Ngày 06-12-2021
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Ngày 7/12: Chúa không muốn những kẻ bé nhỏ phải hư đi. Linh mục Đoàn Hoàng Khôi Anh, SDD
Giáo Hội Năm Châu
03:19 06/12/2021

PHÚC ÂM: Mt 18, 12-14

“Chúa không muốn những kẻ bé nhỏ phải hư đi”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Các con nghĩ sao? Nếu ai có một trăm con chiên mà lạc mất một con, thì người đó lại không bỏ chín mươi chín con trên núi, để đi tìm con chiên lạc sao? Nếu người đó tìm được, thì quả thật, Thầy bảo các con, người đó sẽ vui mừng vì con chiên đó hơn chín mươi chín con chiên không thất lạc. Cũng vậy, Cha các con ở trên trời không muốn để một trong những kẻ bé nhỏ này phải hư đi”.

Ðó là lời Chúa.
 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Diễn từ của Đức Phanxicô với người tỵ nạn, tại Trung tâm Tiếp nhận và Nhận dạng ở Mytilene, Hy Lạp, Chúa nhật, ngày 5 tháng 12 năm 2021
Vũ Văn An
00:32 06/12/2021

Diễn từ của Đức Phanxicô với người tỵ nạn, tại "Trung tâm Tiếp nhận và Nhận dạng" ở Mytilene, Hy Lạp, Chúa nhật, ngày 5 tháng 12 năm 2021


Anh chị em thân mến,

Cám ơn anh chị em vì những lời tốt đẹp của anh chị em. Tôi biết ơn bà, thưa bà Tổng thống, vì sự hiện diện và những lời nói của bà. Anh chị em thân mến, tôi lại ở đây một lần nữa, để gặp gỡ anh chị em và để bảo đảm với anh chị sự gần gũi của tôi. Tôi nói điều đó từ tận cõi lòng tôi. Tôi ở đây để nhìn thấy khuôn mặt của anh chị em và nhìn vào mắt anh chị em. Đôi mắt đầy sợ hãi và mong đợi, đôi mắt từng nhìn thấy bạo lực và nghèo đói, đôi mắt thành vệt bởi quá nhiều nước mắt. Năm năm trước trên hòn đảo này, Thượng Phụ Đại Kết Bartholomew, người anh em thân yêu của tôi, đã nói một điều khiến tôi kinh ngạc: “Những người sợ hãi anh chị em sẽ không nhìn thẳng vào mắt anh chị em. Những người sợ hãi anh chị em sẽ không nhìn vào mặt anh chị em. Những người sợ hãi anh chị em sẽ không nhìn con cái anh chị em. Họ đã quên rằng phẩm giá và tự do vượt lên trên sự sợ hãi và chia rẽ. Họ quên rằng di dân không phải là vấn đề đối với Trung Đông và Bắc Phi, đối với châu Âu và Hy Lạp. Đó là vấn đề của thế giới ”(Diễn văn, ngày 16 tháng 4 năm 2016).



Đó là vấn đề của toàn thế giới: một cuộc khủng hoảng nhân đạo mà tất cả mọi người đều quan tâm. Đại dịch đã có một tác động hoàn cầu; nó đã khiến chúng ta nhận ra rằng tất cả chúng ta đang ở trên cùng một con thuyền; nó đã khiến chúng ta trải nghiệm ý nghĩa của việc có những nỗi sợ hãi giống hệt nhau. Chúng ta đã tiến đến chỗ hiểu rằng các vấn đề lớn phải cùng nhau đối đầu, vì trong thế giới ngày nay, các giải pháp từng phần là không phù hợp. Tuy nhiên, trong khi chúng ta đang cố gắng chích ngừa cho mọi người trên toàn thế giới và, dù có nhiều sự chậm trễ và do dự, nhưng tiến bộ đang đạt được trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, tất cả những điều này dường như khiếm diện khi nói đến vấn đề di dân. Tuy nhiên, cuộc sống của con người, những con người thực sự, đang bị đe dọa! Tương lai của tất cả chúng ta đang bị đe dọa, và tương lai đó sẽ chỉ bình yên khi nó được hòa nhập. Chỉ khi nó hòa giải được với những người dễ bị tổn thương nhất thì tương lai mới thịnh vượng. Khi chúng ta bác bỏ người nghèo, chúng ta bác bỏ hòa bình.

Lịch sử dạy chúng ta rằng tư lợi và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi dẫn đến những hậu quả tai hại. Thật vậy, như Công đồng Vatican II đã nhận xét, “một quyết tâm kiên quyết tôn trọng phẩm giá của các cá nhân và dân tộc khác cùng với việc cố ý thực hành tình yêu huynh đệ là điều tuyệt đối cần thiết để đạt được hòa bình” (Gaudium et Spes, 78). Thật là ảo tưởng khi nghĩ rằng chỉ giữ an toàn cho bản thân, bảo vệ bản thân khỏi những người có nhu cầu lớn hơn đang gõ cửa nhà chúng ta là đã đủ. Trong tương lai, chúng ta sẽ ngày càng tiếp xúc nhiều hơn với những người khác. Để biến nó thành điều tốt, điều cần thiết không phải là những hành động đơn phương mà là những chính sách có tầm rộng lớn. Tôi xin nhắc lại: lịch sử từng dạy ta bài học này, nhưng ta chưa học được nó. Chúng ta hãy ngừng việc làm ngơ thực tại, ngừng việc liên tục lẩn trốn trách nhiệm, ngừng việc chừa vấn đề di dân cho người khác, như thể nó không đáng kể với ai cả mà chỉ là một gánh nặng vô nghĩa cần ai đó khác phải gánh vác!

Thưa anh chị em, khuôn mặt và đôi mắt của anh chị em đang nài nỉ chúng tôi đừng nhìn theo hướng khác, đừng phủ nhận nhân tính chung của chúng ta, nhưng biến các trải nghiệm của anh chị em thành của riêng chúng tôi và lưu tâm đến hoàn cảnh bi đát của anh chị em. Elie Wiesel, một nhân chứng của thảm kịch lớn nhất thế kỷ trước, từng viết: “Chính vì tôi nhớ về sự khởi đầu chung của chúng tôi mà tôi xích lại gần hơn với đồng loại nhân bản của mình. Chính vì tôi không chịu quên rằng tương lai của họ cũng quan trọng như tương lai của chính tôi ”(From the Kingdom of Memory, Reminiscences [Từ Vương quốc Ký ức, Hồi tưởng], New York, 1990, 10). Chúa Nhật này, tôi cầu xin Thiên Chúa đánh thức chúng ta khỏi sự coi thường những người đang đau khổ, đánh thức chúng ta khỏi chủ nghĩa cá nhân chuyên loại trừ người khác, đánh thức các trái tim giả điếc trước nhu cầu của những người lân cận. Tôi yêu cầu mọi người nam nữ, tất cả chúng ta, hãy vượt qua sự tê liệt của sợ hãi, sự thờ ơ giết người, sự coi thường đầy nghi ngại chuyên hờ hững kết án tử hình những người đang ở ngoại vi! Chúng ta hãy chống lại tận gốc não trạng đương thịnh chỉ biết loay hoay với bản thân, tư lợi, của cả bản thân lẫn quốc gia, và trở thành thước đo và tiêu chuẩn của mọi sự.

Năm năm đã trôi qua kể từ khi tôi đến thăm nơi này cùng với những người anh em thân yêu của tôi là Đức Bartholomew và Đức Ieronymos. Sau những năm này, chúng ta thấy rất ít thay đổi đã diễn ra liên quan đến vấn đề di dân. Chắc chắn, nhiều người đã dấn thân vào công việc đón tiếp và hội nhập. Tôi muốn cảm ơn rất nhiều tình nguyện viên và tất cả những người ở mọi bình diện – định chế, xã hội, bác ái và chính trị - những người đã nỗ lực rất nhiều để chăm sóc cho các cá nhân và giải quyết vấn đề di dân. Tôi cũng thừa nhận các cố gắng đưa ra để tài trợ và xây dựng các cơ sở tiếp đón xứng đáng, và tôi chân thành cảm ơn người dân địa phương vì những điều tốt đẹp mà họ đã hoàn thành và vì nhiều hy sinh mà họ đã thực hiện. Tôi cũng cảm ơn chính quyền địa phương đã chào đón và chăm sóc những người đến với chúng ta. Cảm ơn anh chị em về những gì anh chị em đang thực hiện! Tuy nhiên, với sự hối tiếc sâu xa, chúng ta phải thừa nhận rằng đất nước này, cũng như những nước khác, vẫn tiếp tục cần được thúc đẩy mạnh mẽ, và ở châu Âu có những người vẫn cố chấp coi vấn đề này như một vấn đề không liên quan gì đến họ. Đây là bi kịch. Tôi nhớ lại những lời cuối cùng mà Tổng thống từng nói: “Châu Âu cũng có thể làm như vậy”.

Biết bao điều kiện vẫn không xứng đáng với con người! Biết bao điểm nóng nơi đó các di dân và người tị nạn sống trong điều kiện bấp bênh, mà không thấy thấp thoáng một giải pháp nào ở phía trước! Tuy nhiên, sự tôn trọng đối với các cá nhân và nhân quyền, nhất là ở lục địa này, nơi đang không ngừng cổ vũ chúng trên toàn thế giới, cần phải luôn được đề cao, và phẩm giá của mỗi người phải được đặt lên hàng đầu. Thật là buồn khi nghe các đề nghị như quỹ chung cần được sử dụng để xây những bức tường và dây thép gai như một giải pháp. Chúng ta đang ở trong thời đại của những bức tường và hàng rào thép gai. Chắc chắn, chúng ta thông cảm nỗi sợ hãi và bất an của người ta, những khó khăn và nguy hiểm liên hệ cũng như cảm giác mệt mỏi và thất vọng nói chung, bị các cuộc khủng hoảng kinh tế và đại dịch làm cho trầm trọng hơn. Tuy nhiên, các vấn đề không được giải quyết và sự chung sống không được cải thiện bằng cách xây những bức tường cao hơn, mà bằng cách hợp lực để chăm sóc người khác theo khả năng cụ thể của mỗi người và tôn trọng luật pháp, luôn dành ưu tiên cho giá trị bất di bất dịch của cuộc sống mỗi con người. Vì, như Elie Wiesel cũng đã nói: “Khi tính mạng con người bị đe dọa, khi phẩm giá con người bị đe dọa, biên giới quốc gia trở nên vô nghĩa” (Bài diễn văn nhận giải Nobel, ngày 10 tháng 12 năm 1986).

Trong các xã hội khác nhau, an ninh và liên đới, các mối quan tâm địa phương và phổ quát, truyền thống và sự cởi mở đang được đặt tương phản với nhau một cách đầy ý thức hệ. Thay vì tranh cãi về các ý tưởng, tốt hơn nên bắt đầu với thực tại: dừng lại và mở rộng tầm nhìn của chúng ta để tiếp nhận các vấn đề của đa số nhân loại, của tất cả những người đang là nạn nhân của các trường hợp nhân đạo khẩn cấp không do họ tạo ra, nhưng phải chịu đựng như một chương mới nhất trong lịch sử bóc lột lâu đời. Gây xôn xao dư luận bằng cách gieo rắc nỗi sợ hãi cho người khác là điều dễ dàng. Tuy nhiên, tại sao chúng ta lại không nói một cách mãnh liệt về việc bóc lột người nghèo, về những cuộc chiến tranh ít khi được nhắc đến nhưng thường được tài trợ tốt, về những thỏa thuận kinh tế mà người dân phải trả giá, về những thỏa thuận bí mật đối với việc buôn bán vũ khí, ủng hộ việc gia tăng buôn bán vũ khí? Tại sao điều này không được nói đến? Những nguyên nhân xa nên bị tấn công, chứ không phải những người nghèo phải trả giá cho các hậu quả và thậm chí được sử dụng để tuyên truyền chính trị. Để loại bỏ các nguyên nhân gốc rễ, cần nhiều điều hơn là chỉ vá víu các tình huống khẩn cấp. Các hành động phối hợp là điều cần thiết. Những thay đổi mang tính thời đại phải được tiếp cận với tầm nhìn rộng lớn. Không có câu trả lời dễ dàng cho các vấn đề phức tạp; thay vào đó, chúng ta cần đồng hành với các diễn trình từ bên trong, để vượt qua cảnh cô lập hóa và thúc đẩy sự hội nhập từ từ và cần thiết, để chấp nhận các nền văn hóa và truyền thống của người khác một cách huynh đệ và có trách nhiệm.

Trên hết, nếu chúng ta muốn bắt đầu lại, chúng ta phải nhìn vào khuôn mặt trẻ em. Mong rằng chúng ta có đủ can đảm để cảm thấy xấu hổ trước sự hiện diện của các em; trước sự ngây thơ của các em, các em là tương lai của chúng ta. Các em thách thức lương tâm chúng ta và chất vấn chúng ta: "Các ông các bà muốn cho chúng tôi thứ thế giới nào?" Chúng ta đừng vội quay mặt đối với những bức ảnh gây sốc về những thân hình nhỏ bé của các em nằm vô hồn trên bãi biển. Địa Trung Hải, nơi hàng thiên niên kỷ đã đem các dân tộc khác nhau và những vùng đất xa xôi lại gần nhau, giờ đây đang trở thành một nghĩa trang nghiệt ngã không bia mộ. Vùng nước vĩ đại này, cái nôi của rất nhiều nền văn minh, giờ đây trông như một tấm gương chết chóc. Chúng ta đừng để biển của chúng ta (mare nostrum) bị biến thành một biển chết hoang vắng (mare mortuum). Chúng ta đừng để nơi gặp gỡ này trở thành một sân khấu của xung đột. Chúng ta đừng để “biển ký ức” này biến thành “biển lãng quên”. Xin các anh chị em, chúng ta hãy ngăn chặn vụ đắm tàu của nền văn minh này!

Trên bờ biển này, Thiên Chúa đã trở thành người phàm. Tại đây lời của Chúa Giêsu vang lên, tuyên bố rằng Thiên Chúa là “Cha và là người hướng dẫn mọi người” (Thánh GREGORY thành NAZIANZUS, Điếu văn VII cho anh Caesarius của ngài, 24). Thiên Chúa yêu chúng ta như con cái của Người; Người muốn chúng ta là anh chị em. Thay vào đó, Người cảm thấy bị xúc phạm khi chúng ta coi thường những con người nam nữ được tạo ra theo hình ảnh của Người, bỏ mặc họ trong lòng thương xót của sóng biển, trong sự thờ ơ, đôi khi được biện minh thậm chí nhân danh các giá trị được cho là Kitô giáo. Trái lại, đức tin đòi hỏi lòng trắc ẩn và lòng thương xót. Chúng ta đừng quên rằng đây là phong cách của Thiên Chúa: gần gũi, từ bi và dịu dàng. Đức tin thôi thúc chúng ta đến với lòng hiếu khách, đến với lòng philoxenia (yêu người xa lạ) vốn thấm nhuần nền văn hóa cổ điển, và sau này được Chúa Giêsu tìm ra cách diễn tả nó cách dứt khoát, đặc biệt trong dụ ngôn Người Samaritanô nhân hậu (x. Lc 10,29-37) và những lời của Chương 25 Tin Mừng Mátthêu (xem câu 31-46). Khác xa với ý thức hệ tôn giáo, điều này liên quan đến nguồn gốc Kitô giáo cụ thể của chúng ta. Chúa Giêsu long trọng nói với chúng ta rằng Người hiện diện trong người khách lạ, người tị nạn, trong những người trần truồng và đói khát. Chương trình Kitô giáo là nơi Chúa Giêsu hiện diện, vì chương trình Kitô giáo, như Đức Bênêđíctô đã viết, “là một trái tim biết nhìn” (Deus Caritas Est, 31). Tôi không muốn kết thúc diễn từ này mà không cảm ơn người dân Hy Lạp vì tinh thần chào đón của họ. Nhiều khi điều này trở thành vấn đề vì những người đến nơi này khó đi nơi khác được. Xin cảm ơn các anh chị em đã rộng lượng!

Bây giờ chúng ta hãy cầu xin Đức Mẹ, để Đức Mẹ mở mắt cho chúng ta nhìn thấy các đau khổ của anh chị em chúng ta. Mẹ Maria vội vàng lên đường đến thăm người chị em họ Elizabeth đang mang thai. Biết bao bà mẹ mang thai, lên đường vội vã, đã gặp cái chết, ngay cả khi đang mang trong dạ mình sự sống! Xin Mẹ Thiên Chúa giúp chúng ta có cái nhìn mẫu thân, coi mọi người đều là con cái Thiên Chúa, đều là anh chị em để được đón nhận, che chở, nâng đỡ và hòa nhập. Và được yêu thương một cách dịu dàng. Xin Mẹ rất thánh dạy chúng ta biết đặt thực tại của những người nam nữ lên trước các ý tưởng và ý thức hệ, và vội vàng ra đi gặp gỡ mọi người đang đau khổ.

Bây giờ tất cả chúng ta hãy cầu nguyện với Đức Mẹ.
 
Linh mục Chính Thống Giáo Hy Lạp la ó phản đối Đức Thánh Cha
Đặng Tự Do
05:17 06/12/2021


Như chúng tôi đã tường trình, sáng thứ Bảy, 4 tháng 12, Đức Giáo Hoàng đã rời Síp để bay đến thủ đô Hy Lạp là Athens, hay còn gọi là Nhã Điển. Sau lễ nghi tiếp đón chính thức tại dinh tổng thống, lúc 4g chiều, Đức Thánh Cha đã thăm xã giao Đức Tổng Giám Mục Ieronymos II, của Athens và Toàn Hy Lạp, tại Tòa Tổng Giám mục Chính thống giáo.

Khi ngài bước vào cổng Tòa Giám Mục, một linh mục Chính thống giáo Hy Lạp lớn tuổi đứng trong số những người tụ tập bên đường, đã hét lên, “Giáo hoàng, ngài là một kẻ dị giáo”. Ông ta la 3 lần như vậy trước khi bị cảnh sát bắt đi.

Đoạn video cho thấy người đàn ông mặc áo choàng đen, đội mũ đen và có bộ râu dài màu trắng, hét lên những lời phản đối bằng tiếng Hy Lạp bên ngoài tòa nhà trước khi bị hai nữ cảnh sát xốc nách kéo ra xa hơn. Ông ta đã cố ngã nhào xuống đất nhưng hai nữ cảnh sát vẫn quyết liệt lôi đi.

Đức Thánh Cha Phanxicô dường như không để ý, hay không hay biết về những gì đang xảy ra khi ngài bước vào Tòa Giám Mục để có cuộc gặp gỡ với nhà lãnh đạo Chính thống giáo.

Chuyến viếng thăm của Đức Phanxicô đến Hy Lạp diễn ra 20 năm sau khi Thánh Gioan Phaolô II thực hiện chuyến thăm đầu tiên như vậy đến Hy Lạp kể từ thời Đại Ly Giáo vào năm 1054.

Vị Thánh Giáo Hoàng đã sử dụng dịp này để cầu xin sự tha thứ cho những tội lỗi mà một số người Công Giáo chống lại Chính thống giáo đã phạm phải trong nhiều thế kỷ. Đức Phanxicô đã lặp lại lời xin lỗi đó vào hôm thứ Bảy trước Đức Tổng Giám Mục Ieronymos và các giám mục Chính thống giáo khác.

Ngài nói rằng nhiều người Công Giáo “đã có những hành động và quyết định liên quan rất ít hoặc chẳng liên quan gì đến Chúa Giêsu và Tin Mừng, nhưng thay vào đó lại được đánh dấu bằng sự khao khát lợi thế và quyền lực, những quyết định như thế đã làm suy yếu nghiêm trọng sự hiệp thông của chúng ta”.

Trong cuộc gặp gỡ này Đức Tổng Giám Mục Chính Thống Giáo của Athens nói rằng “chuyến viếng thăm này của ngài đặc biệt quan trọng đối với chúng tôi”.

Trong bài phát biểu của mình, Đức Tổng Giám Mục Ieronymos đề cập đến đại dịch, môi trường và nhập cư, hoan nghênh sự nhạy cảm của Đức Giáo Hoàng đối với vấn đề này, nhưng cũng nói rằng làn sóng di dân nên dừng lại và đề cập đến việc vũ khí hóa người tị nạn của các quốc gia như Thổ Nhĩ Kỳ.

Ieronymos cũng đề cập đến lễ kỷ niệm 200 năm Chiến tranh giành độc lập của Hy Lạp, và nói rằng các vị Giáo hoàng thời đó đã giữ khoảng cách với cuộc đấu tranh giành tự do của người Hy Lạp. Đức Tổng Giám Mục Ieronymos nói: “Tôi không muốn làm bạn khó xử, nhưng tôi tin rằng trong số những người muốn được gọi là anh chị em trong Chúa Kitô, ngôn ngữ tốt nhất là sự trung thực.”

Sau bài phát biểu của mình, Đức Tổng Giám Mục Ieronymos đã trao tặng Đức Phanxicô một bức ảnh của Thánh Phaolô làm bằng bạc.

Tuy có những khó khăn nhất định nhưng nhìn chung, thái độ khiêm nhường của Đức Thánh Cha Phanxicô đã chiếm trọn cảm tình của các vị Chính Thống Giáo tại Athens.
Source:Greek Reporter
 
Israel cho biết chích 3 liều vẫn nhiễm Omicron
Đặng Tự Do
05:17 06/12/2021


Tờ Jerusalem Post số ra hôm thứ Bẩy 4 tháng 12 cho biết đến nay Israel có 34 trường hợp nhiễm coronavirus bị nghi ngờ là có liên quan đến Omicron. 7 trường hợp đã được xác nhận một cách dứt khoát là liên quan đến Omicron. 27 trường hợp còn lại vẫn còn trong vòng điều tra.

Sáng thứ Sáu Bộ Y tế cho biết 7 trường hợp liên quan đến biến thể Omicron phần lớn là những người chưa được tiêm chủng.

Cụ thể, Bộ cho biết, 4 người hoàn toàn chưa được tiêm phòng lần nào và 3 người đã được tiêm phòng - 2 người đã tiêm 3 mũi vắc xin Pfizer và 1 người đã tiêm 2 mũi AstraZeneca. Việc 2 người đã tiêm 3 mũi vắc xin Pfizer mà vẫn nhiễm biến thể Omicron khiến Israel hết sức lo lắng.

Trong số 7 người được xác nhận nhiễm micron, tất cả đều từ nước ngoài trở về: 5 người từ Nam Phi, 1 người từ Anh và 1 người từ Malawi.

Ngoài những người được xác nhận nhiễm bệnh, có thêm 27 trường hợp rất đáng ngờ. Những người này đã có kết quả xét nghiệm dương tính với COVID nhưng mẫu PCR của họ vẫn đang được sàng lọc di truyền để xác định xem có phải là nhiễm Omicron hay không.

Trong số 27 trường hợp đáng ngờ, 22 người chưa hề được tiêm chủng hoặc đã qua thời gian 6 tháng phục hồi sau khi nhiễm coronavirus. Trong số 27 trường hợp, chỉ có tám trường hợp ở nước ngoài gần đây. 19 trường hợp còn lại đã nhiễm biến thể này ở Israel.

Những người này cảm thấy thế nào?

Trong số 34 bệnh nhân, 26 người chưa được tiêm chủng hoặc đã qua thời gian 6 tháng phục hồi. Trong số 26 người này, 10 người có triệu chứng và 16 người không có triệu chứng nào hết.

Trong số 8 người được tiêm chủng, một người có triệu chứng và bảy người không có bất cứ triệu chứng nào đáng kể.

Các chuyên gia y tế của Israel nói họ đang bắt đầu hiểu rõ hơn về Omicron và có vẻ như dựa trên dữ liệu ban đầu rằng biến thể này không gây ra bệnh nghiêm trọng hơn các biến thể trước đó, mặc dù nó có vẻ lây lan nhanh hơn. Đồng thời, các vắc-xin tuy không bảo vệ hoàn toàn chúng ta khỏi nhiễm Omicron, nhưng nó đang ngăn chặn bất kỳ triệu chứng nghiêm trọng nào.

Thủ tướng Naftali Bennett đã đăng trên trang Facebook của mình về biến thể Omicron vào hôm thứ Sáu, bảo vệ quyết định cấm người nước ngoài nhập cảnh vào Israel trong hai tuần nữa cho đến khi có nhiều thông tin hơn về khả năng hoạt động của vắc-xin.

Bennett nói: “Khi có sự chắc chắn và kiến thức… chúng tôi sẽ hành động theo đó. Trong trường hợp của Omicron, khi không có câu trả lời rằng vắc-xin rất hiệu quả để chống lại nó, tôi không có ý định chấp nhận rủi ro”.

Với quyết định này của ông Bennett, mọi hy vọng về một lễ Giáng Sinh khởi sắc tại Bethlehem trong năm nay đã tan thành mây khói.
Source:Jerusalem Post
 
Đức Thánh Cha Phanxicô đã chấp nhận đơn từ chức của Đức Tổng Giám Mục Michel Aupetit
Đặng Tự Do
05:18 06/12/2021


Văn phòng Báo chí Tòa Thánh công bố ngày 2 tháng 12 rằng Đức Thánh Cha Phanxicô đã chấp nhận đơn từ chức của Đức Tổng Giám Mục Michel Aupetit của Paris. Đức Tổng Giám Mục Georges Pontier đã được bổ nhiệm làm Giám quản tông tòa của tổng giáo phận.

Vào ngày 25 tháng 11, Đức Tổng Giám Mục Paris đã yêu cầu Đức Giáo Hoàng xác định xem ngài có nên từ chức hay không. Việc công bố vào ngày 22 tháng 11 một bài báo trên tờ Le Point hàng tuần đã đặt vấn đề về khả năng quản trị của ngài. Bài báo đã dùng những từ ngữ như sự “tàn bạo” trong quan hệ với người khác, và “chủ nghĩa độc đoán” trong cách quản lý của ngài.

Bài báo cũng cho rằng tổng giám mục đã có quan hệ tình cảm với một phụ nữ vào năm 2012.

Phản ứng về ấn phẩm này, Đức Tổng Giám Mục Aupetit, nói trên Đài Notre Dame rằng ngài đã bị sốc.

“Tôi tự hỏi phải chăng thực sự có quá nhiều người muốn tôi ra đi”. Tuy nhiên, ngài thừa nhận “đã xử lý một số tình huống nóng nảy với một vài người.”

Đức Tổng Giám Mục Paris đã trao quyết định về tương lai của ngài cho Đức Giáo Hoàng sau khi tham khảo ý kiến của Đức Hồng Y Marc Ouellet, Tổng trưởng Bộ Giám mục ở Rôma, và là Sứ thần Tòa thánh tại Paris: “Tôi đã làm điều đó để bảo tồn giáo phận, vì với tư cách là một giám mục. Tôi phải phục vụ sự hiệp nhất. Không phải vì những gì tôi nên làm hay không nên làm trong quá khứ - nếu không thì tôi đã bỏ đi từ lâu - mà là để tránh chia rẽ, nếu chính tôi là nguồn gốc của sự chia rẽ.”

Tình huống này với Đức Tổng Giám Mục Paris xảy ra sau báo cáo của Pháp về lạm dụng tình dục trong Giáo hội.

Việc chấp nhận đơn từ chức của ngài đã được công bố trong bản tin chính thức của Tòa thánh trong khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô đang bay đến Síp.

Đức Cha Aupetit đã phản ứng với quyết định này trong một tuyên bố. Ngài nói rằng ngài “vô cùng lo lắng vì các cuộc tấn công” chống lại ngài và nói rằng ngài đang cầu nguyện “cho những người có thể đã mong muốn hãm hại ngài.”

“Tôi cũng cầu xin sự tha thứ cho những người mà tôi có thể đã làm tổn thương”.

Trong bài phát biểu cách đây vài ngày với Đài Notre Dame, Đức Tổng Giám Mục phủ nhận có quan hệ tình cảm với một người phụ nữ. Ngài thừa nhận rằng khi chưa là một Giám Mục, một người phụ nữ đã tiếp xúc “nhiều lần qua các cuộc thăm viếng, thư từ, v.v., đến mức đôi khi tôi phải thực hiện các bước để tạo khoảng cách giữa chúng tôi.” Ngài nói rằng “hành vi của ngài đối với cô ấy có thể không rõ ràng, do đó ngụ ý rằng giữa chúng tôi tồn tại một mối quan hệ thân mật và quan hệ tình dục, là điều mà tôi mạnh mẽ bác bỏ. Tôi quyết định không gặp lại cô ấy nữa và tôi đã thông báo cho cô ấy biết điều này”.

Về vấn đề quản trị của mình, ngài nói trong cuộc phỏng vấn ngắn rằng “Tất nhiên, việc đưa ra quyết định tạo ra sự thất vọng và cay đắng là điều bình thường, nhưng tôi không bao giờ thực hiện chúng một mình”. Đức Tổng Giám Mục cho biết các quyết định của ngài luôn có sự tham gia của nhiều hội đồng bao gồm cả giáo dân.

Ngày 7 tháng 12 năm 2017, Đức Tổng Giám Mục Aupetit được bổ nhiệm làm Tổng Giám mục thủ đô nước Pháp. Kể từ tháng 12 năm 2018, ngài cũng là thành viên của Bộ Giám mục và thường xuyên đến Rôma để tham gia vào quá trình tuyển chọn các giám mục tương lai. Ngài cũng được bổ nhiệm làm thành viên của Thánh bộ Giáo hội Phương Đông vào tháng 8 năm 2019.

Đức Tổng Giám Mục Georges Pontier sẽ làm Giám Quản Tông Tòa sede vacante et ad nutum Sanctæ, nghĩa là tạm thời phụ trách chờ lệnh của Tòa Thánh, cho đến khi Đức Thánh Cha Phanxicô bổ nhiệm một tổng giám mục mới của Paris.

Vị tổng giám mục 78 tuổi của Marseille cũng là cựu chủ tịch Hội đồng Giám mục Pháp trong thời gian từ 2013 đến 2019 được bổ nhiệm làm giám quản tông tòa của Avignon vào tháng Giêng năm 2021 để bảo đảm quá trình chuyển tiếp sau khi Đức Tổng Giám Mục Jean-Pierre Cattenoz từ chức.
Source:Aleteia
 
Đức Tổng Giám Mục Paris từ chức có thể báo hiệu sự thay đổi của Vatican
Đặng Tự Do
05:19 06/12/2021


Hôm thứ Năm, Vatican thông báo rằng Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã chấp nhận đơn từ chức của Đức Tổng Giám Mục Paris, Michel Aupetit, sau khi truyền thông Pháp cáo buộc Đức Đức Tổng Giám Mục có quan hệ tình cảm với một phụ nữ hơn một thập kỷ trước.

Quyết định của Đức Giáo Hoàng chấp nhận đơn từ chức của Đức Tổng Giám Mục Aupetit có thể báo hiệu một sự thay đổi đáng kể trong đường lối của Vatican đối với các cáo buộc về các hành vi sai trái của các giám mục, nhưng các tuyên bố của chính Đức Tổng Giám Mục cho thấy quyết định này có thể liên quan đến việc điều hành tổng giáo phận của ngài.

Bài báo xem ra đã khiến Đức Tổng Giám Mục Aupetit phải ra đi đã được xuất bản tuần trước bởi tạp chí Le Point của Pháp. Nó cáo buộc rằng linh mục Aupetit đã có một mối quan hệ “thân mật” với một phụ nữ vào năm 2012, khi ngài còn là linh mục và tổng đại diện của tổng giáo phận.

Le Point trích dẫn một số nguồn ẩn danh tuyên bố đã nhìn thấy một email năm 2012 của Cha Aupetit gửi cho người phụ nữ nhưng dường như được gửi nhầm cho thư ký của ngài.

Đức Tổng Giám Mục đã phủ nhận không có một email nào như thế cả và phủ nhận có quan hệ tình dục với người phụ nữ mà đến nay vẫn chưa ai biết tên là gì.

Đức Tổng Giám Mục cho biết vào tuần trước rằng mối quan hệ này “không rõ ràng” và có thể bị hiểu nhầm, và ngài đã không gặp người phụ nữ này nữa.

“Những người biết tôi vào thời điểm đó và những người chia sẻ cuộc sống hàng ngày của tôi chắc chắn sẽ nói rằng tôi không sống cuộc sống hai mặt, như bài báo gợi ý,” vị tổng giám mục nói với đài phát thanh Công Giáo Pháp Notre Dame.

Phát biểu ngay sau khi bài báo được xuất bản, Đức Cha Aupetit đã tố cáo bài báo là một cuộc tấn công “thâm độc” nhắm vào ngài. Đức Tổng Giám Mục xác nhận rằng ngài đã tham khảo ý kiến của Đức Hồng Y Marc Ouellet, tổng trưởng Bộ Giám mục Vatican, về tình hình và đã để lại quyết định về tương lai của mình cho Đức Thánh Cha Phanxicô, đồng thời nhấn mạnh rằng ngài đã không sử dụng từ ngữ “từ chức” trong thư viết cho Đức Giáo Hoàng.

Các phương tiện truyền thông đã đưa tin rộng rãi về quyết định của Đức Giáo Hoàng chấp nhận đơn từ chức của Đức Cha Aupetit đối với báo cáo về mối quan hệ nào đó với người phụ nữ giấu tên, mặc dù Đức Tổng Giám Mục nhấn mạnh rằng điều đó chưa bao giờ xảy ra.

Nếu quyết định được đưa ra bởi Đức Thánh Cha Phanxicô là nhằm đáp lại mối quan hệ bị cáo buộc năm 2012, nó sẽ báo hiệu một sự thay đổi trong sự khoan dung của Đức Giáo Hoàng đối với các hành vi sai trái của các giám mục. Các giám mục ở Pháp, Đức và Hoa Kỳ đều đã bị Đức Giáo Hoàng ngưng chức trong những năm gần đây sau những vụ bê bối liên quan đến việc xử lý lạm dụng tình dục của hàng giáo sĩ.

Quyết định của Đức Giáo Hoàng cũng có thể gợi ý rằng việc xác định sự không phù hợp của Đức Cha Aupetit đối với chức vụ dựa trên công luận, thay vì bất kỳ hành vi sai trái thực tế nào: Đức Tổng Giám Mục đã nói công khai rằng vào năm 2012, ngài đã thông báo cho người tiền nhiệm là Đức Hồng Y Andre Vingt-Trois, lúc đó là Tổng Giám Mục Paris, về mối quan hệ với người phụ nữ.

Đức Hồng Y Vingt-Trois đã yêu cầu Cha Aupetit tiếp tục đảm nhiệm cương vị tổng đại diện của tổng giáo phận và vào năm 2013, ngài được thăng chức lên làm Giám Mục Phụ Tá. Đức Cha Aupetit cuối cùng đã kế nhiệm Đức Hồng Y Vingt-Trois làm tổng giám mục vào năm 2018.

Thông lệ, Bộ Giám mục luôn xem xét kỹ lưỡng hồ sơ nhân sự của các ứng viên cho chức vụ Giám mục với sự tham khảo ý kiến của Sứ thần Tòa thánh và Giám mục địa phương.

Không thể có chuyện Đức Hồng Y Vingt-Trois cố tình không thông báo cho Rôma về tình hình này, vì cả Sứ thần Tòa Thánh và Tòa thánh đều đã biết về mối quan hệ của Auptit với người phụ nữ này ngay từ năm 2013, và dường như không coi đó là trở ngại cho việc thăng chức của ngài để lãnh đạo một trong những vị trí nổi bật nhất, và dễ nhìn thấy nhất ở Âu Châu.

Bản thân Đức Cha Aupetit cũng đã xác nhận sự kiện này, và cuối tuần qua ngài đã nói rằng ngài đã thông báo với cấp trên của Giáo hội về mối quan hệ vào thời điểm đó.

Vị tổng giám mục cũng cho biết lời đề nghị để Đức Thánh Cha Phanxicô quyết định tương lai của mình không phải là một phản ứng trực tiếp đối với “những gì tôi đã làm hay không trong quá khứ - nếu không thì tôi đã ra đi từ lâu”.

Thay vào đó, Đức Cha Aupetit cho biết mối quan tâm của ngài là “tránh sự chia rẽ” trong tổng giáo phận. Quyết định chấp nhận đơn từ chức của ngài có thể liên quan đến những lời chỉ trích về khả năng lãnh đạo của ngài đối với tổng giáo phận.

Bài báo của Le Point cũng trích dẫn các nguồn ẩn danh chỉ trích cách điều hành giáo phận của Đức Tổng Giám Mục, cho rằng ngài là người chuyên quyền và độc tài. Các nguồn ẩn danh chỉ ra rằng Đức Tổng Giám Mục Aupetit đã loại bỏ nhiều linh mục khỏi các nhiệm vụ mục vụ khác nhau, và một số quan chức giáo quyền đã từ chức để phản đối ngài.

Đức Tổng Giám Mục cho biết vào cuối tuần qua rằng ngài đã nhận được tin nhắn ủng hộ từ các linh mục và giáo dân của tổng giáo phận sau bài báo của Le Point và trước quyết định của Đức Giáo Hoàng.

Trong một tuyên bố đáp lại thông báo của Vatican hôm thứ Năm, Đức Tổng Giám Mục cho biết ngài đã “rất bối rối trước những cuộc tấn công mà tôi phải chịu.”

“Chúa đã ban cho, Chúa đã lấy đi”, Đức Tổng Giám Mục nói trong một tuyên bố video, “Chúc tụng danh Chúa.”

“Tôi cầu xin sự tha thứ từ những người mà tôi có thể đã làm tổn thương và tôi bảo đảm với các bạn về tình bạn sâu sắc và lời cầu nguyện của tôi.”

Tòa thánh Vatican cũng thông báo rằng Đức Tổng Giám Mục Georges Pontier, Tổng Giám Mục hiệu tòa của Tổng giáo phận Marseille, đã được bổ nhiệm tạm thời lãnh đạo tổng giáo phận thủ đô.
Source:Pillar Catholic
 
Tĩnh tâm Mùa Vọng 2021 cùng Giáo triều Rôma - Bài thứ nhất của Đức Hồng Y Raniero Cantalamessa
Bản dịch Việt Ngữ của J.B. Đặng Minh An
05:34 06/12/2021
Chúa đã sai Con Ngài đến để chúng ta có thể được nhận làm nghĩa tử của Thiên Chúa

Trong loạt bài suy niệm cho chương trình tĩnh tâm Mùa Vọng năm nay của Giáo triều Rôma, Đức Hồng Y Raniero Cantalamessa, giảng thuyết viên của Phủ Giáo Hoàng tập trung vào việc đưa ra ánh sáng “vẻ huy hoàng bên trong của Giáo Hội và của đời sống Kitô hữu”, mà không “nhắm mắt trước thực tế của các sự kiện”, để mỗi người có thể đối mặt với trách nhiệm của mình từ góc độ đúng đắn.

Đức Hồng Y Cantalamessa cho biết ngày nay có nguy cơ nhiều người đang sống “như thể Giáo hội không hơn gì” những vụ bê bối, tranh cãi, xung đột cá tính, buôn chuyện, hoặc cùng lắm chỉ hữu ích chút đỉnh về mặt xã hội. Nói tóm lại, Giáo Hội chỉ là chuyện của con người, giống như mọi thứ khác trong quá trình lịch sử”. Trong những suy tư Mùa Vọng, Đức Hồng Y đề nghị chúng ta “nhìn Giáo hội từ bên trong, theo nghĩa mạnh nhất của từ này, dưới ánh sáng của mầu nhiệm mà Giáo hội mang trong mình”, để chúng ta không mất phương hướng.

Năm nay, chương trình tĩnh tâm Mùa Vọng gồm ba bài được trình bày vào ba thứ Sáu trước Lễ Giáng Sinh với chủ đề là “Khi đến thời viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con của Người đến”, trích từ chương 4 Thư của Thánh Phaolô gửi tín hữu Galát trong đó tóm tắt toàn bộ mầu nhiệm của Kitô Giáo.

Bài suy niệm Mùa Vọng đầu tiên được tổ chức tại Đại Thính Đường Phaolô Đệ Lục có tựa đề là “Chúa đã sai Con Ngài đến để chúng ta có thể được nhận làm nghĩa tử của Thiên Chúa”

Bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.


Mùa Chay vừa qua tôi đã cố gắng làm sáng tỏ mối nguy hiểm của việc sống “etsi Christus non daretur,”, tức là “như thể Chúa Kitô chưa bao giờ tồn tại.” Tiếp tục dòng suy nghĩ này, trong các bài suy niệm Mùa Vọng năm nay, tôi muốn kêu gọi sự chú ý đến một mối nguy hiểm tương tự khác: đó là việc sống “như thể Giáo hội không hơn gì” những vụ bê bối, tranh cãi, xung đột cá tính, buôn chuyện, hoặc cùng lắm chỉ hữu ích chút đỉnh về mặt xã hội. Nói tóm lại, Giáo Hội chỉ là chuyện của con người, giống như mọi thứ khác trong quá trình lịch sử.

Tôi muốn làm sáng tỏ vẻ huy hoàng bên trong của Giáo hội và đời sống Kitô. Chúng ta không được nhắm mắt trước thực tế, cũng không được trốn tránh trách nhiệm của mình; đồng thời, chúng ta cần phải đối mặt với chúng từ một góc độ đúng đắn và không để bản thân mình bị chúng đè bẹp. Chúng ta không thể mong đợi các nhà báo và các phương tiện truyền thông tính đến quan điểm của chính Giáo hội, nhưng kết quả tồi tệ nhất có thể xảy ra nếu như chúng ta, những người thuộc về Giáo hội và những thừa tác viên của Tin Mừng, cuối cùng lại đánh mất đi mầu nhiệm ẩn chứa trong Giáo hội và thối lui để hành xử như người khác và luôn ở thế phòng thủ.

Nói về việc loan báo Tin Mừng, Thánh Tông đồ Phaolô viết: “Chúng ta đựng kho tàng này trong những bình sành dễ vỡ” (2Cr 4, 7). Thật là ngu ngốc khi dành toàn bộ thời gian và sức lực của chúng ta để tập trung vào “những chiếc lọ đất sét dễ vỡ” trong khi quên mất “kho báu”. Thánh Tông đồ cho chúng ta một lý do để khẳng định điều tích cực tồn tại ngay cả trong những tình cảnh như hoàn cảnh của chúng ta ngày nay. Ngài nói rằng điều này là “để có thể thấy rõ rằng quyền năng phi thường này thuộc về Thiên Chúa và không đến từ chúng ta” (2 Cr 4, 7).

Giáo Hội giống như những ô cửa kính màu của một nhà thờ lớn. (Tôi đã trải nghiệm điều này khi đến thăm nhà thờ chính tòa thành Chartres.) Nếu anh chị em nhìn vào các cửa sổ từ bên ngoài, từ đường phố, tất cả những gì anh chị em thấy là những mảnh kính đen được giữ lại với nhau bằng những dải chì sẫm màu. Nhưng nếu anh chị em đi vào bên trong và nhìn vào chính những ô cửa sổ đó với ánh sáng tràn vào, thì thật là một mảng màu rực rỡ, những câu chuyện và ý nghĩa mở ra trước mắt anh chị em! Tôi đề nghị rằng chúng ta nên nhìn Giáo hội từ bên trong, theo nghĩa sâu xa nhất của từ này, để thấy Giáo Hội dưới ánh sáng của mầu nhiệm mà Giáo Hội thủ đắc.

Trong Mùa Chay, Định nghĩa của Công Đồng Chalcedon theo đó Chúa Kitô thực sự là con người và thực sự là thần thánh trong một hữu thể duy nhất đã hướng dẫn chúng ta suy niệm. Trong Mùa Vọng này, chúng ta sẽ dõi theo một trong những bản văn phụng vụ Mùa Vọng tiêu biểu hơn, đó là thư Thánh Phaolô gởi tín hữu thành Galát chương 4, từ câu 4 đến câu 7, trong đó có đoạn:

Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người phụ nữ, và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử. Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con Ngài đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: “Abba, Cha ơi!” Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa.

Nói một cách ngắn gọn, phân đoạn này là sự tổng hợp của toàn bộ mầu nhiệm Kitô Giáo. Nó bao gồm Thiên Chúa Ba Ngôi: Thiên Chúa Cha, Con của Người và Chúa Thánh Thần; mầu nhiệm nhập thể: “Thiên Chúa đã sai Con Ngài;” và tất cả những điều này, không phải là một kinh nghiệm trừu tượng, lạc hậu, mà là trong bối cảnh lịch sử cứu độ: “trong thời viên mãn”. Sự hiện diện của Đức Maria một cách kín đáo, nhưng không kém phần thiết yếu, là: “sinh ra bởi một người phụ nữ”. Và, cuối cùng, kết quả của tất cả những điều này là mọi người nam cũng như nữ được làm con cái của Thiên Chúa và là đền thờ của Chúa Thánh Thần.

Con cái của Chúa!

Trong bài suy niệm đầu tiên này, tôi muốn suy ngẫm về phần đầu của bản văn: “Thiên Chúa đã sai Con mình tới hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử”. Tình phụ tử của Thiên Chúa là trọng tâm trong lời rao giảng của Chúa Giêsu. Ngay cả trong Kinh thánh tiếng Do Thái, Thiên Chúa được xem như một người cha. Điều mới lạ ở đây là giờ đây Thiên Chúa không được coi là “cha của dân tộc Israel” theo một nghĩa tập thể, có thể nói như vậy, mà là cha của mỗi con người theo một nghĩa cá nhân và cá vị, cha của cả người công chính lẫn người tội lỗi. Thiên Chúa quan tâm đến từng người như thể người đó là độc nhất vô nhị; Chúa biết nhu cầu, suy nghĩ và đếm số lượng sợi tóc trên đầu của mỗi người.

Sai lầm của Thần học Tự do, vào đầu thế kỷ 19 và 20 (đặc biệt là ở Adolf von Harnack, người đại diện nổi tiếng nhất của nó), là coi tình phụ tử của Thiên Chúa là yếu tính của Phúc âm, bỏ qua một bên thần tính của Chúa Kitô và Mầu nhiệm Vượt qua. Một sai lầm khác, bắt đầu từ lạc giáo Marcion vào thế kỷ thứ 2 và chưa từng bị xóa sổ hoàn toàn, là xem Thiên Chúa trong Kinh thánh tiếng Do Thái là Thiên Chúa công bình, thánh thiện, quyền năng và sấm sét, và Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa dịu dàng, là “hình bóng người cha” niềm nở và nhân từ.

Sự mới lạ do Chúa Kitô mang lại không bao gồm điều này. Thay vào đó, nó bao gồm thực tế là Thiên Chúa, Đấng vẫn như đã được mô tả trong Kinh Thánh tiếng Do Thái, cụ thể là, ba lần thánh, công bình và toàn năng, giờ đây đã được ban cho chúng ta làm cha của chúng ta! Đây là hình ảnh được Chúa Giêsu đặt ra trong lời mở đầu của Kinh Lạy Cha và diễn tả một cách ngắn gọn, tất cả những điều sau đây: “Cha chúng con, Đấng ngự trên trời”. Cha ngự trên trời, như thế Cha là Đấng Tối Cao, Đấng siêu việt, ở trên chúng ta như các tầng trời ở trên mặt đất, nhưng vẫn là “cha của chúng ta” - hay như nguyên tác đã viết: “Abba!” - hơi giống với cách nói bố của chúng ta, bố của con.

Đây cũng là hình ảnh của Thiên Chúa mà Giáo hội đặt ở đầu kinh Tin kính của mình. “Tôi tin kính một Thiên Chúa, là Cha toàn năng”: là cha, nhưng vẫn là đấng toàn năng: toàn năng, nhưng vẫn là cha, Đây rốt cuộc là điều mà mọi đứa trẻ cần - cha mẹ luôn cúi xuống với con, dịu dàng, có thể chơi với con, nhưng đồng thời là người mạnh mẽ và con có thể dựa vào để được bảo vệ, là người truyền cho con lòng dũng cảm và tự do.

Trong lời rao giảng của Chúa Giêsu, chúng ta có một cái nhìn thoáng qua về tính mới mẻ thực sự thay đổi mọi thứ. Thiên Chúa không chỉ là một người cha theo nghĩa ẩn dụ và đạo đức, theo nghĩa là Ngài đã tác tạo và chăm sóc cho dân tộc của mình. Thiên Chúa - trước hết - là một người cha thực sự của một người con thực sự được sinh ra “trước bình minh”, nghĩa là trước khi thời gian bắt đầu, và sẽ nhờ Người Con duy nhất này mà nhân loại cũng có thể trở thành con cái của Thiên Chúa theo nghĩa thực sự chứ không chỉ là một cách ẩn dụ. Sự mới lạ này tỏa sáng trong cách Chúa Giêsu tự xưng với Chúa Cha, gọi Người là Abba, và cũng qua lời Chúa Giêsu chúng ta biết rằng: “Không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho” (Mt 11:27).

Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng trong lời rao giảng của Chúa Giêsu trần thế, tính mới mẻ triệt để mà Ngài mang lại vẫn chưa hiển nhiên. Phạm vi của danh hiệu “cha” kéo dài theo nghĩa đạo đức, nghĩa là, nó mô tả cách Thiên Chúa hành động đối với nhân loại và cảm giác mà nhân loại nên nuôi dưỡng về Chúa. Mối quan hệ vẫn thuộc loại hiện sinh, chưa mang tính bản thể học và bản chất. Để điều này xảy ra, Mầu nhiệm Vượt qua về cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu là cần thiết.

Thánh Phaolô đã trình bày các suy tư liên quan đến giai đoạn đức tin sau Phục sinh này. Nhờ ơn cứu chuộc do Chúa Kitô mang lại và truyền cho chúng ta trong Bí tích Rửa tội, chúng ta không còn là con cái Thiên Chúa theo nghĩa luân lý đơn thuần, mà còn theo nghĩa thực tế, bản thể học. Chúng ta đã trở thành “những người con trong Chúa Con,” và Chúa Kitô đã trở thành “trưởng tử của nhiều anh chị em” (Rôma 8:29).

Để diễn tả tất cả điều này, Thánh Tông đồ sử dụng ý niệm về việc nhận con nuôi: “… để chúng ta có thể nhận làm nghĩa tử như con cái Ngài” “Thiên Chúa đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu Kitô” (Ep 1: 5). Nó chỉ là một phép tương tự, và như với bất kỳ phép tương tự nào, nó không thể diễn tả hết được mầu nhiệm này. Về bản chất, việc nhận làm con nuôi của con người chúng ta là một vấn đề luật pháp. Con nuôi có thể mang họ, quốc tịch và nơi cư trú của cha mẹ nuôi, nhưng chúng không có chung huyết thống hoặc DNA của bố mẹ. Việc thụ thai, mang nặng đẻ đau và sinh nở đều không liên quan. Đây không phải là trường hợp của chúng ta. Thiên Chúa không chỉ truyền cho chúng ta được gọi là con của Người, nhưng Người còn truyền cho chúng ta đời sống thân mật của Người, Thần Khí của Người, có thể nói được là truyền cho chúng ta DNA của Người. Nhờ Bí tích Rửa tội, chính sự sống của Thiên Chúa tuôn chảy trong chúng ta.

Về điểm này, Thánh Gioan táo bạo hơn Thánh Phaolô. Thánh Gioan không nói về việc nhận con nuôi, mà nói về sự sinh nở thực sự, Chúa đã sinh ra chúng ta. Những ai tin vào Đức Kitô “được Thiên Chúa sinh ra” (Ga 1,13); trong Phép Rửa, chúng ta được “sinh ra bởi Thánh Linh;” một người được “tái sinh từ trên cao” (xem Ga 3: 5-6).

Từ niềm tin đến sự ngạc nhiên

Cho đến nay, chúng ta đã chạm vào những chân lý đức tin của chúng ta. Tuy nhiên, tôi không muốn tập trung vào những điều này. Đây là những điều mà chúng ta đã biết và chúng ta có thể đọc trong bất kỳ sách hướng dẫn nào về thần học Kinh thánh, trong Sách Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo, và các sách về tâm linh. Vậy thì khía cạnh “khác biệt” mà chúng ta muốn tập trung vào trong bài suy niệm này là gì?

Điểm khởi đầu của tôi để khám phá là một câu được Đức Thánh Cha của chúng ta sử dụng trong bài giáo lý về Thư gửi tín hữu Galát tại buổi tiếp kiến chung vào ngày 8 tháng 9. Sau khi trích dẫn văn bản chúng ta vừa nghe về việc nhận chúng ta làm nghĩa tử, ngài nói thêm: “Những người Kitô hữu chúng ta thường xem thực tại được làm con cái Thiên Chúa là chuyện đương nhiên. Chúng ta cần phải sống ân sủng tuyệt vời mà chúng ta đã nhận được với một nhận thức sâu xa hơn, —và điều đó sẽ tốt cho chúng ta— nếu chúng ta luôn ghi nhớ khoảnh khắc của phép Rửa Tội khi chúng ta trở thành con cái Chúa”.

Tất cả chúng ta đều phải đối mặt với một mối nguy hiểm chết người, đó là việc coi thường những chân lý cao siêu nhất về đức tin của chúng ta, bao gồm chân lý chúng ta là con cái của Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa của vũ trụ, Đấng Toàn Năng, Đấng Vĩnh Hằng, Đấng ban sự sống. Thánh Gioan Phaolô II, trong bức thư về Bí tích Thánh Thể, được viết không lâu trước khi ngài qua đời, đã nói về “sự kinh ngạc của Thánh Thể” mà các Kitô hữu phải tái khám phá. Điều tương tự cũng nên nói về việc chúng ta là con cái của Chúa: chúng ta phải chuyển từ niềm tin sang sự ngạc nhiên. Tôi sẽ đi xa hơn để nói từ niềm tin đến sự bất tín! Tôi nói về một kiểu không tin rất đặc biệt: đó là những người tin mà không thể nắm bắt được những gì mình tin bởi vì nó quá bao la và không thể tưởng tượng được.

Thật vậy, chúng ta ngại nói thành lời hậu quả của việc trở thành con cái của Thiên Chúa bởi vì điều đó chỉ đơn giản là làm lung lay tâm trí. Như vậy, khoảng cách bản thể học ngăn cách Thiên Chúa với con người ngắn hơn khoảng cách bản thể học ngăn cách chúng ta với phần còn lại của tạo vật, bởi vì nhờ ân sủng, chúng ta “được thông phần thiên tính” (2 Pt 1: 4).

Một ví dụ cụ thể có thể hữu ích cho chúng ta hơn là một loạt các lập luận để hiểu tại sao không nên xem việc được là con cái Thiên Chúa là chuyện đương nhiên. Sau khi cải đạo, Thánh Margaret thành Cortona đã trải qua một thời kỳ đau khổ khủng khiếp. Chúa dường như nổi giận với cô và đôi khi bắt cô phải nhớ lại từng tội lỗi mà cô đã phạm đến từng chi tiết nhỏ nhất, khiến cô muốn biến mất khỏi mặt đất này. Một ngày nọ, sau khi rước lễ, khá bất ngờ có một giọng nói bên trong cô ấy cất lên: “Con gái của Ta!” Cô đã chống lại việc xem xét lại tất cả lỗi lầm của mình, nhưng cô không thể cưỡng lại được sự dịu dàng của giọng nói này. Cô ấy rơi vào trạng thái ngây ngất và trong cơn ngây ngất ấy, những nhân chứng có mặt đã nghe thấy cô ấy điên cuồng lặp lại trong sự kinh ngạc:

Tôi là con gái của Người; chính Người đã nói như vậy. Ôi sự dịu dàng vô hạn của Chúa tôi! Đó là từ ngữ tôi đã khao khát! đã quyết liệt tìm kiếm! Lời Người có sự ngọt ngào vượt qua mọi sự ngọt ngào! Thật là một đại dương của niềm vui! Con gái Ta! Chúa tôi đã nói điều đó! Con gái Ta!

Trước Thánh Margaret từ lâu, Tông đồ Gioan đã đạt được nhận thức đáng kinh ngạc đó. Ngài viết: “Hãy chứng kiến tình yêu sâu đậm mà Thiên Chúa dành cho chúng ta đến mức chúng ta được gọi là con cái của Thiên Chúa. Và đó là những gì chúng ta thực sự là!” (1 Ga 3: 1). Câu này rõ ràng là có ý được đọc với một dấu chấm than.

Cởi trói cho phép Rửa của ta

Tại sao việc đi xa hơn niềm tin để đi đến sự ngạc nhiên, hay từ những niềm tin (fides quae) sang tin (fides qua), lại quan trọng đến vậy? Chỉ tin thôi chưa đủ à? Chưa, và vì một lý do rất đơn giản: bởi vì điều đó - và chỉ điều đó - mới thực sự thay đổi cuộc sống của anh chị em!

Hãy cùng nhìn lại con đường dẫn đến cấp độ đức tin mới này. Như chúng ta đã nghe, Đức Thánh Cha mời gọi chúng ta trở lại với Bí tích Rửa tội của mình. Để hiểu làm thế nào mà một bí tích đã lãnh nhận nhiều năm trước - thường là khi bắt đầu cuộc đời chúng ta - có thể đột ngột sống lại và giải phóng năng lượng tâm linh mới, chúng ta cần ghi nhớ một số khía cạnh của thần học về bí tích.

Thần học Công Giáo thừa nhận ý tưởng về một bí tích vừa thành sự vừa hợp luật, nhưng “bị trói buộc” hoặc “bị đóng băng”. Phép Rửa Tội thường là một bí tích “bị trói buộc”. Một bí tích được cho là “bị trói buộc” nếu tác dụng của nó vẫn còn bị hạn chế và cản trở do thiếu một số điều kiện để phát huy hiệu quả của nó. Một ví dụ cực đoan là Bí tích Hôn phối hoặc Truyền Chức Thánh được lãnh nhận trong tình trạng đang mắc tội trọng. Trong hoàn cảnh đó, các bí tích đó không thể mang lại bất kỳ ân sủng nào cho các cá nhân lãnh nhận. Tuy nhiên, một khi chướng ngại của tội lỗi được loại bỏ, qua một lời xưng tội tốt, người ta nói rằng bí tích hồi sinh (reviscit) mà không cần lặp lại nghi thức bí tích, nhờ vào sự trung tín và không thể đảo ngược của hồng ân Thiên Chúa.

Như tôi đã đề cập, Bí Tích Hôn Phối và Truyền Chức Thánh là những ví dụ điển hình, nhưng có thể có những trường hợp khác, trong đó một bí tích, mặc dù không hoàn toàn bị trói buộc, cũng không hoàn toàn được giải phóng, nghĩa là được tự do phát huy tác dụng của nó. Trong trường hợp của Bí tích Rửa tội, điều gì có thể khiến các tác động của bí tích bị trói buộc? Các bí tích không phải là những nghi thức ma thuật hoạt động một cách máy móc mà chúng ta không biết hoặc không có sự hợp tác của chúng ta. Hiệu quả của chúng là kết quả của sức mạnh tổng hợp hoặc sự cộng tác giữa quyền năng toàn năng của Thiên Chúa, cụ thể là ân sủng của Chúa Kitô, của Chúa Thánh Thần, và sự tự do của con người.

Một bí tích mà mọi sự tùy thuộc vào ân sủng hoặc thánh ý của Chúa Kitô thì được gọi là “opus operatum”, “công việc viên mãn”; nghĩa là công việc đã hoàn thành, những hiệu quả khách quan và tất yếu của bí tích ấy phát huy tác dụng nếu bí tích ấy được thực hiện một cách hợp lệ. Trái lại, một bí tích mà mọi thứ phụ thuộc vào quyền tự do và sự định đoạt của người nhận thì được gọi là “opus operantis”, “công việc chưa được hoàn thành”, nghĩa là còn những điều phải tiến hành, với sự đóng góp của con người.

Những gì chúng ta nhận được từ Thiên Chúa – trong điều được gọi là “hồng ân Phép Rửa” - là nhiều mặt và rất phong phú. Nó bao gồm việc chúng ta trở thành con cái của Thiên Chúa, được xóa bỏ tội lỗi, được Chúa Thánh Thần ngự trị, và được gieo mầm các nhân đức thần học như đức tin, đức cậy và đức mến vào tâm hồn chúng ta. Sự đóng góp của con người chủ yếu là niềm tin! “Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ” (Mc 16,16). Khi ân sủng và tự do giao nhau trong một thể đồng bộ hoàn hảo, giống như hai cực, một cực dương và một cực âm, thì ánh sáng và sức mạnh được giải phóng.

Trong trường hợp Bí tích Rửa tội cho trẻ sơ sinh (và cả trong Bí tích Rửa tội dành cho người lớn khi thiếu niềm tin và thiếu sự tham gia sâu sắc), tính đồng bộ đó bị thiếu. Tôi không đề nghị chúng ta từ bỏ thực hành rửa tội cho trẻ sơ sinh. Giáo hội đã luôn luôn thực hành điều đó một cách đúng đắn và bảo vệ nó trên cơ sở rằng Bí tích Rửa tội là một hồng ân của Thiên Chúa ngay cả trước khi đó là kết quả của sự lựa chọn của con người. Thay vào đó, chúng ta cần thừa nhận những gì thực hành này có liên quan, trong hoàn cảnh lịch sử mới mà chúng ta đang sống.

Trong quá khứ, khi toàn bộ môi trường là Kitô Giáo và được thấm nhuần đức tin, đức tin này có thể nở rộ, mặc dù dần dần. Hành động đức tin tự do và cá vị được “Giáo hội cung cấp” và được thể hiện, như đã thường xảy ra là thông qua một bên thứ ba, cụ thể là cha mẹ và người đỡ đầu. Đây không còn là trường hợp của ngày hôm nay. Môi trường mà đứa trẻ lớn lên ngày nay ít thuận lợi hơn trong việc giúp đức tin nảy nở trong đứa trẻ. Môi trường gia đình cũng ít thuận lợi hơn xưa, hệ thống trường học còn ít thuận lợi hơn nữa, và tình hình còn thê thảm hơn trong toàn bộ xã hội và văn hóa của chúng ta.

Đây là lý do tại sao tôi đã nói về phép Rửa Tội như một bí tích “bị trói buộc”. Nó giống như một gói quà rất quý giá vẫn chưa được mở ra, giống như một món quà Giáng sinh, bị thất lạc ở đâu đó và bị lãng quên, ngay cả trước khi nó được mở ra. Bất cứ ai có nó đều có mọi thứ họ cần để thực hiện mọi hành vi cần thiết trong đời sống của một Kitô Hữu, và cũng trải nghiệm một số tác động của nó ít nhất là một phần, nhưng không tận hưởng được sự trọn vẹn của thực tại này. Theo ngôn ngữ của Thánh Augustinô, họ cảm nghiệm được bí tích (sacramentum), nhưng không cảm nghiệm được thực tại của bí tích (res sacramenti), hay chỉ cảm nghiệm được một phần.

Thực tế là chúng ta đang ở đây suy ngẫm về điều này có nghĩa là chúng ta đã tin, rằng đức tin đã được kết hợp với bí tích trong chúng ta. Vậy thì chúng ta vẫn còn thiếu điều gì? Chúng ta thiếu niềm tin như một sự kinh ngạc, thiếu một sự trầm trồ tròn xoe đôi mắt! thiếu sự ngạc nhiên và phấn khích mà anh chị em có được khi mở một món quà, mà đối với người tặng quà đó là quà tặng tuyệt vời nhất. Các Giáo phụ Hy Lạp gọi Bí tích Rửa tội là “sự khai sáng” (phoismos). Loại giác ngộ đó đã bao giờ xuất hiện trong chúng ta chưa?

Chúng ta tự hỏi: liệu có khả thi, và thậm chí có đúng không, khi chúng ta khao khát đạt đến một mức độ khác của đức tin, trong đó chúng ta không chỉ tin một chân lý mà còn trải nghiệm và nếm trải chân lý mà chúng ta tin? Linh đạo Kitô giáo thường đi kèm với một sự miễn cưỡng và thậm chí, như trong trường hợp của các nhà Cải cách Tin Lành, còn đi kèm với sự phủ nhận chiều kích kinh nghiệm và thần bí của đời sống Kitô như thể nó thấp kém hơn và đi ngược lại với đức tin thuần túy cách này cách khác. Nhưng bất chấp những lạm dụng cũng đã xảy ra, truyền thống Kitô giáo chưa bao giờ hạ thấp truyền thống khôn ngoan cho rằng đỉnh cao của đức tin là ở chỗ “thưởng thức” chân lý của những gì chúng ta tin và “nếm” chân lý, bao gồm cả vị đắng của chân lý thập tự giá.

Theo ngôn ngữ Kinh thánh, biết không có nghĩa là có ý tưởng về một thứ gì đó vẫn tách biệt và xa rời tôi. Nó có nghĩa là bước vào một mối quan hệ và trải nghiệm nó. Thánh sử Gioan đã thốt lên: “Chúng ta đã biết tình yêu của Thiên Chúa nơi chúng ta, và đã tin vào tình yêu đó” (1 Ga 4:16), và một lần nữa: “Chúng ta đã tin và biết rằng Người là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga 6: 69). Tại sao lại nói “đã biết và đã tin?” “Đã biết” thêm gì vào “đã tin”? Thưa: Nó thêm một xác tín nội tâm xảy ra khi sự thật đối đầu với tinh thần và người ta buộc phải thốt lên từ thẳm sâu trong lòng: “Đúng, đó là sự thật, không còn nghi ngờ gì nữa, chính là thế!” Sự thật được tin tưởng trở thành sự thật được sống. Thánh Thomas Aquinas đã nói như thế này: “Fides non terminatur ad enuntiabile sed ad rem”, nghĩa là “Đức tin không kết thúc bằng lời nói, nhưng bằng thực tế.” Chúng ta không ngừng tái khám phá những hệ quả thực tiễn của nguyên tắc này.

Vai trò của Lời Chúa

Làm thế nào chúng ta có thể thực hiện bước nhảy vọt về chất này từ đức tin đến sự ngạc nhiên khi biết mình là con cái Thiên Chúa? Câu trả lời đầu tiên là Lời Chúa! Có một phương tiện thiết yếu không kém, đó là Chúa Thánh Thần, nhưng chúng ta sẽ để lại điều đó cho lần suy niệm tiếp theo. Thánh Grêgôriô Cả đã so sánh Lời Chúa với đá lửa, tức là, với viên đá từng được dùng để tạo ra tia lửa đốt cháy. Thánh nhân nói rằng cần phải làm với Lời Chúa những gì được thực hiện với đá lửa: nghĩa là đánh nó liên tục cho đến khi nó tạo ra tia lửa. Suy ngẫm về nó, lặp lại nó, thậm chí lớn tiếng.

Trong giờ cầu nguyện hoặc giờ thờ phượng của anh chị em, với cả tấm lòng và không chán nản, hãy lặp lại trong chính anh chị em: “Con của Thiên Chúa! Tôi là con của Thiên Chúa; Tôi là con cái của Chúa. Chúa là cha tôi!” Hoặc chỉ cần lặp đi lặp lại một lúc: “Lạy Cha chúng con ngự trên trời” mà không tiếp tục phần còn lại của Kinh Lạy Cha. Khi làm như vậy, điều cần thiết hơn bao giờ hết là phải nhớ lời của Chúa Giêsu: “Hãy gõ thì cửa sẽ mở cho anh em” (Mt 7: 7). Không sớm thì muộn, và có lẽ khi anh chị em ít ngờ tới nhất, điều đó sẽ xảy ra - thực tại của những lời nói đó, dù chỉ trong chốc lát, sẽ bùng nổ trong anh chị em và sẽ là đủ cho phần còn lại của cuộc đời anh chị em. Và ngay cả khi không có gì giật gân xảy ra, hãy yên tâm rằng anh chị em đã đạt được những gì cần thiết. Phần còn lại sẽ được trao cho anh chị em ở trên trời: “Anh em thân mến, hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa; nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Đức Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy” (1 Ga 3: 2)

Chúng ta tất cả là anh chị em!

Một trong những tác động tức thì của tất cả những điều này là anh chị em sẽ nhận thức được phẩm giá của mình. Vào đêm Giáng sinh, Thánh Lêô Đại Đế sẽ khuyên nhủ chúng ta: “Hỡi người Kitô hữu, hãy nhận biết phẩm giá của mình. Một khi anh chị em đã chia sẻ trong thần tính Thiên Chúa, anh chị em có thực sự còn muốn quay trở lại những điều tồi tệ trong quá khứ của mình không?” Còn phẩm giá nào có thể cao hơn là được làm con của Thiên Chúa? Có một câu chuyện kể về một cô công chúa xấu tính, kiêu ngạo con của nhà vua nước Pháp, là người đã liên tục mắng mỏ một trong những người hầu gái của mình. Một ngày nọ, cô ấy hét vào mặt người tớ gái, “Mày không biết rằng tao là con gái vua của mày à?” Người hầu gái trả lời: “Thế cô không biết rằng tôi là con gái Chúa của cô à?”

Một sản phẩm phụ khác thậm chí còn quan trọng hơn là anh chị em trở nên ý thức hơn về phẩm giá của những người khác, những người cũng là con trai và con gái của Thiên Chúa. Đối với Kitô Hữu chúng ta, tình liên đới giữa con người với tư cách là anh chị em, tối hậu bắt nguồn từ sự thật rằng Thiên Chúa là cha của tất cả chúng ta, và vì tất cả chúng ta đều là con trai và con gái của Thiên Chúa, nên tất cả chúng ta đều là anh chị em của nhau. Không có mối ràng buộc nào bền chặt hơn điều này, và đối với các tín hữu Kitô chúng ta, không có lý do khác cấp thiết hơn để thúc đẩy tình huynh đệ phổ quát. Thánh Cyprianô viết: “Anh chị em không thể xưng Thiên Chúa là cha của mình mà không coi Giáo hội như mẹ của mình.” Chúng ta nên nói thêm: “Anh chị em không thể xưng Thiên Chúa là cha mình mà không coi người hàng xóm là anh chị em với mình.”

Có một điều chúng ta nên ngưng ngay đừng làm nữa. Chúng ta đừng nói với Thiên Chúa, là Cha chúng ta, dù chỉ là những lời xa xôi bóng gió rằng: “Hãy chọn giữa con và kẻ thù của con; hãy quyết định xem Chúa đứng về phía nào!” Không một bậc cha mẹ nào đáng bị đặt vào tình thế không thể nhìn nhận một trong những con cái của mình chỉ đơn giản là vì bọn trẻ không thể hòa hợp với nhau. Vì thế, chúng ta đừng cầu xin Chúa đứng về phía chúng ta chống lại người khác.

Khi chúng ta xung đột với người khác - anh chị em của chúng ta - ngay cả trước khi chúng ta gặp họ để thảo luận về quan điểm của chúng ta, là điều không chỉ là đúng đắn mà đôi khi còn là cần thiết nữa, chúng ta hãy nói với Chúa: “Cha ơi, xin hãy cứu con, cứu cả anh trai hoặc em gái của con; cứu cả hai chúng con. Con không giành phần phải về mình, và anh ấy hoặc cô ấy không nhất thiết phải là sai. Con muốn người đó đứng về sự thật, hoặc ít nhất là có thiện ý”. Lòng thương xót của người này đối với người kia là điều không thể thiếu để sống đời sống Thánh Linh và đời sống cộng đồng dưới mọi hình thức của nó. Nó không thể thiếu đối với gia đình và mọi cộng đồng con người và tôn giáo, kể cả Giáo triều Rôma. Như thánh Augustinô đã nói, tất cả chúng ta đều là những hũ đất sét dễ vỡ: Chúng ta rất dễ làm tổn thương chính mình.

Trước đó, chúng ta đã nhắc nhớ đến sự phấn khích của Thánh Margaret thành Cortona khi cô ấy cảm thấy Chúa đang gọi cô ấy là “con gái của Ta”. “Tôi là con gái của Người; Người đã nói như vậy… Thật là một đại dương của niềm vui! Con gái Ta! Chúa tôi đã nói điều đó! Con gái Ta!” Chúng ta có thể trải nghiệm điều gì đó rất giống nếu chúng ta lắng nghe chính giọng nói đó của Thiên Chúa, không vang vọng trong tâm trí của chúng ta, điều này có thể bị đánh lừa!, nhưng xuất hiện tỏ tường như được viết trên trang Kinh thánh mà chúng ta đang xem xét: “Anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa!” (Gal 4:7)

Nếu Chúa muốn, như chúng ta sẽ thấy lần sau Thánh Linh sẵn sàng giúp chúng ta trong công việc này.


1. Gioan Phaolô II, Thông Điệp Ecclesia de Eucharistia - Giáo Hội từ Thánh Thể, 6.

2. Giunta Bevegnati, Vita e miracoli della Beata Margherita da Cortona, II, 6 (Italian version, Vicenza 1978, p. 19f).

3. Xem A. Michel, Reviviscence des sacrements, in DTC, XIII,2, Paris 1937, coll. 2618-2628.

4. Summa theologiæ, II-II, 1, 2, ad 2.

5. Thánh Grêgôriô Cả, Các bài giảng về tiên tri Ezechiel, I,2,1.

6. Thánh Lêo Cả, Diễn từ về Giáng Sinh, 3.

7. Cyprianô, De unitate Ecclesiæ, 6.

8. Thánh Augustinô, Các diễn từ, 69 (PL 38, 440) (lutea vasa sibi invicem angustias facientes).
Source:Cantalamessa
 
Top Stories
God sent His Son that we might be adopted as Gods children - First meditation for Advent 2021
Cardinal Raniero Cantalamessa
02:35 06/12/2021
Last Lent I tried to shed some light on the danger of living “etsi Christus non daretur,” that is, “as if Christ had never existed.” Continuing this line of thought, in this year’s Advent meditations I would like to call attention to another analogous danger: that of living “as if the Church were nothing more than” scandals, controversies, personality clashes, gossip, or at best, at least socially useful. In short, just human, like everything else in the course of history.

I would like to shed light on the inner splendor of the Church and the Christian life. We must not close our eyes to factual reality nor evade our responsibilities; at the same time, we need to face them from a correct perspective and not allow ourselves to be crushed by them. We cannot expect journalists and the media to take into account how the Church views itself, but the worst possible outcome would be if we, Church people and ministers of the Gospel, were likewise to end up losing sight of the mystery that dwells within the Church and resign ourselves to playing on someone else’s turf and always on the defensive.

Speaking about the proclamation of the Gospel, the Apostle wrote: “We carry this treasure in fragile clay jars” (2 Cor 4:7). It would be foolish to spend all of our time and energy focusing on the “fragile clay jars” while forgetting about “the treasure”. The Apostle gives us a reason to assert the positive that exists even in a situation like ours. He says that this is “so that it may be clear that this extraordinary power belongs to God and does not come from us” (2 Cor 4:7).

The Church is like the stained glass windows of a cathedral. (I experienced this while visiting Chartres Cathedral.) If you look at the windows from the outside, from the street, all you see are pieces of dark glass held together by dark strips of lead. But if you go inside and look at those same windows with the light pouring in, what a splendid array of colors, stories, and meanings unfolds before your eyes! I am suggesting that we look at the Church from the inside, in the deepest meaning of the word, to see it in light of the mystery that it bears.

During Lent, the Chalcedonian Definition that Christ is truly human and truly divine in a single person guided our meditations. This season we will take our lead from one of the more typical Advent liturgical texts, Galatians 4:4-7, which reads:

When the fullness of time had come, God sent his Son, born of a woman, born under the Law, to redeem those who were under the law, so that we might receive adoption as children. The proof that you are children is that God has sent into your hearts his Son’s Spirit which cries out: “Abba! Father!” Therefore you are no longer a slave but a child; and if a child, then also an heir, by God’s grace.

In its brevity, this passage is a synthesis of the entire Christian mystery. It encompasses the Trinity: God the Father, his Son, and the Holy Spirit; the incarnation: “God sent his Son;” and all of this, not as some abstract, out-of-time experience, but within the context of salvation history: “in the fullness of time.” Discretely, but no less essential, is the presence of Mary: “born of a woman.” And, finally, the upshot of all this: women and men are made children of God and temples of the Holy Spirit.

Children of God!

In this initial meditation, I would like to reflect on the first part of the text: “God sent his Son so that we might receive adoption as God’s children.” The fatherhood of God is at the heart of Jesus’ preaching. Even in the Hebrew Scriptures, God is seen as a father. The novelty here is that now God is seen not so much as the “father of his people Israel” in a collective sense, so to speak, but as the father of each human being in an individual and personal sense, of both the righteous and the sinner. God cares about each one as if that person were the only one; God knows the needs, the thoughts and counts the number of hairs on the head of each one.

The mistake of Liberal Theology, at the turn of the 19th and 20th centuries (especially in its most renowned representative, Adolf von Harnack), was to view the fatherhood of God as the essence of the Gospel, leaving aside Christ’s divinity and the Paschal Mystery. Another error (which began with the heresy of Marcion in the 2nd century and was never completely eradicated) was to view the God of the Hebrew Scriptures as a just, holy, powerful, and thundering God, and the God of Jesus Christ as a tender, affable and merciful “daddy-figure” God.

The novelty brought by Christ does not consist in this. Rather, it consists in the fact that God, who remains as he was described in the Hebrew Testament, namely, thrice holy, just, and all-powerful, is now given to us as our papa! This is the image set in place by Jesus in the opening words of the Our Father and which expresses, in a nutshell, all that follows: “Our Father who art in heaven.” You are in heaven, that is, you are the Most High, the transcendent One, as high above us as the heavens are above the earth, but still, “our father” – or as the original puts it: “Abba!” – somewhat akin to saying our papa, my dad.

This is also the image of God that the Church places at the head of its Creed. “I believe in one God, the Father almighty”: father, but still almighty: almighty, but still father, This is, after all, what every child needs – a parent who bends down to them, who is tender, with whom they can play, but who, at the same time, is strong and can be relied on for protection, who instills in them courage and freedom.

In Jesus’ preaching, we get a glimpse of the real novelty that changes everything. God is not just a father in a metaphorical and moral sense in so far as he created and cares for his people. God is – first of all – a real father of a real son begotten “before the dawn,” meaning before time began, and it will be thanks to this only Son that people will also be able to become God’s children in a real sense and not just metaphorically. This novelty shines in the way Jesus addresses himself to the Father calling him Abbà, and also through his words: “No one knows the Father but the Son, and anyone to whom the Son chooses to reveal him” (Mt 11:27).

It must be noted, however, that in the preaching of the earthly Jesus the radical novelty that he brought about is not yet apparent. The scope of the title “father” lingers in a moral sense, that is, it describes how God acts towards humanity and the feeling that humans should nurture regarding God. The relationship is still of an existential type, not yet ontological and essential. For this to happen, the Paschal Mystery of his death and resurrection was needed.

Paul is a reflection of this post-Easter stage of faith. Thanks to the redemption brought about by Christ and imparted to us in Baptism, we are no longer God’s children in a moral sense alone, but also in a real, ontological sense. We have become “sons in the Son,” and Christ has become the “firstborn of many brothers and sisters” (Rom 8:29).

To express all this the Apostle uses the notion of adoption: “…that we might receive adoption as children” “God destined us for adoption as his children” (Eph 1:5). It is only an analogy, and as with any analogy, it cannot express the fullness of the mystery. In itself, human adoption is a legal fact. Adopted children may assume the surname, citizenship, and residence of the adoptive parent, but they do not share their blood or DNA. Conception, birthing pangs, and delivery were not involved. This is not the case with us. God not only imparts to us being called his children, but he also imparts to us his intimate life, his Spirit which is, so to speak, his DNA. By Baptism, the very life of God flows within us.

On this point, John is more daring than Paul. He does not speak in terms of adoption, but of real birthing, God giving us birth. Those who believed in Christ “were begotten by God” (Jn 1:13); in Baptism, we are “born of the Spirit;” one is “born again from above” (see Jn 3:5-6).

From faith to amazement

Thus far we have touched on the truths of our faith. It is not, however, on these that I would like to focus. These are things that we already know and that we can read about in any manual of biblical theology, in the Catechism of the Catholic Church, and books on spirituality. What, then, is the “different” aspect that we want to focus on in this reflection?

My starting point for discovering it is a sentence used by our Holy Father in his catechesis on the Letter to the Galatians at the General Audience of last September 8. After quoting our text on the adoption as children, he added: “We Christians often take for granted this reality of being children of God. We might live the great gift we have received with more awareness,—and it would be good for us—, if we were always to keep in mind the moment of our Baptism when we became one.”

We all face a mortal danger, namely taking for granted the most sublime truths of our faith, including that of being children of God, the Creator of the universe, the Almighty One, the Eternal One, the giver of life. St. John Paul II, in his letter on the Eucharist, written shortly before his death, spoke about the “Eucharistic amazement” that Christians ought to rediscover. The same should be said about our being children of the divine: we must pass from faith to amazement. I would go so far as to say from faith to unbelief! I speak of a very special type of unbelief: that of those who believe without being able to grasp what they believe because it is so immense and unthinkable.

Indeed, we hesitate to put into words the consequence of being children of God because it simply boggles the mind. Being such, the ontological gap that separates God from humans is smaller than the ontological gap that separates us from the rest of creation, because by grace we “share in the divine nature” (2 Pt 1:4).

An example might serve better than a host of arguments to understand what it means not to take for granted being children of God. Following her conversion, St. Margaret of Cortona went through a period of terrible anguish. God seemed to be angry with her and at times made her recall, one by one, all the sins she had committed down to the smallest detail, making her want to vanish from the face of the earth. One day, after communion, quite unexpectedly a voice within her said: “My daughter!” She had resisted a review of all her faults, but she could not resist the tenderness of this voice. She fell into an ecstasy and, during the ecstasy, witnesses present heard her franticly repeat in amazement:

I am his daughter; he said so. O infinite tenderness of my God! The word I craved! So insistently sought! Word whose sweetness surpasses all sweetness! What an ocean of joy! My daughter! My God said it! My daughter!

Well before St. Margaret, the Apostle John came to that same shocking realization. He wrote: “Witness the depth of love God has for us that we should be called God’s children. And that is what we truly are!” (1 Jn 3:1). This sentence is clearly intended to be read with an exclamation point.

Unleashing one’s Baptism

Why is it so important to move beyond faith to amazement, from beliefs (fides quae) to believing (fides qua)? Isn’t it enough just to believe? No, and for a very simple reason: because this – and only this – really changes your life!

Let take a look at the path that leads to this new level of faith. As we heard, the Holy Father invited us to return to our Baptism. To understand how a sacrament received many years ago –often at the beginning of our lives – can suddenly come back to life and release new spiritual energy, we need to keep in mind certain facets of sacramental theology.

Catholic theology acknowledges the idea of a sacrament that is both valid and licit, but “tethered” or “frozen”. Baptism is often a “tethered” sacrament. A sacrament is said to be “tethered” if its effects remain inhibited and hindered due to the lack of certain conditions that impede its effectiveness. An extreme example would be the sacrament of Matrimony or Holy Orders received in a state of mortal sin. In those circumstances, such sacraments cannot confer any grace on the individuals. However, once the obstacle of sin is removed through a good confession, it is said that the sacrament revives (reviviscit) without needing to repeat the sacramental rite, thanks to the fidelity and irrevocability of God’s gift.

As I mentioned, Matrimony and Holy Orders are extreme examples, but there could be other cases in which a sacrament, although not completely tethered, is also not completely unleashed, that is, free to work its effects. In the case of Baptism, what is it that could cause the effects of the sacrament to remain frozen? Sacraments are not magical rites that work mechanically without our knowing it or without some cooperation on our part. Their effectiveness is the result of synergy or collaboration between divine omnipotence (specifically, the grace of Christ of the Holy Spirit) and human freedom.

In the sacrament, everything that depends on the grace or will of Christ is referred to as “the work accomplished” (opus operatum); that is, the finished work, the objective and inevitable effects of the sacrament when validly administered. On the other hand, everything that depends on the recipient’s freedom and disposition is called “the work yet to be accomplished” (opus operantis), that is, what remains to be carried out, the human contribution.

What we receive from God – the so-called “grace of Baptism” – is multifaceted and very rich. It includes our becoming children of God, the remission of sins, the indwelling of the Holy Spirit, and the planting of the seeds of the theological virtues of faith, hope, and charity into our souls. The human contribution consists essentially of faith! “Whoever believes and is baptized will be saved” (Mk 16:16). When grace and freedom touch in perfect synchronism, like two poles, one positive and one negative, light and power are unleashed.

In the case of infant Baptism (and also in adult Baptism when deep conviction and participation are lacking), that synchronism is missing. I’m not suggesting that we abandon the practice of infant Baptism. The Church has always rightly practiced it and defended it on the basis that Baptism is a gift of God even prior to being the result of a human choice. Rather, we need to acknowledge what this practice involves, given the new historical situation in which we live.

In times past, when the entire environment was Christian and impregnated with faith, this faith could blossom, albeit gradually. The free and personal act of faith was “supplied by the Church” and expressed, as it were, through a third party, namely the parents and godparents. This is no longer the case. The environment in which a child grows up today is less conducive to helping faith blossom in the child. Often neither is the family, and even less so the school system, and least of all our society and culture.

This is why I spoke about Baptism as a “tethered” sacrament. It is like a very precious gift package that remains unopened, like a Christmas gift, misplaced somewhere and forgotten about, even before it was opened. Whoever has it has everything they need to carry out all the acts required in the life of a Christian, and also experiences some of its effects at least partially, but does not enjoy the fullness of the reality. In the language of St. Augustine, they experience the sacrament (sacramentum), but not – at least not fully – the reality of the sacrament (the res sacramenti).

The fact that we are here meditating on this already means that we have believed, that faith has been joined to the sacrament in us. What, then, are we still lacking? We lack faith-as-amazement, the wide-eyed Wow! of wonder and excitement as that you get when you open a gift and which is, to the gift-giver, the best reward of all. The Greek Fathers referred to Baptism as “enlightenment” (photismos). Has that type of enlightenment ever occurred in us?

We ask ourselves: is it possible, and is it even right, for us to aspire to this different level of faith in which we not only believe a truth but also experience and taste the truth that we believe? Christian spirituality has often been accompanied by reluctance and even (as in the case of the Reformers) by a negation of the experiential and mystical dimension of the Christian life as if it were somehow inferior and contrary to pure faith. But despite the abuses that have also occurred, the Christian tradition has never downplayed the wisdom tradition which holds that the apex of faith is in “savoring” the truth of what we believe and in “tasting” the truth, including the bitter taste of the truth of the cross.

In biblical language, to know does not mean having an idea of something that remains distinct and apart from me. It means entering into a relationship and experiencing it. (The term is used even about knowing your wife and knowing the loss of children!). The evangelist John exclaims: “We have known and believed the love God has towards us” (1 Jn 4:16), and again: “We have believed and known that you are the Holy One of God” (Jn 6:69). Why say “known and believed?” What does “known” add to “believed”? It adds a certain inner conviction that occurs when truth confronts the spirit and one is compelled to exclaim from deep within: “Yes, it’s true, there is no doubt, that’s it!” The truth that is believed becomes a reality that is lived. St. Thomas Aquinas put it this way: “Fides non terminatur ad enuntiabile sed ad rem,” that is, “Faith does not end in an utterance, but with reality.” We never cease discovering the practical consequences of this principle.

The role of God’s word

How can we make this qualitative leap from faith to the amazement of knowing we are God’s children? The first answer is the word of God! (There is an equally essential means, namely the Holy Spirit, but we will leave that for our next meditation). St. Gregory the Great compared the Word of God to flint, that is, to the stone once used to produce a spark that ignited a fire. He said it is necessary to do with the Word of God what is done with the flint: to strike it repeatedly until it produces a spark. Ponder it, repeat it, even out loud.

During your prayer time or adoration, with your whole heart, and without becoming bored, repeat within yourself: “A child of God! I am a son of God; I am a daughter of God. God is my father!” Or simply repeat for some time: “Our Father who art in heaven” without continuing the rest of the prayer. As you do so, it is more necessary than ever to remember the words of Jesus: “Knock and it will be opened to you” (Mt 7:7). Sooner or later, and perhaps when you least expect it, it will happen – the reality of those words, if only for a moment, will explode within you and will be enough for the rest of your life. And even if nothing sensational should happen, be assured that you have achieved what is essential. The rest will be given to you in heaven: “Beloved, we are God’s children now; what we shall be has not yet been revealed. We do know that when it is revealed we shall be like him, for we shall see him as he is” (1 Jn 3:2)

We are All Brothers and Sisters!

One of the immediate effects of all this is that you will become aware of your dignity. On Christmas Eve, St. Leo the Great will exhort us: “Recognize, O Christian, your dignity. Once you have shared in the divine nature would you really want to return to the wretchedness of your past?” What dignity could be greater than being a child of God? The story is told of an arrogant mean daughter of the king of France who constantly scolded one of her maids. One day she shouted in her face, “Don’t you know that I’m the daughter of your king?” To which the maid replied, “And don’t you know that I am the daughter of your God?”

Another even more important by-product is that you become more aware of the dignity of other people who are also sons and daughters of God. For us Christians, human solidarity as brothers and sisters is ultimately rooted in the fact that God is the father of us all, and since we are all sons and daughters of God, we are all brothers and sisters to each other. There is no bond stronger than this, and for us Christians, there is no more urgent reason for promoting universal brother-/sisterhood. St. Cyprian wrote: “You cannot claim God as your father without owning the Church as your mother.” We should add: “You cannot claim God as your father without owning your neighbor as your brother or sister.”

There is one thing we should stop doing. Let us not say to God the Father, not even by implication: “Choose between me and my adversary; decide whose side you are on!” No parent should be put in the untenable position of having to choose between their children simply because the children can’t get along with each other. So let us not ask God to take our side against someone else.

When we have a conflict with someone else – our brother or sister –, even before we meet with them to discuss our point of view (which is not only right but also sometimes necessary), let us say to God: “Father, save that brother or sister of mine; save us both. I am not looking for me to be right and him or her to be wrong. I want that person to stand in the truth, or at least in good faith.” This mercy of one individual towards another is indispensable for living the life of the Spirit and community life in all of its forms. It is indispensable for the family and every human and religious community, including the Roman Curia. As St. Augustine said, we are all fragile clay jars: It doesn’t take much to hurt ourselves.

Earlier, we called to mind the excitement of St. Margaret of Cortona when she felt God interiorly calling her “my daughter”. “I am his daughter; he said so…What an ocean of joy! My daughter! My God said it! My daughter!” We could experience something very similar if we would listen to that same voice of God, not echoing in our minds (which can be fooled!), but appearing in black and white, written on the page of the Bible under our consideration: “You are no longer a slave, but a child. And if you are a child, you are an heir as well!”

As we’ll see the next time, God willing, the Holy Spirit is ready to help us in this undertaking.

_________________________

Translated into English by Br. Patrick McSherry, ofmcap

1.John Paul II, Ecclesia de Eucharistia, 6.
2.Giunta Bevegnati, Vita e miracoli della Beata Margherita da Cortona, II, 6 (Italian version, Vicenza 1978, p. 19f).
3.See A. Michel, Reviviscence des sacrements, in DTC, XIII,2, Paris 1937, coll. 2618-2628.
4.Summa theologiæ, II-II, 1, 2, ad 2.
5.Gregory the Great, Homilies on Ezechiel, I,2,1.
6.Leo the Great, Discourse 1 on Christmas, 3.
7.Cyprian, De unitate Ecclesiæ, 6.
8.Augustine, Discourses, 69 (PL 38, 440) (lutea vasa sibi invicem angustias facientes).

 
VietCatholic TV
Ngoạn mục: Thánh Lễ Đại Trào Công Giáo lớn nhất trong lịch sử cận đại của Hy Lạp
Thế Giới Nhìn Từ Vatican
05:09 06/12/2021


Sáng Chúa Nhật, Đức Giáo Hoàng đã đến Đảo Lesbos của Hy Lạp để thăm những người tị nạn tại “Trung tâm Tiếp nhận và Nhận dạng” ở thị trấn Mytilene. Sau đó, ngài đã quay trở lại Athens vào buổi chiều để cử hành thánh lễ lúc 16:45 tại “Phòng hòa nhạc Megaron”.

Danh xưng phòng hòa nhạc có thể tạo ra ấn tượng của một không gian nhỏ hẹp. Tuy nhiên, như quý vị và anh chị em có thể thấy trong video này, cơ sở này rất lớn. Tại đây, Đức Thánh Cha đã cử hành Thánh Lễ Chúa Nhật Thứ Hai Mùa Vọng.

Giảng trong thánh lễ, Đức Thánh Cha nói:


Lời Chúa trong Chúa Nhật thứ hai của Mùa Vọng này giới thiệu cho chúng ta nhân vật Thánh Gioan Tẩy Giả. Tin Mừng nhấn mạnh hai khía cạnh của nhân vật này: thứ nhất là nơi nhân vật này hiện diện, tức sa mạc, và thứ hai nội dung sứ điệp của nhân vật này, tức việc hoán cải. Sa mạc và hoán cải: Tin Mừng hôm nay nhấn mạnh về những điều này và việc nhấn mạnh này giúp chúng ta hiểu rằng những lời này liên quan trực tiếp đến chúng ta. Chúng ta hãy chào đón cả hai.

Sa mạc. Thánh sử Luca giới thiệu địa danh này một cách đặc biệt. Thực vậy, ngài nói đến những hoàn cảnh long trọng và những nhân vật vĩ đại của thời đó: ngài đề cập đến năm thứ mười lăm triều Hoàng đế Tibêriô Xêda, thống đốc Phongxiô Philatô, vua Hêrôđê và các “nhà lãnh đạo chính trị” khác của thời đó; rồi ngài nhắc đến các nhà lãnh đạo tôn giáo như Anna và Caipha, những người ở gần Đền thờ Giêrusalem (x. Lc 3: 1-2). Đến đây, ngài tuyên bố: “có lời Thiên Chúa phán cùng con ông Dacaria là ông Gioan trong hoang địa” (Lc 3: 2). Nhưng Thiên Chúa phán như thế nào? Chúng ta thường nghĩ rằng Lời Thiên Chúa ngỏ với một trong những con người vĩ đại vừa được liệt kê. Nhưng không. Một sự nghịch lý tinh tế xuất hiện trong các dòng chữ của Tin Mừng: từ những thượng tầng nơi những người nắm giữ quyền lực sinh sống, người ta đột nhiên bước vào sa mạc, gặp một người đàn ông vô danh và cô đơn. Thiên Chúa làm ta ngạc nhiên, sự lựa chọn của Người làm người ta ngạc nhiên: chúng không nằm trong dự đoán của con người, chúng không tuân theo quyền năng và sự vĩ đại mà con người thường liên kết với. Chúa thích sự nhỏ bé và khiêm nhường. Ơn cứu chuộc không bắt đầu ở Giêrusalem, Athens hay Rôma, nhưng trong sa mạc. Chiến lược nghịch lý này mang đến cho chúng ta một thông điệp rất đẹp: có thế lực, có văn hóa và tiếng tăm không phải là một bảo đảm sẽ làm vui lòng Chúa; trái lại, nó có thể dẫn đến kiêu căng và bác bỏ việc này. Thay vào đó, cần phải nghèo khó bên trong, nghèo như sa mạc.

Chúng ta hãy tiếp tục đào sâu thêm nghịch lý sa mạc. Vị Tiền Hô chuẩn bị cho sự xuất hiện của Chúa Kitô đến một nơi khó tiếp cận và không hiếu khách, đầy nguy hiểm này. Bây giờ, nếu ai muốn có một thông báo quan trọng, họ thường đến những nơi đẹp đẽ, nơi có nhiều người, nơi ai cũng thấy. Ngược lại, Thánh Gioan lại rao giảng trong sa mạc. Chính ở nơi đó, nơi khô cằn, nơi không gian trống trải dài hút tầm mắt và là nơi hầu như không có sự sống, ở đó vinh quang của Chúa được tỏ bày, vinh quang mà - như lời Thánh Kinh đã tiên báo (x. Is 40: 3 -4) - biến sa mạc thành hồ ao, đất khô cằn thành suối nước (x. Is 41:18). Đây là một thông điệp đáng khích lệ khác: Thiên Chúa, bây giờ cũng như hồi ấy, hướng ánh mắt của Người tới những nơi nỗi buồn và sự cô đơn ngự trị. Chúng ta có thể trải nghiệm điều đó trong cuộc sống: Thiên Chúa thường không đến với chúng ta khi chúng ta đang ở giữa những tiếng vỗ tay và chỉ nghĩ đến bản thân mình; Người đến với chúng ta, trước hết, trong những giờ phút thử thách. Người đến thăm chúng ta trong những hoàn cảnh khó khăn, trong những khoảng trống mà chúng ta dành chỗ cho Người, trong những sa mạc hiện sinh của chúng ta. Ở đó, Chúa đến thăm chúng ta.

Anh chị em thân mến, trong cuộc đời của con người không thể thiếu những giây phút mà người ta có ấn tượng như đang ở trong sa mạc. Và đây chính là nơi mà Chúa làm cho Người hiện diện, Đấng thường không được chào đón bởi những người cảm thấy mình thành công, mà bởi những người cảm thấy họ không thể thành công. Và Người đến với những lời gần gũi, từ bi và dịu dàng: «Đừng sợ, vì ta ở cùng ngươi; đừng mất phương hướng, bởi vì ta là Thiên Chúa của ngươi. Ta làm cho ngươi trở nên mạnh mẽ và giúp đỡ ngươi “(câu 10). Rao giảng trong sa mạc, Thánh Gioan bảo đảm với chúng ta rằng Chúa đến để giải thoát chúng ta và đem lại sự sống cho chúng ta trong những tình huống tưởng như không thể cứu vãn, không có lối thoát: Người đến đó. Do đó, không có nơi nào mà Thiên Chúa không muốn đến thăm. Và hôm nay chúng ta chỉ có thể cảm thấy vui mừng khi thấy Người chọn sa mạc, để đến với chúng ta trong sự nhỏ bé của chúng ta, sự nhỏ bé mà Người yêu thương và trong sự khô cằn của chúng ta, sự khô cằn mà Người muốn làm dịu cơn khát của chúng ta! Vì vậy, anh chị em thân mến, anh chị em đừng sợ sự nhỏ bé, vì vấn đề không phải là nhỏ bé và ít oi, nhưng là mở lòng ra với Thiên Chúa và với tha nhân, và đừng sợ sự khô khan, vì Thiên Chúa không sợ những điều này, Ngài là Đấng đến đó để thăm viếng chúng ta!

Chúng ta hãy chuyển sang khía cạnh thứ hai, khía cạnh hoán cải. Thánh Tẩy Giả đã rao giảng điều đó không ngừng và với giọng điệu mãnh liệt (x. Lc 3: 7). Đây cũng là một vấn đề “không thoải mái”. Nếu như Sa mạc không phải là nơi đầu tiên chúng ta muốn đến, thì lời mời hoán cải chắc chắn cũng không phải là lời đề nghị đầu tiên được chúng ta muốn nghe. Nói về sự hoán cải có thể khơi dậy nỗi buồn; nó dường như khó hòa hợp với Tin Mừng của niềm vui. Nhưng điều này xảy ra khi việc hóan cải bị giản lược vào nỗ lực luân lý, như thể đó chỉ là kết quả của việc chúng ta cam kết. Vấn đề nằm chính ở đây, nằm chính ở chỗ chúng ta chỉ dựa mọi sự vào sức mạnh của chúng ta. Điều này là sai! Ở đây nỗi buồn và sự thất vọng về tinh thần đang rình rập: chúng ta muốn hoán cải, muốn trở nên tốt hơn, khắc phục các khiếm khuyết của mình, thay đổi, nhưng chúng ta cảm thấy mình không đủ khả năng và mặc dù có thiện chí, chúng ta luôn thụt lùi. Chúng ta có cùng kinh nghiệm như Thánh Phaolô, người từ chính những vùng đất này, đã viết: “Tôi muốn sự thiện thì tôi có thể muốn, nhưng làm thì không. Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” (Rm 7:18 -19). Vì vậy, nếu tự mình, chúng ta không có khả năng làm điều tốt mà chúng ta muốn, thì việc chúng ta phải hoán cải có nghĩa gì?

Ngôn ngữ của anh chị em, tiếng Hy Lạp, đẹp đẽ lắm, nó có thể giúp chúng ta với từ nguyên của động từ “hóan cải”, metanoéin trong Tin Mừng. Nó bao gồm giới từ metá, ở đây có nghĩa là vượt ra ngoài, và động từ noéin, có nghĩa là suy nghĩ. Như thế, hoán cải là suy nghĩ xa hơn, nghĩa là vượt ra khỏi cách suy nghĩ thông thường, vượt ra ngoài các kế hoạch tinh thần thông thường của chúng ta. Tôi đang nghĩ tới chính các kế hoạch giản lược mọi sự vào bản thân của chúng ta, vào việc chúng ta đòi được tự cung tự cấp. Hoặc vào các kế sách khép kín bởi sự cứng ngắc và nỗi sợ hãi làm tê liệt, bởi cơn cám dỗ cho rằng “sự việc luôn được làm cách này, tại sao lại thay đổi?”, bởi ý nghĩ cho rằng sa mạc của cuộc sống là nơi chết chóc và không có sự hiện diện của Thiên Chúa.

Bằng cách khuyến khích chúng ta hoán cải, Thánh Gioan mời gọi chúng ta đi xa hơn và không dừng lại ở đây; vượt xa những gì bản năng mách bảo và suy nghĩ của chúng ta ghi nhận, bởi vì thực tại luôn vĩ đại hơn: nó lớn hơn bản năng của chúng ta, và những suy nghĩ của chúng ta. Thực tại là Thiên Chúa vĩ đại hơn. Vì vậy, hoán cải có nghĩa là không lắng nghe những điều phá hoại hy vọng, không lắng nghe những người lặp đi lặp lại rằng không có gì thay đổi trong cuộc sống – quả là thời nào cũng có những kẻ bi quan. Hoán cải từ chối tin rằng chúng ta bị tiền định phải chìm vào bãi cát lún của sự tầm thường. Hoán cải không đầu hàng trước những bóng ma bên trong, những bóng ma xuất hiện trước hết trong những khoảnh khắc thử thách để làm chúng ta nản lòng và nói với chúng ta rằng chúng ta sẽ không vượt qua được, rằng mọi thứ đều sai và việc nên thánh không dành cho chúng ta. Điều này không phải vậy, bởi vì có Thiên Chúa. Chúng ta phải tin tưởng nơi Người, bởi vì Người là sức mạnh để vượt qua mọi thứ, Chúa là sức mạnh của chúng ta. Mọi sự sẽ thay đổi nếu chúng ta dành cho Người vị trí thứ nhất. Đây là sự hoán cải: cánh cửa của chúng ta rộng mở đủ để Chúa bước vào và làm những điều kỳ diệu, giống như sa mạc và những lời của Thánh Gioan đủ để Người đến thế gian. Người không yêu cầu nhiều hơn.

Chúng ta hãy xin ơn biết tin rằng với Chúa, mọi sự sẽ thay đổi, Người sẽ chữa lành nỗi sợ hãi của chúng ta, chữa lành vết thương của chúng ta, biến những nơi khô cằn thành suối nước. Chúng ta hãy xin ơn biết hy vọng. Vì chính hy vọng vực dậy niềm tin và nhen nhóm lòng bác ái. Bởi vì hy vọng chính là điều các sa mạc của thế giới đang khao khát ngày nay. Và trong khi cuộc gặp gỡ này của chúng ta đổi mới chúng ta trong niềm hy vọng và niềm vui của Chúa Giêsu, tôi vui mừng được ở với anh chị em, chúng ta hãy xin Mẹ của chúng ta, Đấng rất thánh, giúp chúng ta, giống như Mẹ, trở thành nhân chứng của hy vọng, gieo niềm vui xung quanh chúng ta – niềm hy vọng, thưa anh chị em, không bao giờ làm thất vọng, không bao giờ làm thất vọng. Không những khi chúng ta hạnh phúc và ở bên nhau, mà hàng ngày, trên những sa mạc chúng ta đang cư ngụ. Bởi vì chính ở đó, với ân sủng Thiên Chúa, cuộc sống của chúng ta được mời gọi để hoán cải. Ở đó, trong nhiều sa mạc bên trong của chúng ta hoặc của môi trường, sự sống được kêu gọi để đơm bông. Xin Chúa ban cho chúng ta ân sủng và lòng can đảm để đón nhận sự thật này.

Sau khi kết thúc thánh lễ, Đức Thánh Cha nói thêm như sau:

Anh chị em thân mến,

Vào cuối buổi cử hành này, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn về sự chào đón mà tôi đã nhận được giữa anh chị em. Cảm ơn anh chi em bằng cả tấm lòng của tôi! Efcharistó! [Cảm ơn!].

Do ngôn ngữ Hy Lạp mà có hạn từ này để tổng hợp hồng ân Chúa Kitô dành cho toàn thể Giáo hội: Lễ Tạ Ơn [Eucharist]. Và do đó, đối với những người Kitô hữu chúng ta, lời tạ ơn được ghi khắc ở tâm điểm của đức tin và cuộc sống. Xin Chúa Thánh Thần biến đổi toàn thể con người và hành động của chúng ta thành một Lễ Tạ Ơn, một lời tạ ơn dâng lên Thiên Chúa và một món quà tình yêu dành cho anh chị em của chúng ta.

Trong bối cảnh này, tôi xin nhắc lại lòng biết ơn chân thành của tôi đối với các nhà chức trách dân sự, tới Bà Tổng thống Cộng hòa, đang hiện diện ở đây, và các Giám mục anh em, cũng như tất cả những người bằng nhiều cách khác nhau đã cộng tác trong việc chuẩn bị và tổ chức chuyến thăm này. Cảm ơn tất cả anh chị em! Và cảm ơn ca đoàn đã giúp chúng ta cầu nguyện thật tốt.

Ngày mai tôi sẽ rời Hy Lạp, nhưng tôi sẽ không rời xa anh chị em! Tôi sẽ mang anh chị em theo với tôi, để nhớ đến và cầu nguyện. Và anh chị em cũng vậy, xin anh chị em tiếp tục cầu nguyện cho tôi. Cảm ơn anh chị em!
 
Chuyện không vui: LM Chính Thống la ó phản đối ĐTC. Israel báo động chích 3 liều vẫn nhiễm Omicron
Thế Giới Nhìn Từ Vatican
05:15 06/12/2021


1. Linh mục Chính Thống Giáo Hy Lạp la ó phản đối Đức Thánh Cha

Như chúng tôi đã tường trình, sáng thứ Bảy, 4 tháng 12, Đức Giáo Hoàng đã rời Síp để bay đến thủ đô Hy Lạp là Athens, hay còn gọi là Nhã Điển. Sau lễ nghi tiếp đón chính thức tại dinh tổng thống, lúc 4g chiều, Đức Thánh Cha đã thăm xã giao Đức Tổng Giám Mục Ieronymos II, của Athens và Toàn Hy Lạp, tại Tòa Tổng Giám mục Chính thống giáo.

Khi ngài bước vào cổng Tòa Giám Mục, một linh mục Chính thống giáo Hy Lạp lớn tuổi đứng trong số những người tụ tập bên đường, đã hét lên, “Giáo hoàng, ngài là một kẻ dị giáo”. Ông ta la 3 lần như vậy trước khi bị cảnh sát bắt đi.

Đoạn video cho thấy người đàn ông mặc áo choàng đen, đội mũ đen và có bộ râu dài màu trắng, hét lên những lời phản đối bằng tiếng Hy Lạp bên ngoài tòa nhà trước khi bị hai nữ cảnh sát xốc nách kéo ra xa hơn. Ông ta đã cố ngã nhào xuống đất nhưng hai nữ cảnh sát vẫn quyết liệt lôi đi.

Đức Thánh Cha Phanxicô dường như không để ý, hay không hay biết về những gì đang xảy ra khi ngài bước vào Tòa Giám Mục để có cuộc gặp gỡ với nhà lãnh đạo Chính thống giáo.

Chuyến viếng thăm của Đức Phanxicô đến Hy Lạp diễn ra 20 năm sau khi Thánh Gioan Phaolô II thực hiện chuyến thăm đầu tiên như vậy đến Hy Lạp kể từ thời Đại Ly Giáo vào năm 1054.

Vị Thánh Giáo Hoàng đã sử dụng dịp này để cầu xin sự tha thứ cho những tội lỗi mà một số người Công Giáo chống lại Chính thống giáo đã phạm phải trong nhiều thế kỷ. Đức Phanxicô đã lặp lại lời xin lỗi đó vào hôm thứ Bảy trước Đức Tổng Giám Mục Ieronymos và các giám mục Chính thống giáo khác.

Ngài nói rằng nhiều người Công Giáo “đã có những hành động và quyết định liên quan rất ít hoặc chẳng liên quan gì đến Chúa Giêsu và Tin Mừng, nhưng thay vào đó lại được đánh dấu bằng sự khao khát lợi thế và quyền lực, những quyết định như thế đã làm suy yếu nghiêm trọng sự hiệp thông của chúng ta”.

Trong cuộc gặp gỡ này Đức Tổng Giám Mục Chính Thống Giáo của Athens nói rằng “chuyến viếng thăm này của ngài đặc biệt quan trọng đối với chúng tôi”.

Trong bài phát biểu của mình, Đức Tổng Giám Mục Ieronymos đề cập đến đại dịch, môi trường và nhập cư, hoan nghênh sự nhạy cảm của Đức Giáo Hoàng đối với vấn đề này, nhưng cũng nói rằng làn sóng di dân nên dừng lại và đề cập đến việc vũ khí hóa người tị nạn của các quốc gia như Thổ Nhĩ Kỳ.

Ieronymos cũng đề cập đến lễ kỷ niệm 200 năm Chiến tranh giành độc lập của Hy Lạp, và nói rằng các vị Giáo hoàng thời đó đã giữ khoảng cách với cuộc đấu tranh giành tự do của người Hy Lạp. Đức Tổng Giám Mục Ieronymos nói: “Tôi không muốn làm bạn khó xử, nhưng tôi tin rằng trong số những người muốn được gọi là anh chị em trong Chúa Kitô, ngôn ngữ tốt nhất là sự trung thực.”

Sau bài phát biểu của mình, Đức Tổng Giám Mục Ieronymos đã trao tặng Đức Phanxicô một bức ảnh của Thánh Phaolô làm bằng bạc.

Tuy có những khó khăn nhất định nhưng nhìn chung, thái độ khiêm nhường của Đức Thánh Cha Phanxicô đã chiếm trọn cảm tình của các vị Chính Thống Giáo tại Athens.
Source:Greek Reporter

2. Israel cho biết chích 3 liều vẫn nhiễm Omicron

Tờ Jerusalem Post số ra hôm thứ Bẩy 4 tháng 12 cho biết đến nay Israel có 34 trường hợp nhiễm coronavirus bị nghi ngờ là có liên quan đến Omicron. 7 trường hợp đã được xác nhận một cách dứt khoát là liên quan đến Omicron. 27 trường hợp còn lại vẫn còn trong vòng điều tra.

Sáng thứ Sáu Bộ Y tế cho biết 7 trường hợp liên quan đến biến thể Omicron phần lớn là những người chưa được tiêm chủng.

Cụ thể, Bộ cho biết, 4 người hoàn toàn chưa được tiêm phòng lần nào và 3 người đã được tiêm phòng - 2 người đã tiêm 3 mũi vắc xin Pfizer và 1 người đã tiêm 2 mũi AstraZeneca. Việc 2 người đã tiêm 3 mũi vắc xin Pfizer mà vẫn nhiễm biến thể Omicron khiến Israel hết sức lo lắng.

Trong số 7 người được xác nhận nhiễm micron, tất cả đều từ nước ngoài trở về: 5 người từ Nam Phi, 1 người từ Anh và 1 người từ Malawi.

Ngoài những người được xác nhận nhiễm bệnh, có thêm 27 trường hợp rất đáng ngờ. Những người này đã có kết quả xét nghiệm dương tính với COVID nhưng mẫu PCR của họ vẫn đang được sàng lọc di truyền để xác định xem có phải là nhiễm Omicron hay không.

Trong số 27 trường hợp đáng ngờ, 22 người chưa hề được tiêm chủng hoặc đã qua thời gian 6 tháng phục hồi sau khi nhiễm coronavirus. Trong số 27 trường hợp, chỉ có tám trường hợp ở nước ngoài gần đây. 19 trường hợp còn lại đã nhiễm biến thể này ở Israel.

Những người này cảm thấy thế nào?

Trong số 34 bệnh nhân, 26 người chưa được tiêm chủng hoặc đã qua thời gian 6 tháng phục hồi. Trong số 26 người này, 10 người có triệu chứng và 16 người không có triệu chứng nào hết.

Trong số 8 người được tiêm chủng, một người có triệu chứng và bảy người không có bất cứ triệu chứng nào đáng kể.

Các chuyên gia y tế của Israel nói họ đang bắt đầu hiểu rõ hơn về Omicron và có vẻ như dựa trên dữ liệu ban đầu rằng biến thể này không gây ra bệnh nghiêm trọng hơn các biến thể trước đó, mặc dù nó có vẻ lây lan nhanh hơn. Đồng thời, các vắc-xin tuy không bảo vệ hoàn toàn chúng ta khỏi nhiễm Omicron, nhưng nó đang ngăn chặn bất kỳ triệu chứng nghiêm trọng nào.

Thủ tướng Naftali Bennett đã đăng trên trang Facebook của mình về biến thể Omicron vào hôm thứ Sáu, bảo vệ quyết định cấm người nước ngoài nhập cảnh vào Israel trong hai tuần nữa cho đến khi có nhiều thông tin hơn về khả năng hoạt động của vắc-xin.

Bennett nói: “Khi có sự chắc chắn và kiến thức… chúng tôi sẽ hành động theo đó. Trong trường hợp của Omicron, khi không có câu trả lời rằng vắc-xin rất hiệu quả để chống lại nó, tôi không có ý định chấp nhận rủi ro”.

Với quyết định này của ông Bennett, mọi hy vọng về một lễ Giáng Sinh khởi sắc tại Bethlehem trong năm nay đã tan thành mây khói.
Source:Jerusalem Post

3. Đức Thánh Cha Phanxicô đã chấp nhận đơn từ chức của Đức Tổng Giám Mục Michel Aupetit

Văn phòng Báo chí Tòa Thánh công bố ngày 2 tháng 12 rằng Đức Thánh Cha Phanxicô đã chấp nhận đơn từ chức của Đức Tổng Giám Mục Michel Aupetit của Paris. Đức Tổng Giám Mục Georges Pontier đã được bổ nhiệm làm Giám quản tông tòa của tổng giáo phận.

Vào ngày 25 tháng 11, Đức Tổng Giám Mục Paris đã yêu cầu Đức Giáo Hoàng xác định xem ngài có nên từ chức hay không. Việc công bố vào ngày 22 tháng 11 một bài báo trên tờ Le Point hàng tuần đã đặt vấn đề về khả năng quản trị của ngài. Bài báo đã dùng những từ ngữ như sự “tàn bạo” trong quan hệ với người khác, và “chủ nghĩa độc đoán” trong cách quản lý của ngài.

Bài báo cũng cho rằng tổng giám mục đã có quan hệ tình cảm với một phụ nữ vào năm 2012.

Phản ứng về ấn phẩm này, Đức Tổng Giám Mục Aupetit, nói trên Đài Notre Dame rằng ngài đã bị sốc.

“Tôi tự hỏi phải chăng thực sự có quá nhiều người muốn tôi ra đi”. Tuy nhiên, ngài thừa nhận “đã xử lý một số tình huống nóng nảy với một vài người.”

Đức Tổng Giám Mục Paris đã trao quyết định về tương lai của ngài cho Đức Giáo Hoàng sau khi tham khảo ý kiến của Đức Hồng Y Marc Ouellet, Tổng trưởng Bộ Giám mục ở Rôma, và là Sứ thần Tòa thánh tại Paris: “Tôi đã làm điều đó để bảo tồn giáo phận, vì với tư cách là một giám mục. Tôi phải phục vụ sự hiệp nhất. Không phải vì những gì tôi nên làm hay không nên làm trong quá khứ - nếu không thì tôi đã bỏ đi từ lâu - mà là để tránh chia rẽ, nếu chính tôi là nguồn gốc của sự chia rẽ.”

Tình huống này với Đức Tổng Giám Mục Paris xảy ra sau báo cáo của Pháp về lạm dụng tình dục trong Giáo hội.

Việc chấp nhận đơn từ chức của ngài đã được công bố trong bản tin chính thức của Tòa thánh trong khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô đang bay đến Síp.

Đức Cha Aupetit đã phản ứng với quyết định này trong một tuyên bố. Ngài nói rằng ngài “vô cùng lo lắng vì các cuộc tấn công” chống lại ngài và nói rằng ngài đang cầu nguyện “cho những người có thể đã mong muốn hãm hại ngài.”

“Tôi cũng cầu xin sự tha thứ cho những người mà tôi có thể đã làm tổn thương”.

Trong bài phát biểu cách đây vài ngày với Đài Notre Dame, Đức Tổng Giám Mục phủ nhận có quan hệ tình cảm với một người phụ nữ. Ngài thừa nhận rằng khi chưa là một Giám Mục, một người phụ nữ đã tiếp xúc “nhiều lần qua các cuộc thăm viếng, thư từ, v.v., đến mức đôi khi tôi phải thực hiện các bước để tạo khoảng cách giữa chúng tôi.” Ngài nói rằng “hành vi của ngài đối với cô ấy có thể không rõ ràng, do đó ngụ ý rằng giữa chúng tôi tồn tại một mối quan hệ thân mật và quan hệ tình dục, là điều mà tôi mạnh mẽ bác bỏ. Tôi quyết định không gặp lại cô ấy nữa và tôi đã thông báo cho cô ấy biết điều này”.

Về vấn đề quản trị của mình, ngài nói trong cuộc phỏng vấn ngắn rằng “Tất nhiên, việc đưa ra quyết định tạo ra sự thất vọng và cay đắng là điều bình thường, nhưng tôi không bao giờ thực hiện chúng một mình”. Đức Tổng Giám Mục cho biết các quyết định của ngài luôn có sự tham gia của nhiều hội đồng bao gồm cả giáo dân.

Ngày 7 tháng 12 năm 2017, Đức Tổng Giám Mục Aupetit được bổ nhiệm làm Tổng Giám mục thủ đô nước Pháp. Kể từ tháng 12 năm 2018, ngài cũng là thành viên của Bộ Giám mục và thường xuyên đến Rôma để tham gia vào quá trình tuyển chọn các giám mục tương lai. Ngài cũng được bổ nhiệm làm thành viên của Thánh bộ Giáo hội Phương Đông vào tháng 8 năm 2019.

Đức Tổng Giám Mục Georges Pontier sẽ làm Giám Quản Tông Tòa sede vacante et ad nutum Sanctæ, nghĩa là tạm thời phụ trách chờ lệnh của Tòa Thánh, cho đến khi Đức Thánh Cha Phanxicô bổ nhiệm một tổng giám mục mới của Paris.

Vị tổng giám mục 78 tuổi của Marseille cũng là cựu chủ tịch Hội đồng Giám mục Pháp trong thời gian từ 2013 đến 2019 được bổ nhiệm làm giám quản tông tòa của Avignon vào tháng Giêng năm 2021 để bảo đảm quá trình chuyển tiếp sau khi Đức Tổng Giám Mục Jean-Pierre Cattenoz từ chức.
Source:Aleteia

4. Đức Tổng Giám Mục Paris từ chức có thể báo hiệu sự thay đổi của Vatican

Hôm thứ Năm, Vatican thông báo rằng Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã chấp nhận đơn từ chức của Đức Tổng Giám Mục Paris, Michel Aupetit, sau khi truyền thông Pháp cáo buộc Đức Đức Tổng Giám Mục có quan hệ tình cảm với một phụ nữ hơn một thập kỷ trước.

Quyết định của Đức Giáo Hoàng chấp nhận đơn từ chức của Đức Tổng Giám Mục Aupetit có thể báo hiệu một sự thay đổi đáng kể trong đường lối của Vatican đối với các cáo buộc về các hành vi sai trái của các giám mục, nhưng các tuyên bố của chính Đức Tổng Giám Mục cho thấy quyết định này có thể liên quan đến việc điều hành tổng giáo phận của ngài.

Bài báo xem ra đã khiến Đức Tổng Giám Mục Aupetit phải ra đi đã được xuất bản tuần trước bởi tạp chí Le Point của Pháp. Nó cáo buộc rằng linh mục Aupetit đã có một mối quan hệ “thân mật” với một phụ nữ vào năm 2012, khi ngài còn là linh mục và tổng đại diện của tổng giáo phận.

Le Point trích dẫn một số nguồn ẩn danh tuyên bố đã nhìn thấy một email năm 2012 của Cha Aupetit gửi cho người phụ nữ nhưng dường như được gửi nhầm cho thư ký của ngài.

Đức Tổng Giám Mục đã phủ nhận không có một email nào như thế cả và phủ nhận có quan hệ tình dục với người phụ nữ mà đến nay vẫn chưa ai biết tên là gì.

Đức Tổng Giám Mục cho biết vào tuần trước rằng mối quan hệ này “không rõ ràng” và có thể bị hiểu nhầm, và ngài đã không gặp người phụ nữ này nữa.

“Những người biết tôi vào thời điểm đó và những người chia sẻ cuộc sống hàng ngày của tôi chắc chắn sẽ nói rằng tôi không sống cuộc sống hai mặt, như bài báo gợi ý,” vị tổng giám mục nói với đài phát thanh Công Giáo Pháp Notre Dame.

Phát biểu ngay sau khi bài báo được xuất bản, Đức Cha Aupetit đã tố cáo bài báo là một cuộc tấn công “thâm độc” nhắm vào ngài. Đức Tổng Giám Mục xác nhận rằng ngài đã tham khảo ý kiến của Đức Hồng Y Marc Ouellet, tổng trưởng Bộ Giám mục Vatican, về tình hình và đã để lại quyết định về tương lai của mình cho Đức Thánh Cha Phanxicô, đồng thời nhấn mạnh rằng ngài đã không sử dụng từ ngữ “từ chức” trong thư viết cho Đức Giáo Hoàng.

Các phương tiện truyền thông đã đưa tin rộng rãi về quyết định của Đức Giáo Hoàng chấp nhận đơn từ chức của Đức Cha Aupetit đối với báo cáo về mối quan hệ nào đó với người phụ nữ giấu tên, mặc dù Đức Tổng Giám Mục nhấn mạnh rằng điều đó chưa bao giờ xảy ra.

Nếu quyết định được đưa ra bởi Đức Thánh Cha Phanxicô là nhằm đáp lại mối quan hệ bị cáo buộc năm 2012, nó sẽ báo hiệu một sự thay đổi trong sự khoan dung của Đức Giáo Hoàng đối với các hành vi sai trái của các giám mục. Các giám mục ở Pháp, Đức và Hoa Kỳ đều đã bị Đức Giáo Hoàng ngưng chức trong những năm gần đây sau những vụ bê bối liên quan đến việc xử lý lạm dụng tình dục của hàng giáo sĩ.

Quyết định của Đức Giáo Hoàng cũng có thể gợi ý rằng việc xác định sự không phù hợp của Đức Cha Aupetit đối với chức vụ dựa trên công luận, thay vì bất kỳ hành vi sai trái thực tế nào: Đức Tổng Giám Mục đã nói công khai rằng vào năm 2012, ngài đã thông báo cho người tiền nhiệm là Đức Hồng Y Andre Vingt-Trois, lúc đó là Tổng Giám Mục Paris, về mối quan hệ với người phụ nữ.

Đức Hồng Y Vingt-Trois đã yêu cầu Cha Aupetit tiếp tục đảm nhiệm cương vị tổng đại diện của tổng giáo phận và vào năm 2013, ngài được thăng chức lên làm Giám Mục Phụ Tá. Đức Cha Aupetit cuối cùng đã kế nhiệm Đức Hồng Y Vingt-Trois làm tổng giám mục vào năm 2018.

Thông lệ, Bộ Giám mục luôn xem xét kỹ lưỡng hồ sơ nhân sự của các ứng viên cho chức vụ Giám mục với sự tham khảo ý kiến của Sứ thần Tòa thánh và Giám mục địa phương.

Không thể có chuyện Đức Hồng Y Vingt-Trois cố tình không thông báo cho Rôma về tình hình này, vì cả Sứ thần Tòa Thánh và Tòa thánh đều đã biết về mối quan hệ của Auptit với người phụ nữ này ngay từ năm 2013, và dường như không coi đó là trở ngại cho việc thăng chức của ngài để lãnh đạo một trong những vị trí nổi bật nhất, và dễ nhìn thấy nhất ở Âu Châu.

Bản thân Đức Cha Aupetit cũng đã xác nhận sự kiện này, và cuối tuần qua ngài đã nói rằng ngài đã thông báo với cấp trên của Giáo hội về mối quan hệ vào thời điểm đó.

Vị tổng giám mục cũng cho biết lời đề nghị để Đức Thánh Cha Phanxicô quyết định tương lai của mình không phải là một phản ứng trực tiếp đối với “những gì tôi đã làm hay không trong quá khứ - nếu không thì tôi đã ra đi từ lâu”.

Thay vào đó, Đức Cha Aupetit cho biết mối quan tâm của ngài là “tránh sự chia rẽ” trong tổng giáo phận. Quyết định chấp nhận đơn từ chức của ngài có thể liên quan đến những lời chỉ trích về khả năng lãnh đạo của ngài đối với tổng giáo phận.

Bài báo của Le Point cũng trích dẫn các nguồn ẩn danh chỉ trích cách điều hành giáo phận của Đức Tổng Giám Mục, cho rằng ngài là người chuyên quyền và độc tài. Các nguồn ẩn danh chỉ ra rằng Đức Tổng Giám Mục Aupetit đã loại bỏ nhiều linh mục khỏi các nhiệm vụ mục vụ khác nhau, và một số quan chức giáo quyền đã từ chức để phản đối ngài.

Đức Tổng Giám Mục cho biết vào cuối tuần qua rằng ngài đã nhận được tin nhắn ủng hộ từ các linh mục và giáo dân của tổng giáo phận sau bài báo của Le Point và trước quyết định của Đức Giáo Hoàng.

Trong một tuyên bố đáp lại thông báo của Vatican hôm thứ Năm, Đức Tổng Giám Mục cho biết ngài đã “rất bối rối trước những cuộc tấn công mà tôi phải chịu.”

“Chúa đã ban cho, Chúa đã lấy đi”, Đức Tổng Giám Mục nói trong một tuyên bố video, “Chúc tụng danh Chúa.”

“Tôi cầu xin sự tha thứ từ những người mà tôi có thể đã làm tổn thương và tôi bảo đảm với các bạn về tình bạn sâu sắc và lời cầu nguyện của tôi.”

Tòa thánh Vatican cũng thông báo rằng Đức Tổng Giám Mục Georges Pontier, Tổng Giám Mục hiệu tòa của Tổng giáo phận Marseille, đã được bổ nhiệm tạm thời lãnh đạo tổng giáo phận thủ đô.
Source:Pillar Catholic
 

Liên Hệ: Contact Us: bbt@vietcatholicint.com
© 2021 - VietCatholic News - Designed by J.B. Đặng Minh An