị thương trong vụ tai nạn xe hơi do cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa gây ra, đã được đưa vào bệnh viện.

Theo Klitschko, thiệt hại ở hai quận của thủ đô là do mảnh vỡ máy bay điều khiển từ xa bị hệ thống phòng không Ukraine bắn hạ gây ra.

Các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa vào Kyiv ban ngày rất hiếm, vì hệ thống phòng không Ukraine thường đánh chặn máy bay điều khiển từ xa của Nga ở các khu vực lân cận. Nga đã thử nghiệm nhiều chiến thuật máy bay điều khiển từ xa và hỏa tiễn khác nhau để xuyên thủng hệ thống phòng không và xác định điểm yếu. Kyiv, nơi đặt các đại sứ quán phương Tây và các tòa nhà chính phủ quan trọng, là thành phố được bảo vệ nghiêm ngặt nhất ở Ukraine.

Các phóng viên của Kyiv Independent tại hiện trường đã nghe thấy tiếng nổ ở trung tâm thành phố vào khoảng 14h20. Còi báo động không kích vang lên lúc 14h08 và kéo dài khoảng 50 phút.

Cơ quan Dịch vụ Khẩn cấp Tiểu bang, gọi tắt là DSNS báo cáo rằng lực lượng cấp cứu đang làm việc tại các địa điểm thuộc hai quận bị ảnh hưởng bởi vụ tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa vào ban ngày.

[Kyiv Independent: At least 2 people injured in Kyiv as daytime Russian drone attack hits building, cemetery grounds]
 
Nước Mỹ đi về đâu nếu JD Vance làm Tổng thống? Hàng loạt nhà máy lọc dầu Nga chìm trong biển lửa
VietCatholic Media
15:23 29/04/2026


1. Thượng nghị sĩ Thune thừa nhận căng thẳng giữa Mỹ và Anh liên quan đến Iran.

Lãnh đạo phe đa số Thượng viện John Thune hôm thứ Ba cho biết Anh là “đồng minh tốt nhất của Mỹ” và “điều quan trọng là mối quan hệ đó phải luôn vững mạnh”, nhưng cũng thừa nhận sự căng thẳng giữa Washington và Luân Đôn, đặc biệt là về vấn đề Iran, trong khi Quốc vương Charles Đệ Tam chuẩn bị phát biểu trước Quốc hội.

Trong một cuộc phỏng vấn ngắn với POLITICO, Thune đã ca ngợi nỗ lực của Anh và các quốc gia khác trong việc mở lại eo biển Hormuz sau khi Iran đóng cửa eo biển này để đáp trả các cuộc tấn công của Mỹ và Israel. Anh và Pháp đã dẫn đầu một nhóm đa quốc gia để giúp giải tỏa eo biển, nhưng chỉ sau khi một thỏa thuận ngừng bắn được thiết lập.

“Chúng tôi khuyến khích điều đó, chúng tôi muốn thấy nhiều hơn nữa những điều như vậy, và chúng tôi muốn bảo đảm rằng các đồng minh NATO của chúng tôi là đồng minh trên thực tế cũng như trên lý thuyết,” Thune nói.

Sự miễn cưỡng tham gia chiến tranh của các đồng minh NATO, bao gồm cả Anh, đã khiến Tòa Bạch Ốc tức giận. Thủ tướng Anh Keir Starmer tuyên bố đây “không phải là cuộc chiến của chúng ta” và ông “chán ngán” với giá năng lượng tăng cao do các hành động của Tổng thống Trump gây ra.

Charles dự kiến sẽ đề cập đến NATO và Trung Đông trong bài phát biểu của mình, nói rằng “mối quan hệ quốc phòng, tình báo và an ninh của chúng ta không được tính bằng năm mà bằng thập niên”.

Khi được hỏi liệu chuyến thăm của nhà vua có thể giúp giải quyết vấn đề hay không, Thune nói rằng “chắc chắn nó có thể hữu ích.”

Thượng Nghị Sĩ Mark Kelly (Đảng Dân chủ, đơn vị Arizona) cho biết ông có thể hiểu lý do tại sao Anh từ chối tham chiến vì vấn đề Iran.

“Nếu các ông dự đoán sẽ cần sự giúp đỡ từ các đồng minh của chúng tôi, thì ít nhất, các ông cũng nên tham khảo ý kiến của họ trước khi bắt đầu ném bom,” ông nói với POLITICO hôm thứ Ba.

Ông cũng nhắc nhở rằng sau cuộc chiến 12 ngày từ 13 đến 24 Tháng Sáu, 2025, vào ngày 25 Tháng Sáu, 2025, Tổng thống Trump đã có một bài diễn văn quan trọng khẳng định rằng khả năng hạt nhân của Iran đã bị tận diệt cả về cơ sở hạ tầng lẫn các khoa học gia; và rằng Iran phải mất vài thập niên nữa may ra mới có khả năng tái tạo là khả năng hạt nhân như trước ngày 13 Tháng Sáu, 2025. Vậy mà khi tấn công Iran hôm 28 Tháng Hai, Tổng thống lại bất ngờ cảnh báo về khả năng hạt nhân của Iran mà chính ông đã xác quyết rằng không còn tồn tại nữa.

Cuộc gặp quan trọng nhất trong chuyến thăm của Vua Charles Đệ Tam vừa kết thúc — và người Anh sẽ thở phào nhẹ nhõm khi nghe rằng Tổng thống Trump tỏ ra hài lòng về kết quả cuộc gặp.

Cuộc gặp riêng giữa Vua Charles và Tổng thống Trump tại Phòng Bầu dục được kỳ vọng là thời điểm nhà vua sẽ sử dụng một chút quyền lực mềm để nhắc nhở tổng thống về giá trị của mối quan hệ an ninh Anh-Mỹ.

Một cuộc xung đột lớn dường như không bao giờ xảy ra, nhưng có vẻ mọi việc đã diễn ra tốt đẹp. “Đó là một cuộc gặp gỡ thực sự tốt đẹp,” Tổng thống Trump nói với các phóng viên đang chờ đợi bên ngoài Tòa Bạch Ốc. “Vua Charles là một người tuyệt vời. Họ là những người đáng kinh ngạc và đó là một vinh dự thực sự.”

[Politico: Thune acknowledges US-UK tension over Iran]

2. JD Vance khoe khoang về việc ngừng viện trợ cho Ukraine — các nguồn tin cho biết ông ấy không chỉ nói suông, mà đang thực sự thúc đẩy chính sách.

Ngày 14 tháng 4, Phó Tổng thống Mỹ JD Vance đã công khai ca ngợi quyết định của chính quyền Trump về việc ngừng viện trợ Mỹ cho Ukraine - một tuyên bố đã gây ra nhiều chỉ trích và cho thấy ác cảm của ông đối với Kyiv.

“Đây là một trong những điều tôi tự hào nhất… chúng tôi đã nói với Âu Châu rằng nếu các bạn muốn mua vũ khí, các bạn có thể, nhưng Mỹ sẽ không còn mua vũ khí và gửi chúng đến Ukraine nữa”, ông Vance phát biểu tại một sự kiện của Turning Point, bất chấp việc Mỹ đã cam kết bảo đảm an ninh cho Ukraine vào ngày 5 Tháng Mười Hai, 1994 khi đề nghị nước này này từ bỏ vũ khí hạt nhân. Vào thời điểm đó, Ukraine có kho vũ khí hạt nhân lớn thứ ba trên thế giới.

Những phát ngôn của ông ngay lập tức vấp phải sự phản đối dữ dội, vào thời điểm Nga tiếp tục các cuộc tấn công hàng ngày nhằm vào các thành phố và cơ sở hạ tầng của Ukraine. Dân biểu Marcy Kaptur của Mỹ cho rằng sự thay đổi chính sách này thực chất có lợi cho Mạc Tư Khoa.

“Điều này không tốt cho Mỹ. Không tốt cho Âu Châu. Không tốt cho Ukraine. Điều này chỉ có lợi cho Nga”, bà nói trong một tuyên bố.

Đồng thời, Vance không chỉ đơn thuần lặp lại chính sách đối ngoại của chính quyền Trump mà ông còn đang tích cực định hình nó.

Theo các nguồn tin thân cận với các cuộc thảo luận nội bộ, Vance đã nổi lên như một trong những tiếng nói quan trọng có ảnh hưởng đến đường lối của Washington đối với Ukraine.

Một thế giới quan được hình thành trước chiến tranh.

Những lời chỉ trích của Vance đối với Ukraine không bắt đầu từ khi ông nhậm chức.

Rất lâu trước cuộc đối đầu nổi tiếng giữa ông và Tổng thống Volodymyr Zelenskiy tại Phòng Bầu dục, ông đã thể hiện lập trường hoài nghi về sự hỗ trợ của Mỹ dành cho Kyiv.

Đầu năm 2022, khi sự chú ý của toàn cầu tập trung vào mối đe dọa ngày càng tăng của một cuộc chiến tranh toàn diện chống lại Ukraine, Vance - khi đó là ứng cử viên Thượng Nghị Sĩ - đã bác bỏ vấn đề này một cách thẳng thừng.

“Thành thật mà nói, tôi không thực sự quan tâm chuyện gì sẽ xảy ra với Ukraine,” ông nói trong một cuộc phỏng vấn.

Nhận xét này, vốn bị chỉ trích rộng rãi vào thời điểm đó, đã phản ánh một yếu tố cốt lõi trong tư duy của Vance: theo quan điểm của ông, Ukraine không đại diện cho lợi ích quốc gia của Mỹ.

Ngay từ những ngày đầu của cuộc chiến tranh Nga, ông ta đã coi cuộc xung đột lớn nhất ở Âu Châu kể từ Thế chiến II như một gánh nặng đối với nguồn lực của Mỹ.

Vance đã chỉ trích quy mô viện trợ của Mỹ được phê duyệt dưới thời cựu Tổng thống Joe Biden, đồng thời cho rằng các đồng minh NATO đã không gánh vác đủ gánh nặng.

Đường lối này đã trở thành một trụ cột trung tâm trong bản sắc chính sách đối ngoại của Mỹ: đó là nghi ngờ và liên tục chỉ trích đồng minh.

Những mâu thuẫn ngay trong chính vòng tròn quen biết của ông ta.

Đồng thời, lập trường của Vance về Ukraine hoàn toàn trái ngược không chỉ với các đồng minh của Mỹ mà còn với các thành viên trong gia đình và những người thân cận của ông.

Anh họ của anh ta, Nate Vance, đã đến Ukraine vào tháng 3 năm 2022, ban đầu là để cung cấp viện trợ nhân đạo trước khi gia nhập lực lượng Ukraine. Trong hơn ba năm, anh ta đã chiến đấu trong một số trận đánh ác liệt nhất của cuộc chiến với tư cách là thành viên của tiểu đoàn Sói Da Vinci.

Trả lời phỏng vấn tờ Kyiv Independent, Nate Vance cho biết ông không đồng ý với phát ngôn trước đó của phó tổng thống về việc “không quan tâm” đến Ukraine.

“Công bằng mà nói, tôi không đồng ý với nhận định đó,” ông nói. “Nhưng bạn phải xem xét nhận xét đó trong bối cảnh cụ thể. Khi đó ông ấy chưa phải là chính trị gia. Đó là chính trị.”

Những sự khác biệt tương tự cũng xuất hiện trong giới chuyên môn rộng lớn hơn của Vance.

Daniel Driscoll, Bộ trưởng Lục quân Hoa Kỳ và là một đồng minh thân cận của Vance — đồng thời là bạn học cũ tại Trường Luật Yale — đã có thái độ ủng hộ hơn đối với Ukraine.

“Quân đội Mỹ đã sát cánh và ủng hộ người Ukraine ngay từ ngày đầu tiên của cuộc chiến,” Driscoll nói vào ngày 16 tháng 4. “Họ đã làm một công việc đổi mới vô cùng tuyệt vời. Và tôi đã công khai tuyên bố rằng chúng ta đang học hỏi được rất nhiều từ họ.”

Hồi tháng 12, Driscoll, người được bổ nhiệm theo đề nghị của Vance, đã đến Kyiv và thậm chí còn tham gia với tư cách là nhà đàm phán của Mỹ về vấn đề Ukraine.

Sự khác biệt giữa phát ngôn của Vance và quan điểm của các quan chức quân sự cao cấp cho thấy những bất đồng nội bộ sâu sắc hơn về vị thế đồng minh của Ukraine với Mỹ.

Một tiếng nói có sức ảnh hưởng

Ảnh hưởng của Vance đối với chính sách đối ngoại của Mỹ không chỉ dừng lại ở lời nói suông.

Theo các quan chức Tòa Bạch Ốc, Vance đóng vai trò quan trọng trong việc định hình các cuộc thảo luận chính sách nội bộ, bao gồm cả những cuộc thảo luận liên quan đến Ukraine.

Phát ngôn nhân Tòa Bạch Ốc Olivia Wales mô tả ông là một nhân vật quan trọng trong các nỗ lực ngoại giao của chính quyền.

“Tổng thống Trump có một đội ngũ an ninh quốc gia xuất sắc… tất cả đều đang cùng nhau nỗ lực chấm dứt cuộc chiến giữa Nga và Ukraine,” bà nói với tờ Kyiv Independent.

“Phó Tổng thống luôn là người đáng tin cậy trong mọi vấn đề chính sách đối ngoại — từ việc nỗ lực chấm dứt các vụ giết người vô nghĩa ở Nga và Ukraine đến việc dẫn dắt các cuộc đàm phán với Iran. Vance là một thành viên vô cùng quý giá trong đội ngũ xuất sắc của tổng thống.”

Một người khác xác nhận rằng Vance cũng tham gia các cuộc họp tổng kết sau các cuộc đàm phán hòa bình do Mỹ làm trung gian, có sự tham gia của các quan chức Mỹ.

Tuy nhiên, điều này đặt ra một câu hỏi rộng hơn: điều gì đã định hình quan điểm của Vance về Ukraine?

Không chỉ đơn thuần là chủ nghĩa biệt lập.

Các nhà phân tích cho rằng lập trường của ông không thể chỉ đơn thuần là chủ nghĩa biệt lập.

Samuel Garrett thuộc Trung tâm Nghiên cứu Hoa Kỳ tại Đại học Sydney cho biết quan điểm của Vance phản ánh đường lối có chọn lọc hơn đối với sự tham gia của Hoa Kỳ ở nước ngoài.

“Thật dễ dàng để gán cho JD Vance cái mác là người theo chủ nghĩa biệt lập. Tuy nhiên, việc ông từng ủng hộ viện trợ quân sự cho Israel và Đài Loan cho thấy vấn đề không đơn giản như vậy”, Garrett nói.

“Những lời chỉ trích của ông ta đối với Ukraine và Âu Châu dường như mang tính cá nhân hơn và bắt nguồn từ quan điểm hạn hẹp của ông ta về lợi ích chính sách đối ngoại của Mỹ.”

Các nhà phân tích cho rằng những phát ngôn của Vance nhằm vào công chúng trong nước. Majda Ruge thuộc Hội đồng Quan hệ Đối ngoại Âu Châu lập luận rằng những bình luận của ông về việc chấm dứt cung cấp vũ khí nhằm củng cố vị thế của ông trong cộng đồng những người ủng hộ MAGA.

“Vì không thể dẫn dắt chính quyền tránh khỏi xung đột với Iran, ông ấy đang lợi dụng vấn đề Ukraine để tái khẳng định vị thế của mình như là tiếng nói đích thực của phe cánh hữu phản chiến”, bà nói.

Đồng thời, các chuyên gia cho rằng lập trường của ông cuối cùng hướng tới một mục tiêu chiến lược rộng lớn hơn. Ruge nói thêm rằng Vance từ lâu đã ủng hộ việc thiết lập lại quan hệ ngoại giao với Mạc Tư Khoa.

“Ông ấy luôn kiên định thúc đẩy một thỏa thuận về Ukraine, cho phép thiết lập lại quan hệ chính trị và kinh tế giữa Mỹ và Nga. Lập trường của ông ấy vẫn không thay đổi.”

Trong thế giới quan của Vance, trật tự thế giới mới được thiết lập bởi ba trục liên kết với nhau là Mỹ, Trung Quốc và Nga; trái ngược với trật tự thế giới dựa trên luật lệ mà Hoa Kỳ đã giúp thiết lập sau thế chiến thứ hai và đặc biệt là sau thời kỳ chiến tranh lạnh. Chính vì thế, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron cảnh báo hôm thứ Sáu 24 Tháng Tư rằng người Âu Châu phải đứng lên bảo vệ lợi ích của chính mình vì Mỹ, Trung Quốc và Nga hiện đều “quyết liệt chống lại” họ.

“Chúng ta không nên đánh giá thấp rằng đây là một thời điểm độc nhất vô nhị, khi một tổng thống Mỹ, một tổng thống Nga, một Chủ tịch Trung Quốc đang chống lại người Âu Châu. Vì vậy, đây là thời điểm thích hợp để chúng ta thức tỉnh”, Macron nói trong cuộc thảo luận với Thủ tướng Hy Lạp Kyriakos Mitsotakis do báo Kathimerini tổ chức tại Athens.

“Chúng ta cần phải tự tin hơn một chút và thực hiện được kế hoạch của mình,” ông nói thêm.

Tổng thống Pháp cũng cho biết ông dự đoán căng thẳng với Mỹ sẽ kéo dài sau khi nhiệm kỳ của Tổng thống Trump kết thúc, vì ông tin rằng JD Vance với chủ trương MAGA quyết liệt và được sự ủng hộ mạnh mẽ của cả Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh có rất nhiều khả năng sẽ được bầu làm Tổng thống Hoa Kỳ thứ 48. Người Ukraine sẽ còn nhiều khốn khổ nếu khả năng đó trở thành một hiện thực.

[Kyiv Independent: JD Vance brags about halting Ukraine aid — sources say he's not just talking, he's driving policy]

3. Ukraine tấn công các cơ sở dầu khí Hắc Hải của Nga.

Theo thông báo của chính quyền địa phương hôm thứ Ba, Ukraine đã tấn công cơ sở hạ tầng dầu mỏ của Nga tại thành phố cảng Tuapse trên Hắc Hải lần thứ ba trong vòng một tháng.

Thành phố này, vốn đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp về môi trường sau các vụ tấn công trước đó, vừa báo cáo một vụ cháy lớn khác tại nhà máy lọc dầu lớn của Tuapse, có công suất chế biến khoảng 12 triệu tấn dầu mỗi giờ.

“Tại Tuapse lại xảy ra một tình trạng khẩn cấp nghiêm trọng khác sau cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa của đối phương; một vụ cháy lớn đã xảy ra tại nhà máy lọc dầu. Hiện tại, công tác di tản đang được tiến hành để bảo đảm an toàn cho cư dân của các ngôi nhà nằm gần nhà máy lọc dầu”, Thống đốc địa phương, Veniamin Kondratyev, cho biết trong một tuyên bố hôm thứ Ba.

Bộ Tổng tham mưu Quân đội Ukraine hôm thứ Ba đã xác nhận vụ tấn công vào nhà máy lọc dầu Tuapse, tuyên bố rằng nhà máy này có liên quan đến chuỗi cung ứng quân sự của Nga tại các vùng lãnh thổ bị tạm chiếm của Ukraine.

Nhưng Robert Brovdi, chỉ huy lực lượng hệ thống điều khiển từ xa của Ukraine, ám chỉ đây chỉ là cuộc tấn công mới nhất. “Tuapse 3.0. Phiên bản làm lại của Ngày Chuột Chũi. Giải quyết nhiệt định kỳ lượng vàng đen của Nga, tất nhiên là do tự bốc cháy”, Brovdi mỉa mai hôm thứ Ba.

Ukraine đã liên tục tấn công nhà máy lọc dầu và cảng Tuapse của Nga kể từ giữa tháng Tư. Chính quyền địa phương mất bốn ngày để dập tắt đám cháy sau vụ tấn công ngày 20 tháng Tư. Người dân địa phương than phiền trên mạng xã hội về một thảm họa môi trường, nói rằng mưa đen đang trút xuống thành phố.

Một ngày trước cuộc tấn công thứ ba vào Tuapse, Thị trưởng Sergei Boyko báo cáo rằng các công nhân tiện ích địa phương vẫn đang dọn dẹp thành phố và cảng khỏi các sản phẩm dầu mỏ. Đầu năm nay, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskiy nói rằng lực lượng của Kyiv phải tiếp tục ném bom các nhà máy lọc dầu để cắt đứt nguồn cung tiền mặt chính của Nga cho chiến tranh.

Lực lượng Nga cũng thường xuyên tấn công các nhà máy điện và cảng Odessa của Ukraine. Cuộc tấn công mới nhất của Điện Cẩm Linh hôm thứ Hai đã gây ra vụ tràn 6.000 tấn dầu hướng dương xuống Hắc Hải.

[Politico: Ukraine hammers Russian Black Sea oil facilities]

4. Đức vượt Mỹ về năng lực sản xuất đạn dược.

Theo nhà lãnh đạo tập đoàn quốc phòng khổng lồ Rheinmetall của Đức, hiện nay Đức có thể sản xuất nhiều đạn dược hơn cả Mỹ, trong bối cảnh chiến dịch tái vũ trang quy mô lớn đang diễn ra ở Âu Châu.

Theo truyền thông Đức đưa tin tuần trước, Giám đốc điều hành Armin Papperger của Rheinmetall cho biết công ty đã tăng sản lượng đạn cỡ trung bình hàng năm lên hơn gấp bốn lần và đẩy mạnh sản lượng đạn pháo lên 1,1 triệu viên, từ mức 70.000 viên trước đó.

Đạn cỡ trung bình lớn hơn đạn súng máy nhưng nhỏ hơn đạn pháo của các hệ thống pháo binh phổ biến như pháo lựu. Chúng thường được sử dụng trong các khẩu pháo tự động trên xe tăng hoặc xe thiết giáp, chẳng hạn như xe chiến đấu bộ binh Bradley của quân đội Mỹ.

Các nước Âu Châu đang gấp rút bổ sung kho dự trữ quân sự sau khi Tổng thống Donald Trump năm ngoái cảnh báo các thành viên NATO rằng họ cần chi tiêu nhiều hơn cho quốc phòng và giảm bớt sự phụ thuộc vào Mỹ.

Trong nhiều thập niên, Âu Châu đã phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn lực quân sự của Washington trên lục địa, bao gồm cả các hệ thống phòng thủ đắt tiền do quân đội Mỹ cung cấp.

Nhưng Mỹ đã nói rõ rằng họ muốn tập trung vào khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và mối đe dọa từ sức mạnh quân sự của Trung Quốc, thay vì hỗ trợ Âu Châu.

Năm ngoái, chính quyền Trump đã rút một lượng lớn vũ khí và hỗ trợ quân sự cho Ukraine, và hiện đang bận rộn với cuộc xung đột kéo dài ở Trung Đông khi chiến tranh với Iran bước sang tháng thứ ba.

Nhưng ngay cả trước chiến tranh Iran, các nước Âu Châu đã tuyên bố kế hoạch tăng cường năng lực quốc phòng của riêng mình.

Những lo ngại về việc liệu Mỹ dưới thời Tổng thống Trump có đến viện trợ cho Âu Châu trong trường hợp Nga gây hấn hay không đã thúc đẩy động lực chính trị nhằm tăng cường sức mạnh quân sự của lục địa này, đặc biệt là khi các nước Âu Châu đã chuyển giao đạn dược, xe tăng và các thiết bị quân sự khác cho Ukraine trong bốn năm qua.

Trong bối cảnh đó, các nước NATO đã cam kết vào tháng 6 năm 2025 sẽ chi 5% tổng sản phẩm quốc nội, gọi tắt là GDP mỗi năm cho quân đội và các chi phí cơ sở hạ tầng liên quan trong thập niên tới.

Một số quốc gia đã không đạt được mục tiêu chi tiêu quốc phòng 2% GDP mà liên minh đặt ra trước mùa hè năm ngoái, sự gia tăng này đánh dấu mức tăng đầu tư quân sự đáng kể nhất trên khắp Âu Châu trong nhiều thập niên.

Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm, gọi tắt là SIPRI cho biết hôm thứ Hai rằng chi tiêu quân sự toàn cầu đã tăng gần 3% vào năm ngoái so với năm 2024, chủ yếu là do chi tiêu quốc phòng của Âu Châu tăng 14%.

Thủ tướng Đức Friedrich Merz cho rằng Âu Châu nên bớt phụ thuộc vào Mỹ, và kể từ khi lên nắm quyền năm ngoái, ông đã dẫn đầu một nỗ lực lớn nhằm tăng chi tiêu quốc phòng của Đức, một sự thay đổi so với chính sách giảm đầu tư quân sự kéo dài hàng thập niên sau Thế chiến II.

Tuần trước, Bộ trưởng Quốc phòng Boris Pistorius cho biết Đức có kế hoạch sở hữu “đội quân chính quy mạnh nhất Âu Châu” vào năm 2039 - một thế kỷ sau khi cuộc xung đột toàn cầu tàn khốc bắt đầu.

Đạn dược đang có nhu cầu rất cao trong quân đội phương Tây, đặc biệt là đạn cho các hệ thống pháo binh dùng để bảo vệ binh lính trong trận chiến và tấn công các mục tiêu có giá trị cao như kho tiếp tế và trung tâm chỉ huy.

Rheinmetall cho biết họ đã tăng cường sản xuất đạn dược kể từ năm 2022, khi Nga phát động cuộc xâm lược Ukraine.

Đạn pháo, đặc biệt là đạn 155 ly, đang được săn lùng ráo riết sau khi bị hư hại nặng nề trên chiến trường Ukraine. Loại đạn này được các nước NATO sử dụng rộng rãi, nhưng các công ty quốc phòng phương Tây đã phải mở rộng nhà máy và xây dựng các cơ sở mới để đáp ứng nhu cầu từ Ukraine và quân đội các nước Âu Châu lo ngại về xung đột trong tương lai với Nga.

Rheinmetall là một trong những nhà sản xuất đạn 155 ly lớn nhất và cho biết nhà máy mới khai trương vào tháng 8 năm ngoái sẽ trở thành nhà máy sản xuất đạn dược lớn nhất Âu Châu.

Tổng thư ký NATO Mark Rutte cho biết NATO cần ưu tiên việc tăng cường kho vũ khí cũng như các năng lực quân sự khác như hệ thống phòng không.

[Newsweek: Germany Overtakes US in Ammunition Production Capacity]

5. Cựu giám đốc truyền thông của Starmer: “Vua không hề né tránh” những tranh cãi.

James Lyons, cựu giám đốc truyền thông của Thủ tướng Anh Keir Starmer, cho biết Vua Charles Đệ Tam đã tránh được cuộc đối đầu trực tiếp với Mỹ trong bài phát biểu trước Quốc hội, ngay cả khi ông đang đề cập đến một vấn đề nhạy cảm.

“Nhà vua chắc chắn không né tránh những vấn đề gây tranh cãi — Ukraine, NATO và chi tiêu quốc phòng là một vài ví dụ,” Lyons nói. “Nhưng ông ấy đã trình bày những vấn đề này theo cách nhằm khơi gợi lòng tốt của người Mỹ — và nhấn mạnh rằng Anh đã làm tròn bổ phận của mình.”

Đặc biệt, Lyons lưu ý rằng Vua Charles đã đề cập đến việc Anh can thiệp để giúp đỡ Hoa Kỳ sau vụ tấn công ngày 11/9, và sự gia tăng chi tiêu quốc phòng hiện tại của nước này, mà nhà vua cho rằng đó là mức tăng bền vững lớn nhất kể từ Chiến tranh Lạnh.

Chuyến thăm của nhà vua diễn ra trong bối cảnh Starmer và Tổng thống Trump công khai bất đồng về cuộc chiến ở Iran. Tổng thống Trump đã chế giễu người đồng cấp Anh vì không tham gia vào cái mà Starmer nói là “không phải cuộc chiến của chúng ta”.

Hôm thứ Ba, Vua Charles gật đầu với thủ tướng. “Như thủ tướng của tôi đã nói tháng trước, mối quan hệ hợp tác của chúng ta là không thể thiếu. Chúng ta không được bỏ qua tất cả những gì đã giúp chúng ta duy trì mối quan hệ này trong 80 năm qua. Thay vào đó, chúng ta phải xây dựng dựa trên nền tảng đó,” ông nói trong tiếng vỗ tay vang dội từ phiên họp chung.

Lyons dự đoán Charles có thể sở hữu khả năng đặc biệt trong việc hàn gắn mối quan hệ vào thời điểm căng thẳng leo thang giữa Washington và Luân Đôn.

Ông nói: “Hoàng gia giống như bia Heineken của nền ngoại giao Anh - họ có thể vươn tới những nơi mà các nhà ngoại giao khác không thể tới.”

[Politico: Starmer’s former comms director: The king ‘didn’t shy away’ from contention]

6. Thảm họa tại nhà máy lọc dầu Tuapse của Nga ngày càng trầm trọng sau khi máy bay điều khiển từ xa của Ukraine lại tiếp tục tấn công.

Hôm Thứ Tư, 29 Tháng Tư, Bộ Tổng tham mưu Ukraine cho biết máy bay điều khiển từ xa của nước này lại một lần nữa tấn công một nhà máy lọc dầu ở thành phố Tuapse thuộc tỉnh Krasnodar, miền nam nước Nga.

Những tuần qua, Tuapse đã phải đối mặt với các cuộc tấn công dữ dội, bao gồm cả các cuộc tấn công vào nhà máy lọc dầu Tuapse vào ngày 20 và 16 tháng 4, gây ra các vụ cháy kéo dài nhiều ngày tại thị trấn của Nga.

“Cơ sở này tham gia vào việc cung cấp cho quân đội xâm lược của Liên bang Nga trên lãnh thổ Ukraine”, Bộ Tổng tham mưu cho biết trong một tuyên bố trên Facebook, đồng thời cho biết thêm rằng vụ tấn công đã gây ra hỏa hoạn và mức độ thiệt hại đang được đánh giá.

Theo Bộ Tổng tham mưu, sau cuộc tấn công ngày 20 tháng 4, 24 bể chứa đã bị phá hủy và 4 bể khác bị hư hại. Một đám cháy bùng phát do cuộc tấn công ban đầu ngày 16 tháng 4 đã được khống chế, nhưng cuộc tấn công thứ hai đã làm bùng phát lại và làm tình hình trở nên tồi tệ hơn đáng kể, ngọn lửa vẫn cháy liên tục kể từ đó.

Các video do người dân địa phương chia sẻ trên mạng xã hội cho thấy một cột khói lớn bốc lên từ nhà máy lọc dầu, cùng với mưa tạo thành một lớp màng đen trên các bề mặt và những vũng nước sẫm màu.

[Kyiv Independent: Russia's Tuapse oil refinery disaster deepens after Ukraine's drones strike yet again]

7. Dữ liệu cho thấy 39 tiểu bang của Mỹ đã ghi nhận giá xăng trung bình tăng trong tuần qua.

Theo dữ liệu mới nhất từ GasBuddy, một ứng dụng theo dõi giá xăng dầu tại một số khu vực ở Bắc Mỹ và Úc, giá xăng trung bình tại Mỹ đã tăng 7 cent trong tuần qua và hiện ở mức 4,04 đô la mỗi gallon. Tại Mỹ, dữ liệu này được thu thập từ hơn 12 triệu báo cáo giá tại khoảng 150.000 trạm xăng trên toàn quốc, theo công ty này.

Trong khi giá xăng trung bình đã tăng ở 39 tiểu bang của Mỹ kể từ tuần trước, giá dầu diesel trung bình lại giảm trên toàn quốc, theo Patrick De Haan, một nhà phân tích dầu khí tại GasBuddy, cho biết trong một tuyên bố.

“Tuy nhiên, sự khác biệt đó có thể chỉ tồn tại trong thời gian ngắn,” ông nói. “Giá dầu đã tăng trở lại khi thị trường phản ứng với căng thẳng địa chính trị leo thang và việc hủy bỏ các cuộc đàm phán giữa Mỹ và Iran. Do đó, giá xăng dự kiến sẽ tiếp tục tăng trong tuần này, và giá dầu diesel cũng có thể tăng theo.”

Ông De Haan dự đoán khu vực Ngũ Hồ và Đồng bằng, cũng như các tiểu bang nội địa khác, có thể chứng kiến giá xăng trung bình đạt mức cao nhất kể từ năm 2022.

[CBSNews: 39 U.S. states saw average gas prices increase over the last week, data show]

8. 5 cách mà cuộc chiến Iran cho thấy NATO chưa sẵn sàng đối đầu với Nga.

NATO đã không can thiệp vào cuộc chiến giữa Mỹ và Israel ở Iran, nhưng cuộc xung đột này đã bộc lộ những điểm yếu trong hệ thống phòng thủ của liên minh, khiến họ gặp khó khăn nếu Nga tấn công.

Tướng Dominique Tardif, Phó Tư lệnh Không quân Pháp, cho biết: “Các cuộc chiến ở Ukraine và Trung Đông không phải là những hiện tượng riêng biệt; chúng ta có thể học hỏi được nhiều điều từ cả hai để suy nghĩ về các cuộc chiến trong tương lai. Những bài học tổng hợp này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn cách định hướng phát triển năng lực quân sự.”

Các quan chức quân sự Âu Châu đã cảnh báo rằng Mạc Tư Khoa có thể tấn công một thành viên của liên minh vào năm 2029, nhấn mạnh sự cần thiết cấp bách phải tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu và sự gắn kết chính trị trong toàn liên minh.

Michael Clarke, Giáo sư thỉnh giảng về Nghiên cứu Quốc phòng tại King's College Luân Đôn nói với Sky News rằng đây là 5 vấn đề chính:

Thứ nhất. Hết đạn

Cuộc chiến tranh Iran đã làm nổi bật rõ nét tình trạng thiếu đạn dược của NATO.

Mỹ đã sử dụng hết khoảng một nửa tổng số hỏa tiễn phòng không Patriot quan trọng của mình, trong khi các quan chức Pháp cảnh báo rằng lượng dự trữ hỏa tiễn Aster và Mica của họ đang cạn kiệt ngay từ hai tuần đầu tiên của cuộc chiến. Các công ty quốc phòng như Rheinmetall và MBDA cũng chỉ ra nhu cầu tăng cao và nguy cơ thiếu hụt sắp xảy ra.

Nếu Mỹ tiếp tục chuyển sự chú ý sang khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, “sẽ có những nguồn lực đáng kể bị rút khỏi Âu Châu”, một nhà ngoại giao cao cấp của NATO cho biết. “Chúng ta hiện có quá ít nguồn lực này”.

Trừ khi NATO thay đổi chiến lược, Nga “sẽ nhanh chóng đẩy chúng ta ra khỏi cuộc chiến với chi phí khổng lồ”

Giáo sư Clarke cho biết, với việc Mạc Tư Khoa sản xuất “6.000 đến 7.000” máy bay điều khiển từ xa tấn công một chiều mỗi tháng, các đồng minh NATO sẽ bị thiếu hỏa tiễn phòng không có giá trị cao trong vòng “vài tuần”.

Điều đó tạo ra “nhu cầu cấp thiết về các hỏa tiễn đánh chặn không đối không giá cả phải chăng hơn”, ông nói thêm, lập luận rằng NATO nên tập trung vào các lựa chọn thay thế rẻ hơn cho Patriot như hỏa tiễn dẫn đường bằng laser AGR-20 - và xây dựng các hệ thống phòng thủ thụ động như hầm trú ẩn máy bay bằng bê tông kiên cố.

Theo một nguồn tin thân cận, tình trạng thiếu hụt đạn dược của liên minh sẽ trở thành vấn đề trọng tâm tại hội nghị thượng đỉnh các nhà lãnh đạo NATO vào tháng 7 tới.

Thứ hai. Thiếu ưu thế trên không

Khả năng của Iran trong việc tiếp tục tấn công các quốc gia vùng Vịnh láng giềng bằng hơn 5.000 hỏa tiễn và máy bay điều khiển từ xa bất chấp chiến dịch không kích của Mỹ cho thấy “giới hạn rõ ràng của kỳ vọng rằng bạn có thể dùng máy bay thông thường để buộc một quốc gia phải khuất phục” bằng bom đạn

Đáp lại, NATO phải xem xét lại ưu thế trên không và tìm kiếm các giải pháp sáng tạo để răn đe Nga, chẳng hạn như đẩy mạnh đầu tư vào các loại vũ khí tấn công chính xác tầm xa có khả năng tấn công vào các cơ sở sản xuất máy bay điều khiển từ xa và các địa điểm quân sự của Mạc Tư Khoa nằm sâu bên trong lãnh thổ nước này, ông Bronk cho biết.

“Nếu chúng ta có thể giành được ưu thế trên không ở khu vực tranh chấp, thì ngay cả Âu Châu cũng có thể tự mình tiêu diệt lực lượng Nga trên chiến trường”, ông nói, đồng thời đề xuất tăng cường mua hỏa tiễn AGM-88G do Mỹ sản xuất, với tầm bắn lên đến 300 km.

Hai nhà ngoại giao của liên minh cho biết, cuộc chiến với Iran đã thúc đẩy các cuộc thảo luận mới trong NATO về sự cần thiết phải tăng cường khả năng tấn công tầm xa, khi các cuộc đàm phán về chu kỳ lập kế hoạch quốc phòng bốn năm tiếp theo của tổ chức bắt đầu trong năm nay.

Thứ 3. Hải quân thiếu sức mạnh

Việc Âu Châu triển khai lực lượng hạn chế để hỗ trợ các đồng minh vùng Vịnh cũng cho thấy rõ sự thiếu đầu tư trầm trọng vào hải quân NATO.

Ví dụ rõ ràng nhất là trường hợp của Vương quốc Anh. Sau ba tuần triển khai tàu khu trục HMS Dragon hướng tới Địa Trung Hải, con tàu đã phải quay trở lại cảng do sự việc kỹ thuật.

Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên. Tháng trước, tướng Gwyn Jenkins, nhà lãnh đạo lực lượng hải quân Anh, đã thừa nhận Hải quân Hoàng gia chưa sẵn sàng cho chiến tranh, đồng thời cho rằng các đồng minh khác cũng đang tụt hậu. Thủ tướng Canada Mark Carney trước đó cũng cho biết chưa đến một nửa hạm đội của nước ông đang hoạt động.

“Kể từ năm 2022, chúng tôi đã tập trung nhiều hơn vào lực lượng lục quân… và giờ đây đột nhiên chúng tôi nhận thấy khả năng sẵn sàng của hạm đội trên toàn NATO thực sự khá kém,” Ed Arnold, một cựu quan chức NATO, cho biết.

Trong bất kỳ cuộc xung đột nào với Mạc Tư Khoa, hải quân sẽ đóng vai trò thiết yếu trong việc truy lùng tàu ngầm gần bán đảo Kola phía bắc của Nga và vô hiệu hóa các tàu được trang bị hỏa tiễn hành trình tầm xa Kalibr.

Ông cũng cho biết NATO cần cải thiện các cơ sở bảo dưỡng tàu chung, cũng như giải quyết tình trạng thiếu nhân lực và đầu tư vào các tàu linh hoạt có thể thích ứng với các nhiệm vụ khác nhau — lấy cảm hứng từ chương trình Tàu hỗ trợ đa chức năng của Hòa Lan.

Thứ tư. Sự chia rẽ dai dẳng

Cuộc chiến cũng làm gia tăng thêm rạn nứt bên trong NATO — khi Âu Châu từ chối yêu cầu hỗ trợ quân sự của Tổng thống Donald Trump, khiến Washington phải vạch ra các phương án trả đũa.

Điều đó đang làm dấy lên những lo ngại mới trong nội bộ liên minh, hai nhà ngoại giao NATO cho biết. Trong khi đó, Tổng thống Trump tiếp tục chỉ trích NATO, liên tục gọi tổ chức này là “hổ giấy”.

Giáo sư Clarke nói thêm rằng rủi ro sau vụ Iran là “tổng thống có thể nói 'Lần này chúng ta sẽ không can thiệp'“, hoặc chỉ cam kết triển khai lực lượng hạn chế nếu Mạc Tư Khoa xâm lược.

Đáp lại, các thủ đô Âu Châu phải áp dụng cùng một “phương pháp giao dịch” như Tổng thống Trump. Họ nên liên kết rõ ràng sự ủng hộ của mình đối với việc mở lại eo biển Hormuz với cam kết của Washington đối với NATO.

Ông cũng cảnh báo không nên tiếp tục xoa dịu Tổng thống Trump, một điểm mấu chốt trong đường lối của Tổng thư ký NATO Mark Rutte đối với tổng thống Mỹ. “Thời gian nịnh nọt đã qua rồi”, Rasmussen nói.

Thứ năm. Vấn đề Ukraine rất quan trọng

Chỉ vài ngày sau khi chiến tranh ở Iran bắt đầu, Ukraine đã cử các chuyên gia về máy bay điều khiển từ xa của mình, những người am hiểu việc sử dụng các hỏa tiễn đánh chặn tự chế để bắn hạ các máy bay điều khiển từ xa kiểu Shahed của Iran mà Nga sử dụng, đến hỗ trợ các quốc gia trên khắp Trung Đông. Kyiv cuối cùng đã ký kết các thỏa thuận hợp tác quốc phòng kéo dài hàng thập niên với các quốc gia vùng Vịnh.

NATO đã nhanh chóng mở rộng các mối quan hệ thể chế với Ukraine, từ một trung tâm huấn luyện và nghiên cứu chung ở Ba Lan đến các chuyến thăm quân sự tới Kyiv và một chương trình công nghiệp mới nhằm mua sắm công nghệ tiên tiến từ nước này, được đặt tên là UNITE - Brave NATO.

Giáo sư Clarke cho rằng liên minh này nên nỗ lực thiết lập một “vành đai” các phương tiện chống máy bay điều khiển từ xa gần biên giới Nga hơn để làm tuyến phòng thủ đầu tiên.

Hai nhà ngoại giao NATO cho biết, Mỹ cũng có thể làm nhiều hơn nữa để tăng cường mối quan hệ công nghiệp với Ukraine, bao gồm cả việc tăng thêm kinh phí cho dự án UNITE-Brave.

“Ukraine đang đóng vai trò là nhà cung cấp an ninh,” một nhà ngoại giao NATO thứ ba cho biết. Cuộc chiến ở Iran đã “chứng minh điều đó.”

[Politico: 5 ways the Iran war shows NATO is not ready to fight Russia]

9. Lịch sử hoạt động bảo vệ môi trường của Vua Charles được làm nổi bật.

Vua Charles là một trong những nhà hoạt động môi trường lên tiếng mạnh mẽ nhất thế giới — và ông đã nhấn mạnh niềm đam mê bảo vệ hành tinh trong bài phát biểu trước Quốc hội hôm thứ Ba.

Vua Charles nhấn mạnh với các nhà lập pháp rằng “thế hệ chúng ta phải quyết định cách giải quyết sự sụp đổ của các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng”. Ông cảnh báo rằng “chúng ta sẽ phải trả giá đắt nếu phớt lờ thực tế rằng các hệ sinh thái tự nhiên này… cung cấp nền tảng cho sự thịnh vượng và an ninh quốc gia của chúng ta”. Vua Charles nhận được tràng vỗ tay từ các nhà lập pháp sau bài phát biểu của mình, mặc dù hầu hết các đảng viên Cộng hòa không đứng dậy như các đảng viên Dân chủ.

Những phát biểu của nhà vua Anh về môi trường đã làm nổi bật niềm đam mê bảo tồn không ngừng nghỉ của ông. Vua Charles đã là một nhà lãnh đạo trong các vấn đề môi trường kể từ bài phát biểu mang tính bước ngoặt đầu tiên của ông vào năm 1970, khi ông 22 tuổi, lên án tình trạng ô nhiễm ngày càng gia tăng và các mối đe dọa đối với môi trường, một lập trường mà ông đã bị chế giễu vào thời điểm đó.

Bất chấp sự phản đối này, khi đó là Thái tử Charles, ông đã coi bảo vệ môi trường là vấn đề chính sách trọng tâm trong nhiệm kỳ của mình khi lên ngôi. Trong những năm gần đây, Thái tử Charles đã thành lập Sáng kiến Thị trường Bền vững, bao gồm một cam kết không ràng buộc được ký bởi hàng trăm CEO thuộc khu vực tư nhân về việc đầu tư vào các hoạt động thân thiện với môi trường.

Một bộ phim tài liệu đã được công chiếu hồi đầu năm nay ghi lại những hoạt động bảo vệ môi trường của nhà vua, trong đó Vua Charles tự mô tả mình là người “hơi giống dân hippie” về vấn đề này.

Chủ tịch Hạ viện Mike Johnson vừa khai mạc phiên họp chung của Quốc hội, trong khi hàng trăm nhà lập pháp trên sàn Hạ viện chuẩn bị đón tiếp Vua Charles. Ngài sẽ được một nhóm lưỡng đảng gồm các thành viên Hạ viện và Thượng viện, các thẩm phán Tòa án Tối cao và các quan chức quân đội Hoa Kỳ hộ tống vào phòng họp trong chốc lát.

[Politico: King Charles’ history of environmental activism comes to the fore]

10. CEO của Ryanair cho rằng các hãng hàng không Âu Châu sẽ thất bại nếu giá nhiên liệu máy bay vẫn ở mức cao.

Giám đốc điều hành của Ryanair, Michael O'Leary, cảnh báo rằng một số hãng hàng không Âu Châu sẽ phá sản nếu giá nhiên liệu máy bay vẫn ở mức cao.

“Nếu giá nhiên liệu tiếp tục duy trì ở mức cao trong suốt mùa hè này, chúng tôi cho rằng một số đối thủ cạnh tranh hàng không của chúng tôi ở Âu Châu sẽ phải đối mặt với những khó khăn tài chính thực sự”, ông O'Leary nói với CNBC hôm thứ Ba tại một hội nghị ở Oslo. “Giá nhiên liệu đã tăng vọt kể từ tháng Ba. Giá nhiên liệu Jet A-1 vào tháng Ba là khoảng 80 đô la một thùng. Hiện nay nó đã lên tới 150 đô la.”

Giá nhiên liệu máy bay ở Âu Châu đã tăng hơn gấp đôi kể từ khi Mỹ và Israel phát động các cuộc tấn công chống lại Iran vào ngày 28 tháng 2. Tehran đã đáp trả bằng cách đóng cửa eo biển Hormuz, nơi thường vận chuyển khoảng một phần năm lượng dầu mỏ của thế giới.

Các hãng hàng không đang dần cảm nhận được áp lực. Lufthansa hôm thứ Ba tuần trước cho biết họ sẽ cắt giảm 20.000 chuyến bay ngắn đến hết tháng 10 để tiết kiệm “40.000 tấn nhiên liệu”, trong khi SAS Scandinavian Airlines đã hủy khoảng 1.000 chuyến bay trong những ngày gần đây và Air France-KLM đã áp đặt phụ phí 100 euro cho vé máy bay đường dài.

“Tôi nghĩ sẽ có những hãng hàng không phá sản,” O'Leary nói. “Nếu giá dầu tiếp tục ở mức 150 đô la một thùng đến tháng 7, tháng 8, tháng 9, thì bạn sẽ thấy các hãng hàng không Âu Châu phá sản và điều đó, trong trung hạn, có lẽ sẽ tốt cho hoạt động kinh doanh của Ryanair.”

Tổng thống Donald Trump hôm thứ Ba tuần trước đã đồng ý tạm dừng các cuộc tấn công tiếp theo vào Iran theo yêu cầu của Pakistan, kéo dài thỏa thuận ngừng bắn mong manh. Nhưng ông cũng nói rõ rằng Washington sẽ duy trì việc phong tỏa vận chuyển hàng hóa của Iran ở eo biển Hormuz, khiến vấn đề gián đoạn nguồn cung cốt lõi vẫn chưa được giải quyết.

Ông O'Leary cho biết áp lực sẽ không giảm bớt cho đến khi hoạt động vận chuyển hàng hóa qua eo biển Hormuz được nối lại. “Nó cần được mở cửa trở lại càng nhanh càng tốt,” ông nói.

Brussels đang nỗ lực hết sức để kiềm chế cú sốc năng lượng trên quy mô lớn. Hôm thứ Tư tuần trước, Ủy ban Âu Châu đã công bố kế hoạch “AccelerateEU”, bao gồm các biện pháp giám sát lượng dự trữ nhiên liệu máy bay và điều phối nguồn cung giữa các hãng hàng không và phi trường. Tuy nhiên, những bước này nhằm mục đích ngăn ngừa tình trạng thiếu hụt, chứ không phải trực tiếp giải quyết vấn đề giá nhiên liệu.

[Politico: European airlines will fail if jet fuel costs stay high, Ryanair CEO says]

11. Tổng thống Zelenskiy đe dọa áp đặt trừng phạt lên người Israel vì vụ trộm ngũ cốc.

Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskiy đe dọa sẽ trừng phạt các cá nhân và doanh nghiệp Israel mua ngũ cốc được sản xuất tại các khu vực bị Nga tạm chiếm.

Tổng thống Zelenskiy cho biết hôm Thứ Tư, 29 Tháng Tư, rằng chính phủ Ukraine đang chuẩn bị một gói trừng phạt nhắm vào cả những người vận chuyển ngũ cốc cũng như những người ở phía bên kia giao dịch tại Israel.

Thông báo của ông báo hiệu sự leo thang căng thẳng giữa hai quốc gia đều thuộc cùng một phe phương Tây. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa hai nước đã trở nên căng thẳng do Israel tiếp tục duy trì quan hệ với Nga.

Hai tàu được tường trình chở lúa mì Ukraine bị cướp bóc đang hướng đến Israel trong tuần này để cập cảng Haifa và dỡ hàng. Trước đó, báo Haaretz của Israel đã đưa tin rằng đến nay đã có bốn chuyến hàng ngũ cốc bị đánh cắp từ Ukraine được dỡ xuống ở Israel.

Theo Tổng thống Zelenskiy, Kyiv đã thực hiện “tất cả các bước cần thiết thông qua các kênh ngoại giao để ngăn chặn những sự việc như vậy”, nhưng điều đó vẫn không đủ để ngăn chặn các vụ vận chuyển hàng hóa.

“Đây không phải là — và không thể là — hoạt động kinh doanh hợp pháp. Chính quyền Israel không thể không biết những con tàu nào đang cập cảng nước này và chúng đang chở gì”, ông nói thêm.

Hai bên đã lời qua tiếng lại hôm thứ Hai, khi Ngoại trưởng Israel Gideon Sa'ar cáo buộc Ukraine không cung cấp bằng chứng cho những lời buộc tội.

Điều đó được đưa ra để đáp lại những phát biểu của người đồng cấp Ukraine, Andrii Sybiha, người cho rằng “thật khó hiểu khi Israel không có phản hồi thích đáng đối với yêu cầu chính đáng của Ukraine.”

[Politico: Zelenskyy threatens Israelis with sanctions over stolen grain]

12. Armenia có thể phải đối mặt với “làn sóng người tị nạn” nếu xung đột với Iran leo thang, theo nhận định của một nhà phân tích các vấn đề toàn cầu.

Những bất ổn xung quanh cuộc chiến tranh Iran đã tạo ra “rất nhiều lo lắng” cho người Armenia, theo Michael Bociurkiw, một nhà phân tích các vấn đề toàn cầu và nghiên cứu viên cao cấp tại Trung tâm Á Âu của Hội đồng Đại Tây Dương.

Bociurkiw đã đưa tin từ biên giới giữa Iran và Armenia, nơi người tị nạn hoặc người xin tị nạn có thể tự do đi qua. Nga, ở phía bắc, đã giúp Armenia kiểm soát khu vực này.

“Nếu tình hình ở Iran xấu đi, có thể sẽ có một làn sóng người tị nạn đổ vào Armenia,” ông Bociurkiw nói với đài CBS News hôm thứ Hai, lưu ý rằng quốc gia 2 triệu dân này gần đây đã tiếp nhận khoảng 120.000 người dân của mình sau khi ký kết thỏa thuận hòa bình với Azerbaijan tại Tòa Bạch Ốc năm ngoái.

Thỏa thuận đó bao gồm kế hoạch phát triển một hành lang giao thông công cộng trong khu vực được đặt tên theo Tổng thống Trump, hiện đang trong quá trình xây dựng.

“Nếu người Iran không thích điều đó, thì có một đại sứ quán Mỹ ở Yerevan, và người ta nói rằng không phải là điều không thể xảy ra khi người Iran có thể phóng hỏa tiễn về phía đó,” Bociurkiw nói. “Vì vậy, mọi chuyện có thể trở nên tồi tệ. Nhưng hiện tại, tình hình khá yên bình.”

[CBSNews: Armenia could face “influx of refugees” if Iran conflict worsens, says global affairs analyst]

NewsUKMor30Apr2026