Ngày 15-06-2026
 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Giáo xứ Công Giáo tại Đức chúc lành cho những người tham dự sự kiện tự hào LGBT.
Đặng Tự Do
03:06 15/06/2026


Một giáo xứ Công Giáo Đức, cùng với nhà thờ Tin Lành địa phương, đã công khai ủng hộ cuộc diễn hành tự hào Christopher Street Day, gọi tắt là CSD diễn ra vào ngày 13 tháng 6, và tuyên bố sẽ cùng nhau lập một gian hàng để chúc phúc cho những người tham gia. Sáng kiến này đã được nêu chi tiết trong một tuyên bố chung do mục sư Tin Lành và linh mục giáo xứ Công Giáo đưa ra.

Thông cáo báo chí, được công bố bởi giáo xứ Công Giáo Thánh Tâm ở Pforzheim, bắt đầu bằng việc nhắc đến Lễ Ngũ Tuần: “Vài tuần trước, chúng ta đã cử hành Lễ Ngũ Tuần. Lễ này cho thấy Chúa Thánh Thần kết nối mọi người và tạo nên cộng đồng.” Thông cáo nói tiếp: “Không ai phải che giấu danh tính hay nguồn gốc của mình… Ngược lại: Chúa đã tạo dựng chúng ta trong sự đa dạng và kết nối chúng ta. Chúng tôi tin chắc rằng mỗi người – bất kể tôn giáo, xuất thân, địa vị xã hội hay bản dạng giới tính – đều được Chúa tạo dựng và yêu thương. Chúng tôi chia sẻ mối quan tâm này với CSD, tổ chức đấu tranh cho phẩm giá của người đồng tính, tìm cách làm nổi bật sự đa dạng của mọi người trong bản dạng giới tính và xuống đường đấu tranh cho quyền lợi của họ.”

Hai nhà thờ sẽ cùng chia sẻ một gian hàng tại quảng trường chợ từ trưa và ban phước lành cho những ai yêu cầu. Tuyên bố bày tỏ “mối quan ngại sâu sắc” rằng “người đồng tính, song tính và chuyển giới ngày càng phải chịu sự thù địch và đe dọa – kể cả ở Pforzheim”, và lưu ý đến sự hiện diện của các cuộc biểu tình phản đối cánh hữu đã được lên kế hoạch. Tuyên bố nói thêm: “Chúng tôi sẽ có mặt ở đó và, thông qua sự hiện diện của mình, gửi một thông điệp rõ ràng ủng hộ sự đa dạng và chống lại sự thù hận và ác cảm với con người.”

Giáo xứ Công Giáo Thánh Tâm, do Cha Steffen Schölch quản lý, duy trì một mục riêng trên trang web của mình có tiêu đề “dành cho người đồng tính, song tính và chuyển giới”, liên kết trực tiếp đến “chương trình hỗ trợ người đồng tính, song tính và chuyển giới” của Tổng giáo phận Freiburg. Trang web của tổng giáo phận nêu rõ: “Các bản dạng giới đồng tính, song tính và chuyển giới có thể bao gồm, ví dụ, phi nhị nguyên giới, linh hoạt giới tính, phi nhị nguyên giới hoặc vô giới tính, điều này cho thấy giới tính rất đa dạng và không cần phải bị giới hạn trong các phạm trù cứng nhắc.”

Tổ chức này mô tả đường lối mục vụ của mình là “trong đó người đồng tính, song tính và chuyển giới được trân trọng vì bản sắc và lối sống riêng của họ, và một không gian được tạo ra an toàn nhất có thể, nơi họ có thể sống đời sống tâm linh hài hòa với chính con người mình”, với mục tiêu “xem xét một cách nghiêm chỉnh các cấu trúc tôn giáo truyền thống và tạo ra những con đường hòa nhập hơn cho tất cả mọi người, bất kể xu hướng tình dục hay bản dạng giới của họ”.

Giáo lý Công Giáo, như được nêu trong Sách Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo, mô tả hành vi đồng tính luyến ái là “vốn dĩ sai trái” và “trái với luật tự nhiên”, đồng thời kêu gọi những người có khuynh hướng đồng giới phải giữ gìn sự trong sạch. Tuyên bố Fiducia Supplicans (2023), được coi là một văn kiện tương đối tự do và bị phản đối, nêu rõ rằng Giáo hội không có quyền ban phước lành cho các cuộc hôn nhân đồng giới và bất kỳ lời chúc phúc nào cũng không được ban cùng lúc với các nghi lễ kết hợp dân sự hoặc với bất kỳ trang phục, cử chỉ hoặc lời nói nào phù hợp với một đám cưới, để không gây nhầm lẫn hoặc có vẻ như hợp pháp hóa các cuộc hôn nhân đó.

Hành động chung tại Pforzheim, thuộc Tổng giáo phận Freiburg dưới sự lãnh đạo của Đức Tổng Giám Mục Stephan Burger, diễn ra trong bối cảnh các cuộc tranh luận đang diễn ra ở một số nơi trong Giáo hội Đức về việc giải thích các tiến trình thượng hội đồng và hoạt động mục vụ. Quyết định của giáo xứ tham gia cuộc diễn hành của CSD và ban phước lành cùng với những người Tin Lành đã làm nổi bật những căng thẳng giữa các sáng kiến địa phương và giáo huấn toàn cầu của Giáo hội về giới tính con người, hôn nhân và việc sử dụng đúng đắn các thánh tích.

Tuyên bố chung và các lời chúc phúc dự kiến thể hiện sự nhầm lẫn mới nhất ở Đức, nơi mà việc đồng hành mục vụ ngày càng được thể hiện theo những cách dường như khẳng định các bản sắc và lối sống trái ngược với giáo huấn nhất quán của Giáo hội.


Source:Catholic Herald
 
Đức Cha Schneider nhận định rằng Hội Tam điểm là nguồn gốc của cuộc khủng hoảng hậu Công đồng Vatican II
Đặng Tự Do
03:09 15/06/2026


Giám mục Athanasius Schneider, Giám Mục Phụ Tá của Astana, đã xác định Hội Tam điểm là nguồn gốc chính của cuộc khủng hoảng đã ảnh hưởng đến Giáo Hội Công Giáo kể từ Công đồng Vatican II, mô tả sự thâm nhập của hội này như một chiến thuật “ma quỷ” nhằm làm tha hóa giáo lý, việc thờ phượng và vị trí trung tâm của Chúa Kitô. Trong một cuộc phỏng vấn sâu rộng với Adrian Milag, vị giám mục, người từng chịu đựng sự đàn áp của chế độ cộng sản Liên Xô khi còn nhỏ, đã thẳng thắn nói về những nguy hiểm của chủ nghĩa tương đối, chủ nghĩa tự nhiên và phụng vụ lấy con người làm trung tâm.

Giám mục Schneider, người có cha mẹ từng tổ chức các Thánh lễ bí mật dưới chế độ cộng sản, đã giải thích lý do tại sao ngài dành một chương cho Hội Tam điểm trong cuốn sách mới của mình, Credo: Compendium of the Catholic Faith (Kinh Tin Kính: Bản tóm tắt đức tin Công Giáo). Ngài nói: “Đây là một trong những giáo phái nguy hiểm nhất và là một giáo phái bí mật giả tôn giáo, một hình thức của thuyết Ngộ Đạo. Ở cấp độ cao hơn, nó ngày càng tiến gần đến việc thờ phượng Satan.” Ngài xác định “giáo điều cơ bản” của nó là thuyết tương đối: “Không có chân lý nào trong tôn giáo, tất cả các tôn giáo đều bình đẳng, và mọi người đều có thể chọn thần của riêng mình.” Giáo điều thứ hai, ngài nói thêm, là “thuyết nhân bản – con người phải là trung tâm của mọi thứ, chứ không phải Chúa”.

Vị giám mục đã nói thẳng thắn về cơ chế gây ảnh hưởng. “Trở ngại lớn nhất đối với ý thức hệ của Hội Tam điểm chính là Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa nhập thể… Điều này hoàn toàn trái ngược với toàn bộ cấu trúc tinh thần của Hội Tam điểm.”

Ngài nói tiếp: “Hội Tam điểm luôn có mục đích làm suy yếu đức tin Công Giáo và chống lại nó. Và giờ đây, chúng đã chuyển sang một chiến thuật khác thực sự tà ác để trực tiếp chống lại đức tin Công Giáo, chúng bắt đầu thâm nhập vào Giáo hội để làm băng hoại Giáo hội bằng những tư tưởng về chủ nghĩa tương đối, chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa lấy con người làm trung tâm… đây là gốc rễ của cuộc khủng hoảng hiện nay của Giáo hội kể từ Công đồng Vatican II.”

Giám mục Schneider nhấn mạnh rằng ngài không cho rằng Hội Tam điểm là nguyên nhân duy nhất gây ra mọi vấn đề trong Giáo hội, nhưng đã chỉ ra những điểm tương đồng rõ ràng giữa ý thức hệ và mục tiêu đã nêu của họ với sự hỗn loạn của Giáo hội đương thời. “Cuộc khủng hoảng trong 60 năm kể từ Công đồng Vatican II là sự ưu tiên chủ nghĩa tương đối, thông qua đại kết và đối thoại liên tôn. Chúa Giêsu Kitô bị lu mờ về tính độc nhất của Ngài giữa các tôn giáo khác.” Ngài chỉ ra phụng vụ như một biểu hiện đặc biệt rõ ràng: “Hiện tượng thứ hai trong Giáo Hội Công Giáo kể từ Công đồng là đặt con người làm trung tâm trong phụng vụ… và Chúa Kitô bị đặt ở góc, bên lề, ngay cả trong các nhà thờ. Thánh Thể… Chúa Kitô hằng sống, Thiên Chúa nhập thể hằng sống, bị đặt ở góc và linh mục tự đặt mình vào ghế, ở trung tâm. Điều này lấy con người làm trung tâm một cách quá đáng.”

Ngài chỉ trích việc cử hành Thánh lễ quay mặt về phía giáo dân: “Cách thức cử hành Thánh lễ quay mặt về phía giáo dân như một vòng tròn khép kín… bàn thờ không còn là bàn thờ nữa. Không, nó là một cái bàn, và trung tâm là linh mục chứ không phải Chúa Kitô. Về lý thuyết thì đúng, nhưng thực tế thì không.” Vị giám mục kêu gọi trở lại với việc thờ phượng lấy Chúa Kitô làm trung tâm, bao gồm việc quỳ gối khi rước lễ và khôi phục lại hướng truyền thống của bàn thờ.

Vị giám mục, người đã được đón nhận đức tin “từ khi còn bé” trong Giáo hội ngầm và vẫn còn nhớ những Thánh lễ đêm bí mật với cửa và cửa sổ đóng kín, bày tỏ tình cảm sâu sắc đối với lòng sùng kính của người dân Phi Luật Tân đối với Chúa Hài Đồng và Thánh lễ Latinh truyền thống, lưu ý rằng đây là hình thức được cử hành trong Thánh lễ đầu tiên ở Phi Luật Tân vào năm 1521. Ngài kêu gọi tiếp tục trung thành với phụng vụ cổ xưa: “Hãy giữ gìn Thánh lễ này, hãy lan tỏa nó, hãy bắt đầu lại nó… Các bạn có thể nói đây là Thánh lễ gốc của chúng ta.”

Cuộc phỏng vấn của Giám mục Schneider đã gây được tiếng vang lớn trong cộng đồng Công Giáo quan tâm đến hướng đi của Giáo hội kể từ sau Công đồng Vatican II. Toàn bộ cuộc phỏng vấn vẫn đang được chia sẻ rộng rãi khi các tín hữu Công Giáo truyền thống suy ngẫm về nhận định của ngài về cuộc khủng hoảng hiện nay.


Source:Catholic Herald
 
Các tín hữu Công Giáo Ba Lan lên án văn kiện cuối cùng của Thượng Hội đồng là vô cùng phản Công Giáo
Đặng Tự Do
03:10 15/06/2026


Các tín hữu Công Giáo Ba Lan, đứng đầu là Tiến sĩ Artur Dąbrowski, chủ tịch Công Giáo Tiến hành của Tổng giáo phận Częstochowa, đã ban hành một bức thư ngỏ chi tiết gửi các linh mục và các thành viên tham gia Thượng hội đồng, lên án Văn kiện cuối cùng của Thượng hội đồng về tính đồng nghị là “phản Công Giáo sâu sắc” và là một nỗ lực có hệ thống nhằm thay thế Kho tàng Đức tin bất biến bằng một ý thức hệ bao hàm và cấp tiến.

Bức thư, được công bố trong những ngày gần đây, phân tích báo cáo của Nhóm Công tác 9 của Thượng Hội đồng và Văn kiện Cuối cùng được ban hành vào ngày 26 tháng 10 năm 2024, cáo buộc văn kiện này phản ánh Con đường Thượng Hội đồng dị giáo của Đức thông qua việc phân quyền và tương đối hóa giáo lý. Các tín hữu Ba Lan mô tả văn kiện này như đang xây dựng “một khuôn khổ cho bản sắc mới của Giáo hội” mà đặt Kho tàng Đức tin dưới sự chi phối của một “ý thức hệ bao hàm” và bất nhất thay vì dẫn dắt các linh hồn đến ơn cứu rỗi, như LifeSiteNews và nhà báo Antonino Cambria đã đưa tin.

Các tác giả đặc biệt chỉ trích phương pháp hội nghị được gọi là “đối thoại trong Thánh Linh”. Họ viết: “Phương pháp này cố tình đánh đồng tiếng nói của những người trung thành tuân thủ giáo huấn của Giáo hội với tiếng nói của những người công khai phản đối giáo huấn đó.” Mỗi người tham gia chỉ được giới hạn trong hai phút mà không có quyền tranh luận, khiến việc bảo vệ giáo lý một cách thực chất trở nên bất khả thi. Bức thư cảnh báo rằng đường lối này nâng các ý kiến chủ quan lên vị thế “tiếng nói của Thánh Linh”, tạo ra một ảo tưởng nguy hiểm về sự hướng dẫn thiêng liêng thông qua sự đồng thuận được dàn dựng.

Trọng tâm của lời phê bình là định nghĩa lại về sự hoán cải trong văn bản này. Người Ba Lan lưu ý rằng thay vì sự hoán cải về mặt đạo đức bao gồm sự ăn năn và từ bỏ tội lỗi, văn bản lại trình bày sự hoán cải như là “một quá trình hoàn toàn thuộc về tinh thần”, nói về “sự hoán cải của cảm xúc, hình ảnh và suy nghĩ hiện hữu trong trái tim chúng ta”, “sự hoán cải của các mối quan hệ”, “các quá trình ra quyết định” và “sự hoán cải của các cấu trúc”. Họ tuyên bố: “Cách diễn đạt này cho thấy ý định của các tác giả: mục tiêu do đó không phải là sự biến đổi cuộc sống dưới ánh sáng của Phúc Âm, mà là sự xem xét lại sâu sắc nhận thức của người Công Giáo về thực tại.”

Bức thư chỉ ra một sai lầm giáo lý cơ bản trong đoạn 28, tuyên bố tính đồng nghị là “khía cạnh cấu thành của Giáo hội”. Các tác giả phản bác mạnh mẽ: “Phải nhắc lại một cách mạnh mẽ rằng chính Chúa Giêsu Kitô đã đặt nền móng cho Giáo hội và Ngài đã định nghĩa bản chất bất biến của Giáo hội: Giáo hội là Thánh thiện, Công Giáo và Tông truyền. Không một vị giám mục nào, kể cả Giáo hoàng, có quyền thay đổi Hiến pháp này.”

Về chức tư tế, tuyên bố trong đoạn 33 của tài liệu rằng “Tính đồng nghị cung cấp bối cảnh diễn giải phù hợp nhất để hiểu chính chức tư tế theo thứ bậc” được mô tả là “sự đảo ngược trật tự rõ rệt: không còn là người chăn chiên bảo vệ đàn chiên nữa, mà là khuôn khổ hành chính trở thành người phán xét người chăn chiên.”

Sự chỉ trích mở rộng đến cả cách giải quyết vấn đề Thánh Thể và phụng vụ. Người Ba Lan than phiền rằng văn kiện này đã không khẳng định sự hiện diện thực sự và tính chất hy sinh của Thánh Lễ, thay vào đó lại đưa ra một sự so sánh sai lầm: “Thánh Thể, trên hết, chứng tỏ rằng sự hòa hợp do Chúa Thánh Thần tạo ra không phải là sự đồng nhất… có một mối liên hệ chặt chẽ giữa synaxis và synodos, giữa cộng đoàn Thánh Thể và cộng đoàn.” Họ coi đây là sự phi thánh hóa, làm giảm phụng vụ xuống chỉ còn là một bài tập lắng nghe và bữa ăn cộng đồng.

Bức thư cũng phản đối việc sử dụng hình ảnh Đức Trinh Nữ Maria như một công cụ trong đoạn 29, đoạn miêu tả Mẹ là “một hình tượng của Giáo hội […] người lắng nghe, cầu nguyện, suy ngẫm, tham gia đối thoại, đồng hành, phân định, quyết định và hành động”. Các tác giả phản bác: “Đức Mẹ dưới chân Thánh Giá là một hình mẫu về việc chia sẻ nỗi đau khổ trong sự hy sinh của Con mình, chứ không phải là vị thánh bảo trợ cho các thủ tục hành chính.”

Một mối quan ngại cốt lõi là việc sử dụng cảm thức đức tin trong văn kiện này. Người Ba Lan lập luận rằng Văn kiện Cuối cùng làm sai lệch Lumen Gentium bằng cách cho rằng những người đã được rửa tội không thể sai lầm khi bày tỏ sự đồng thuận về đức tin và luân lý, mà không nhấn mạnh đầy đủ đến sự vâng phục Giáo huấn của Giáo hội. Họ dẫn chứng tiến trình Thượng hội đồng Kraków, nơi một nhà hoạt động chuyển giới được bổ nhiệm làm thư ký của một nhóm, như một ví dụ thực tiễn về những nguy hiểm tiềm tàng.

Về vấn đề đại kết và đối thoại liên tôn, bức thư cảnh báo về chủ nghĩa tương đối. Lời kêu gọi “cùng nhau cầu nguyện với Thiên Chúa duy nhất” với những người không phải là Kitô hữu trong đoạn 41 được mô tả là “sự phản bội Chúa Giêsu và sứ mệnh cứu rỗi của Ngài”. Các tác giả đặt câu hỏi: “Sự vâng phục Lời Chúa ở đâu: ‘Vậy hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ…’?”

Bức thư kết thúc bằng một lời cảnh báo gay gắt: “Nếu chúng ta cho phép Giáo Hội Công Giáo bị thay thế bởi một Giáo hội đồng nghị, chúng ta sẽ tự tay đóng đinh Thân Thể Mầu Nhiệm của Chúa Kitô và đóng một chiếc đinh vào quan tài của Người.” Bức thư kết thúc bằng lời tuyên bố, trong tiếng Latinh có nghĩa là “chúng tôi không thể”: “Non possumus!”

Lời chỉ trích từ Ba Lan đã gây được tiếng vang trong giới Công Giáo truyền thống, những người lo ngại về hướng đi của Thượng Hội đồng về Tínhđồng nghị. Tiến sĩ Dąbrowski và những người ký tên kêu gọi các vị mục tử của họ đưa ra lập trường rõ ràng thay vì “né tránh ngoại giao”, nhấn mạnh rằng lòng trung thành với Kho tàng Đức tin bất biến phải luôn là tiêu chuẩn của mọi hoạt động mục vụ và hiệp hành.


Source:Catholic Herald
 
Đức Giáo Hoàng Leo XIV công bố thông điệp nhân Ngày Thế giới của Người nghèo
Vũ Văn An
14:41 15/06/2026

Camille Dalmas, trong Vatican Insight của tạp chí Aleteia, tường trình rằng: Trong thông điệp nhân Ngày Thế giới của Người nghèo lần thứ 10, Đức Giáo Hoàng Leo XIV cảnh báo về một nền văn hóa kỹ thuật số che giấu sự nghèo đói đằng sau bức màn thờ ơ.



“Người nghèo thời nay là những người bị lãng quên và bị gạt ra ngoài lề xã hội: không chỉ bị cướp mất miếng ăn, mà còn bị tước đoạt cả tiếng nói và khuôn mặt”, Đức Giáo Hoàng Leo XIV nói trong thông điệp nhân Ngày Thế giới của Người nghèo, được công bố vào Chúa nhật, ngày 14 tháng 6 năm 2026.

Lên án một thế giới kỹ thuật số củng cố “bức màn thờ ơ” đối với người nghèo, ngài mời gọi các Kitô hữu “tự xét lương tâm một cách nghiêm túc”. Ngài thách thức họ đảm bảo rằng họ là “dấu hiệu của một Thiên Chúa là nơi nương náu cho người nghèo”, và kêu gọi họ đừng để bị cuốn hút bởi “sự ám ảnh của những người chỉ tích lũy của cải cho riêng mình”.

Ngày Thế giới của Người nghèo rơi vào Chúa nhật thứ 33 Thường niên: năm nay, ngày này rơi vào ngày 15 tháng 11. Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã thiết lập ngày lễ này sau Năm Thánh dành cho những người bị gạt ra ngoài lề xã hội năm 2016, do Hiệp hội Fratello tổ chức trong Năm Lòng Thương Xót. Chủ đề của lần thứ 10 này là “Chúa là nơi nương náu của người nghèo”, được trích từ Thánh vịnh 14.

Người nghèo là những người đầu tiên chịu khổ.

Trong thông điệp của ngài, Đức Giáo Hoàng lưu ý rằng thánh vịnh này mô tả “sự khốn khổ về vật chất và tinh thần chưa từng có” mà dân Israel phải đối diện sau khi Đền thờ ở Giêrusalem bị phá hủy. Văn bản này cho thấy “sự tương phản giữa những người hành động khôn ngoan và những người, mặt khác, sống như thể không có gì vĩ đại hơn chính họ”, ngài giải thích. Ngài chỉ ra rằng loại bất công này vẫn còn phổ biến ngày nay. Nó sinh ra từ “sự tham nhũng kiêu ngạo, vừa đáng tiếc vừa mang tính phân biệt đối xử”.

Đức Giáo Hoàng Leo XIV nhận xét rằng “việc đánh mất cảm giác về sự siêu việt trong cuộc sống hằng ngày không còn là sự phủ nhận lý thuyết về sự hiện hữu của Thiên Chúa nữa.” Thay vào đó, nó “thể hiển hiện ở việc không tính đến lòng tốt và lòng thương xót của Người trong việc theo đuổi công lý bản thân và xã hội.” Ngài than thở rằng người nghèo là những người đầu tiên phải gánh chịu hậu quả, và nói thêm rằng “không phải ngẫu nhiên mà số lượng người nghèo đang gia tăng ở nhiều xã hội.”

Đối với Đức Giáo Hoàng, sự vắng mặt của Thiên Chúa “đặt người này lên trên người kia trong mối quan hệ thống trị và áp bức.” Ngài nhìn thấy ở đây một “luận lý học xúc phạm của lạm dụng và loại trừ” đang hoạt động. Luận lý hộc này là “một luận lý học làm cho người ta bị gạt ra ngoài lề và bị sỉ nhục,” đôi khi ảnh hưởng đến “toàn bộ dân số.”

Thế giới kỹ thuật số chống lại người nghèo

Đức Giáo Hoàng cũng nhận thấy rằng tiếng kêu than của người nghèo ngày nay bị dập tắt bởi “vô số chiến thuật ngày càng tinh vi.” Ngài đặc biệt tập trung vào một “thế giới kỹ thuật số” “làm trầm trọng thêm định kiến chống lại họ” và củng cố “bức màn thờ ơ” xung quanh những khó khăn của họ.

“Người nghèo không còn lựa chọn nào khác ngoài việc kêu cầu Chúa,” Đức Giáo Hoàng Leo XIV nhấn mạnh. Đối với ngài, “nương náu nơi Chúa có nghĩa là tìm được sự bảo vệ đích thực và lâu dài” – một loại bảo vệ mà “người quyền lực không thể đảm bảo và thích chối bỏ.” Thực vậy, người nghèo “có khả năng nhận ra điều gì là thiết yếu hơn những người khác, bởi vì họ sống nhờ những điều thiết yếu.”

Nhắc đến tên tuổi người nghèo

Đức Giáo Hoàng nhắc lại rằng “người nghèo thời nay là những người bị lãng quên và bị gạt ra ngoài lề xã hội.” Họ “không chỉ bị cướp mất bánh mì, mà còn bị cướp mất tiếng nói và khuôn mặt.” Ngài bày tỏ hy vọng rằng họ sẽ gặp được Chúa Kitô, đặc biệt là “nơi những người tự xưng là Kitô hữu.”

“Chúa Giêsu thành Na-da-rét là hồng phúc của Chúa dành cho người nghèo,” ngài nhấn mạnh, đối lập “sự kiên định của Chúa,” thể hiện qua lòng bác ái của con người, với “sự ám ảnh của những người chỉ tích lũy của cải cho riêng mình.”

Đức Giáo Hoàng Leo XIV nhấn mạnh rằng các Kitô hữu và Giáo hội được kêu gọi “trở nên nghèo khó và là nơi nương náu cho người nghèo.” Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh rằng cộng đồng Công Giáo “không thể thờ ơ với nhiều người đang đứng trước cửa nhà mình nhưng lại vô hình đối với những người đang bị giam cầm trong chính bức tường của họ”.

Nhân Ngày Thế giới dành cho người nghèo, Đức Giáo Hoàng mời gọi các tín hữu “tự xét lương tâm một cách nghiêm túc” để xem liệu họ có thực sự là “dấu hiệu của một Thiên Chúa là nơi nương náu cho người nghèo” hay không. Ngài yêu cầu họ suy gẫm về sự nghèo khó của chính mình và liệu họ có thích sự nghèo khó hơn “sự giàu có bất chính” hay không. Ngài cũng kêu gọi họ đến với người nghèo, “trải nghiệm sự bị gạt ra ngoài lề xã hội của họ”.

“Chúng ta có lắng nghe suy nghĩ của họ và chia sẻ hy vọng của họ không?”, Ngài hỏi. “Chúng ta có gọi tên họ với sự dịu dàng thần thiêng không?”, Đức Giáo Hoàng lưu ý rằng chính người nghèo thường “trở thành nơi nương náu cho người khác”, bởi vì “kinh nghiệm về sự nghèo khó khiến họ đặc biệt nhạy cảm với tình liên đới được đổi mới”.

Gương mẫu của Thánh Phanxicô là “có thể thực hiện được, ngay cả ngày nay”

Tóm lại, Đức Giáo Hoàng nhắc đến lễ kỷ niệm 800 năm ngày mất của Thánh Phanxicô Assisi, người đã qua đời vào ngày 3 tháng 10 năm 1226. Ngài kể lại cách vị Thánh nghèo khó đã từ bỏ mọi thứ, thậm chí cả quần áo, để đón nhận sự nghèo khó và sống giữa những người nghèo với một “tinh thần vui vẻ”.

“Chúng ta muốn làm chứng rằng, ngay cả ngày nay, vẫn có thể trải nghiệm niềm vui tương tự bằng cách đặt mình vào vị trí của người nghèo và lắng nghe họ thay vì chỉ nói về họ”, ngài nói.

Thông điệp của Đức Giáo Hoàng được ký vào thứ Bảy, ngày 13 tháng 6. Ngày này là ngày tưởng niệm Thánh Antôn thành Padua, vị thánh bổn mạng của người nghèo và là môn đệ của Thánh Phanxicô.
 
Đức Giáo Hoàng Leo XIV và Bán cầu Tây của Marco Rubio
Vũ Văn An
15:11 15/06/2026

Khoảng cách giữa quan điểm địa chính trị của Hoa Kỳ và Vatican đã gia tăng trong năm đầu tiên triều đại giáo hoàng của Đức Leo

Hình ảnh dàn dựng cho thấy toàn cảnh quả địa cầu, thể hiện Bán cầu Tây. (Ảnh: Arturo Añez./Pexels)


Massimo Faggioli, trên bản tin ngày 14 tháng 5 năm 2026 của Global Catholic, cho rằng: Một năm sau khi Đức Giáo Hoàng Leo XIV được bầu chọn, rõ ràng là – theo những cách khác biệt so với người tiền nhiệm của ngài, Đức Giáo Hoàng Phanxicô – tầm quan trọng của vấn đề mối quan hệ giữa Công Giáo toàn cầu và phương Tây là điều thiết yếu để hiểu được triều đại giáo hoàng này và mối quan hệ của nó với Hoa Kỳ.

Những căng thẳng trong vài tuần qua giữa Vatican và Washington không chỉ đơn thuần là sự thiếu ăn ý giữa hai nhà lãnh đạo thế giới, Đức Giáo Hoàng Leo và Tổng thống Trump, cả hai đều đến từ Hoa Kỳ. Đó là sự xung đột giữa hai quan điểm hoàn toàn khác nhau về cách thức Kitô giáo được thể hiện trên trường quốc tế. Một cụm từ duy nhất tóm tắt sự căng thẳng này là: “Bán cầu Tây”.

Cụm từ này đã được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ sử dụng trong nhiều tuyên bố khác nhau để mô tả nội dung cuộc trao đổi giữa Ngoại trưởng Hoa Kỳ Marco Rubio (một người Công Giáo) và Đức Giáo Hoàng Leo cùng Ngoại trưởng Vatican, Hồng Y Pietro Parolin, vào ngày 7 tháng 5. “Bán cầu Tây” thường được Rubio và chính quyền Trump sử dụng thay thế cho “bán cầu của chúng ta”.

Nó không bắt nguồn từ những căng thẳng xuất phát từ phản ứng của Vatican đối với cuộc chiến ở Iran. Việc xác định Tây bán cầu là “bán cầu của chúng ta” cũng được thể hiện rõ trong “Chiến lược An ninh Quốc gia của Hoa Kỳ tháng 11 năm 2025”, do Nhà Trắng công bố vào tháng 12 năm 2025.

Tuyên bố chính sách đó có hai mục tiêu chính: “Mục tiêu của chúng ta đối với Tây bán cầu có thể được tóm tắt là ‘Thu hút và Mở rộng’. Chúng ta sẽ thu hút những người bạn hiện có trong bán cầu để kiểm soát di cư, ngăn chặn dòng chảy ma túy và tăng cường ổn định và an ninh trên bộ và trên biển. Chúng ta sẽ mở rộng bằng cách vun đắp và củng cố các đối tác mới đồng thời tăng cường sức hấp dẫn của quốc gia chúng ta với tư cách là đối tác kinh tế và an ninh được lựa chọn hàng đầu của bán cầu.” Bài phát biểu của Marco Rubio tại Hội nghị An ninh Munich ngày 14 tháng 2 năm 2026 cũng rất đáng chú ý: “Chúng ta [Hoa Kỳ và Châu Âu] là một phần của một nền văn minh – nền văn minh phương Tây. Chúng ta gắn bó với nhau bằng những mối dây sâu sắc nhất mà các quốc gia có thể chia sẻ, được hình thành bởi hàng thế kỷ lịch sử chung, đức tin Kitô giáo, văn hóa, di sản, ngôn ngữ, nguồn gốc và những hy sinh mà cha ông chúng ta đã cùng nhau thực hiện vì nền văn minh chung mà chúng ta được thừa hưởng.”

Đây không chỉ là ý kiến cá nhân của Ngoại trưởng Rubio. Chỉ cần nhìn vào nội dung được chia sẻ trên các tài khoản mạng xã hội của nhiều bộ phận trong chính quyền Trump là đủ thấy. Nó cũng định hình chính sách của Vatican đối với chính quyền Hoa Kỳ hiện tại.

Vài ngày sau bài phát biểu của Rubio ở Munich, trong một cuộc phỏng vấn với hãng tin Công Giáo tiếng Anh Crux, Đại sứ Hoa Kỳ tại Tòa thánh, Brian Burch, khi thảo luận về những điểm chung có thể có giữa Tòa thánh và Hoa Kỳ, đã nói về “một trí tuệ nhân tạo được mô phỏng theo nền văn minh phương Tây, một trí tuệ nhân tạo đáng để theo đuổi và có lợi cho thế giới.”

Trong sáu mươi năm qua, các cường quốc phương Tây đã nhận thức được sự khó chịu của Vatican khi họ cố gắng gói gọn Giáo hội vào “bán cầu Tây”. Điều này trở nên rõ ràng trong thời Chiến tranh Lạnh, như những phản ứng lo lắng của các nhà ngoại giao phương Tây đối với thông điệp cuối cùng của Giáo hoàng Gioan XXIII, Pacem in Terris, đã cho thấy.

Điều này càng trở nên rõ ràng hơn trong triều đại của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, xét đến xuất thân “Nam bán cầu” của ngài và thông điệp của ngài về môi trường cũng như công bằng kinh tế và xã hội quốc tế.

Giờ đây, một số người cho rằng sự tách biệt của Vatican khỏi việc bị sáp nhập vào bán cầu do Mỹ thống trị có thể thay đổi sau khi Đức Phanxicô qua đời, trong một sự kế vị mà một số người muốn tái cân bằng hoặc đảo ngược các chính sách của người tiền nhiệm.

Kỳ vọng về một Vatican ít toàn cầu hơn và “phương Tây” hơn càng tăng cao khi mật nghị bầu ra vị Giáo hoàng đầu tiên đến từ Hoa Kỳ. Nhưng vị Giáo hoàng Liên Mỹ đầu tiên, Leo, đã không thực hiện được sự tái Tây hóa của Giáo hoàng.

Trong bài phát biểu quan trọng về chính sách đối ngoại mà Đức Giáo Hoàng Leo đọc trong năm đầu tiên trị vì, bài phát biểu ngày 9 tháng 1 trước Đoàn Ngoại giao, ngài chỉ nhắc đến phương Tây hai lần (và “Châu Âu và Châu Mỹ” chỉ một lần).

Lần nhắc đến đầu tiên là khi ngài trích dẫn Đức Benedict XVI, người đã đề cập đến tác phẩm De Civitate Dei (Thành phố của Chúa) của Thánh Augustinô: “một trong những tác phẩm thần học, triết học và văn học mạnh mẽ nhất của ngài. Như Đức Giáo Hoàng Benedict XVI đã nhận xét, đó là một ‘tác phẩm ấn tượng, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của tư tưởng chính trị phương Tây và thần học lịch sử Kitô giáo.’”

Tiếp theo câu đó là lời nhắc nhở mạnh mẽ của Đức Giáo Hoàng Leo về sự mong manh của mọi cấu trúc chính trị, ngay cả những cấu trúc được tuyên bố là được Chúa bảo vệ: “Vào thời các vị thần ngoại giáo, Rome là caput mundi (kinh đô thế giới), kinh đô vĩ đại, và không ai có thể tưởng tượng rằng nó sẽ rơi vào tay kẻ thù của nó.” Giờ đây, với Thiên Chúa của người Kitô giáo, thành phố vĩ đại này dường như không còn an toàn nữa.”

Trong đoạn văn thứ hai, Đức Leo bàn tới việc đảo ngược vai trò của phương Tây trong việc bảo vệ tự do ngôn luận: “Thật đau lòng khi thấy, đặc biệt là ở phương Tây, không gian cho tự do ngôn luận đích thực đang nhanh chóng bị thu hẹp. Đồng thời, một thứ ngôn ngữ kiểu Orwell mới đang phát triển, mà trong nỗ lực trở nên bao dung hơn, cuối cùng lại loại trừ những người không phù hợp với các hệ tư tưởng đang thúc đẩy nó.”

Khoảng cách giữa quan điểm địa chính trị của Hoa Kỳ và Vatican đã nới rộng trong năm đầu tiên trị vì của ngài, không phải do bất cứ lựa chọn cụ thể nào của vị giáo hoàng mới.

Thực tế, Đức Giáo Hoàng Leo, một tu sĩ dòng Augustinô, thể hiện một tầm nhìn địa chính trị theo chủ nghĩa Đại Tây Dương cổ điển, gần gũi hơn với dòng chính Công Giáo Mỹ và châu Âu sau năm 1945 hơn là với tầm nhìn của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, một tu sĩ dòng Tên đến từ Argentina.

Nhưng bản đồ thế giới của Đức Leo cũng khác xa với chính quyền Trump, vốn nhấn mạnh và ép buộc sự đồng nhất giữa Kitô giáo, phương Tây và nền văn minh thế giới. Khoảng cách giữa Vatican và Washington đã nới rộng, nhờ vào sự cứng rắn của câu chuyện ý thức hệ thúc đẩy chính sách đối ngoại của chính quyền Trump, đặc biệt là kể từ tháng 1 năm 2026.

Đó là một câu chuyện địa chính trị-văn minh đã che khuất các vấn đề khác tạo nên sự liên kết giữa Công Giáo bảo thủ và Đảng Cộng hòa.

Câu chuyện ý thức hệ này, đồng nhất Tây bán cầu với Kitô giáo, lại đang giúp Vatican đưa ra một phản ứng vừa mang tính chính trị vừa mang tính thần học đối với những dấu hiệu của thời đại của chúng ta.

Một trong những dấu hiệu này là “phương Tây” ngày càng được đồng nhất với liên minh giữa Hoa Kỳ và Israel, một liên minh ngày càng mang tính cá nhân giữa Tổng thống Trump và Thủ tướng Netanyahu. Điều này xảy ra vào thời điểm cả Kitô giáo và Do Thái giáo đều ít được đồng nhất với châu Âu và phương Tây, cả về mặt thần học và văn hóa.

Những căng thẳng giữa Hoa Kỳ và Vatican này cũng có thể định hình triều đại giáo hoàng của Đức Leo và mối quan hệ của ngài với Công Giáo châu Âu, hiện đang cảm thấy như một đứa trẻ mồ côi về nhiều mặt: sứ mệnh của Liên minh châu Âu, an ninh được NATO đảm bảo và của Hoa Kỳ. Chúng ta có thể sẽ thấy điều này trong chuyến thăm sắp tới của Giáo hoàng Leo tới Tây Ban Nha vào đầu tháng Sáu.

Đối với Giáo hội, vấn đề bán cầu Tây là một vấn đề chính trị, nhưng cũng là vấn đề liên quan đến tương lai của truyền thống giáo huấn và thần học, và của những bản sắc giáo hội mới nổi lên trong Công Giáo toàn cầu.

Những bản sắc phi phương Tây này không còn là một chút đa dạng trong một Giáo Hội Công Giáo bị chi phối bởi châu Âu và phương Tây, mà đứng vững như một phần của diện mạo mới của Công Giáo toàn cầu, mỗi bản sắc đều có bản sắc riêng.

Cơ hội duy nhất để duy trì tính khả tín của “người châu Âu” và “người phương Tây” trong Giáo Hội Công Giáo toàn cầu là sống trong một chế độ tự do và tự chủ, thoát khỏi những âm mưu địa chính trị của các cường quốc – đặc biệt là những kẻ tự xưng là đang nói nhân danh Thiên Chúa.
 
VietCatholic TV
Tâm thư của ĐTC Lêô gởi các linh mục trên toàn thế giới. ĐGM Schneider: Nguy hiểm của Hội Tam Điểm
VietCatholic Media
03:03 15/06/2026


1. Sứ Điệp Của Đức Thánh Cha Lêô XIV Gửi Các Linh Mục Nhân Ngày Cầu Nguyện Cho Việc Thánh Hóa Các Linh Mục

Kính gửi các anh em linh mục,

Vào ngày Giáo Hội suy niệm Thánh Tâm Chúa bị đâm thủng, từ đó tuôn chảy một suối nguồn bình an và hiệp nhất bất tận cho toàn nhân loại, trước hết tôi xin nói với chính mình và với tất cả anh chị em những lời mà Thiên Chúa đã phán với dân Israel: “Hãy nên thánh, vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, là Đấng Thánh” (Lv 19:2; 1 Pr 1:16). Lời kêu gọi thiêng liêng này vang vọng qua các thời đại. Ngay cả ngày nay, nó vẫn còn vang vọng mạnh mẽ với mỗi tín hữu và, cách riêng, với chúng ta, những linh mục. Sự thánh thiện không phải là một lựa chọn trong số nhiều lựa chọn, cũng không phải là một lý tưởng trừu tượng, vì nó liên quan đến chính bản sắc của mỗi người muốn chia sẻ sự sống của Đấng Phục Sinh.

Sự thánh thiện được chia sẻ trong mầu nhiệm của Chúa Kitô.

Chúa mời gọi chúng ta chia sẻ sự thánh thiện của chính Ngài. Khi Ngài kêu gọi chúng ta nên thánh như Ngài, Ngài chỉ ra rằng con đường chúng ta phải đi theo là được uốn nắn theo hình ảnh Thánh Tâm Ngài. Và đối với chúng ta, hỡi các anh em thân yêu, lời kêu gọi này đặc biệt triệt để. Chúa đã hứa: “Ta sẽ cho các ngươi những mục tử đẹp lòng Ta; chúng sẽ khôn ngoan sáng suốt chăn dắt các ngươi.” (Gr 3:15). Sự thánh thiện mà Ngài đòi hỏi nơi chúng ta là sự phó thác tin tưởng, cho phép bản thân được biến đổi bởi Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên, chính ở đây, nghịch lý lớn lao trong đời sống linh mục của chúng ta xuất hiện. Chúng ta được kêu gọi chia sẻ sự thánh thiện của chính Chúa, nhưng chúng ta lại mang kho báu này trong những bình đất sét (2 Cr 4:7). Chúng ta hữu hạn và bất toàn, thường yếu đuối và mệt mỏi, và đôi khi bị tổn thương. Làm thế nào một trái tim con người dễ bị tổn thương như vậy có thể đáp lại lời kêu gọi cao cả đến thế? Linh mục sống trong sự căng thẳng này. Tuy nhiên, đồng thời, ngài phải nhận ra rằng ngài tìm thấy sự bình an trong trái tim cởi mở của Chúa Giêsu.

Một hành trình hướng tới sự hiệp nhất

Sự hiệp nhất tâm hồn chúng ta với Thánh Tâm Chúa Kitô không phải là một kinh nghiệm chỉ dành riêng cho một số ít người được chọn; trái lại, đó là một hành trình bí tích, Thánh Thể diễn ra mỗi ngày trong cuộc sống của chúng ta. Hỡi các anh em thân mến, nhờ chức thánh mà chúng ta đã được biến đổi theo Chúa Kitô, nhưng chúng ta phải luôn luôn đổi mới ân sủng đó trong chính mình qua việc cử hành Thánh Thể hằng ngày, cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa và phục vụ anh chị em mình một cách khiêm nhường. Chúng ta hãy luôn hiệp nhất với Chúa Kitô trong mọi sự — trong tất cả những gì chúng ta làm và trong tất cả những gì xảy đến với chúng ta mỗi ngày. Khi đó, sự thánh thiện mà chúng ta đã tìm kiếm một cách vô ích qua những nỗ lực riêng lẻ sẽ được tỏ bày đúng bản chất của nó: đó là một sự đáp lại ân sủng đã đến trước, nâng đỡ và biến đổi chúng ta. Thật vậy, nhân tính của chúng ta không bị chia thành từng ngăn. Cầu nguyện, phục vụ, các mối quan hệ, mệt mỏi, niềm vui và thất bại — thậm chí cả thời gian hay tình yêu dường như bị lãng phí — tất cả đều trở thành những nơi đặc biệt mà Thiên Chúa bày tỏ chính Ngài và tình yêu vô hạn của Ngài.

Vị linh mục có tấm lòng ngay thẳng, giản dị và trong sạch có thể chiêm nghiệm giữa những hành động, lòng thương xót và trung thành trong những lúc thử thách, và vui mừng trong việc hiến dâng chính mình. Thế giới rất cần những mục tử không chỉ dâng hiến lời nói hay chương trình; thế giới cần chứng nhân sống động của một tấm lòng hòa giải, tỏa hương thơm ngọt ngào của sự thánh thiện của Chúa Kitô. Một đời sống linh mục vững vàng và được định hình theo Thánh Tâm Chúa Giêsu là dấu hiệu đáng tin cậy của sự hiệp nhất, hòa bình và lòng thương xót. Vì vậy, trong thời đại đầy chia rẽ và sợ hãi, chúng ta phải là những người xây dựng hòa bình và là chứng nhân của lòng nhân hậu của vị Mục Tử Nhân Lành, Đấng biết cách quy tụ những người tản mác và chữa lành những người bị tổn thương. Lòng nhiệt thành của chúng ta không phải là sự bồn chồn, mà là sự tràn đầy của một tình yêu là “sự hân hoan”, sự cởi mở, sự hiến dâng và sự gặp gỡ” (Đức Phanxicô, Thông điệp Dilexit số 28).

Thánh Tâm Chúa Kitô là trung tâm điểm của các thánh.

Sự đáp lại lời kêu gọi sống thánh không nằm ở việc thực hiện các việc khổ hạnh hay phấn đấu đạt đến sự hoàn hảo – mặc dù những điều này là cần thiết – mà nằm ở việc tin tưởng và gắn bó với tình yêu được bày tỏ trong Thánh Tâm bị đâm thủng của Chúa Giêsu. Thánh Tông đồ Gioan mời gọi chúng ta chiêm nghiệm vết thương ở cạnh sườn của Đấng chịu đóng đinh (xem Ga 19:34), nơi Thiên Chúa cho chúng ta thấy rõ ràng sự thánh thiện là gì: không phải là một sự hoàn hảo xa vời hay tách rời, mà là một tình yêu hiến dâng chính mình đến mức bị tổn thương và do đó có thể trở thành nguồn mạch của lòng thương xót và sự sống. Thánh Tâm Thánh của Chúa Giêsu là hình ảnh mẫu mực về tình yêu vượt trội của Thiên Chúa. Đó là một tình yêu toàn năng chính vì nó có khả năng dễ bị tổn thương và biến nỗi buồn thành ân sủng, đau khổ thành hy vọng.

Do đó, Thánh Tâm là “nơi” mà sự thánh thiện được biểu lộ qua sự gần gũi và dịu dàng. Sự thánh thiện của linh mục được thể hiện qua sự gần gũi khiêm nhường và can đảm, qua việc trở nên tất cả mọi thứ cho tất cả mọi người, và qua việc giữ cửa chuồng chiên luôn mở để nhiều người có thể vào tìm được đồng cỏ và sự nghỉ ngơi (xem Ga 10:9). Vì lý do này, chúng ta được mời gọi đến một mối quan hệ với Thiên Chúa không làm chúng ta xa cách người khác mà đưa chúng ta đến gần hơn với mọi người — hình thành nên những trái tim kiên nhẫn và dịu dàng, có khả năng gần gũi, thương xót và lắng nghe. Như vậy, nhờ sự kết hợp giữa những trái tim bất toàn của chúng ta với Thánh Tâm bị đâm thủng của Chúa Giêsu, hành trình hướng đến sự thánh thiện của chúng ta được hoàn thành. Không còn phải là chúng ta sống, mà là Chúa Kitô sống trong chúng ta (xem Gal 2:20). Sự thánh thiện như vậy không thể sống trong sự cô lập. Hãy trân trọng tình huynh đệ linh mục của anh em: hãy tìm kiếm nhau, lắng nghe nhau và nâng đỡ nhau. Linh mục tự cô lập mình sẽ dần dần tàn phai; linh mục đồng hành cùng anh em mình sẽ trưởng thành. Thánh Augustinô nhắc nhở chúng ta điều này khi ngài nói: “Làm sao chúng ta tránh khỏi việc rơi vào bóng tối? Bằng cách yêu thương anh em mình. Bằng chứng nào cho thấy chúng ta yêu thương anh em mình? Đó là: chúng ta không phá vỡ sự hiệp nhất và chúng ta thực hành lòng bác ái” (Trong Thư thứ nhất gửi Parthos II, 3).

Kính thưa các linh mục, mỗi ngày hãy đổi mới lời “Con đây” của mình trước Thánh Tâm bị đâm thủng của Chúa Kitô. Hãy hiến dâng trọn vẹn bản thân cho Người, để anh em có thể yêu thương dân Người bằng chính tình yêu mà Người dành cho họ. Và hãy vui mừng nhớ lại lời mà vị thánh Cha xứ Ars đã yêu mến: “Chức linh mục là tình yêu của trái tim Chúa Giêsu” (xem Đức Bênêđíctô XVI, Thư Tuyên Bố Năm dành cho các Linh mục nhân kỷ niệm 150 năm “Ngày sinh” của Cha xứ Ars, 569). Tình yêu này là một lời cam kết và một sự bảo đảm rằng, nếu chúng ta hiến dâng và dâng mình trọn vẹn, thì không điều gì của chúng ta sẽ bị mất đi. Tôi phó thác mỗi người trong anh em cho Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ của các Linh mục. Xin Mẹ, người đã ấp ủ mầu nhiệm Con mình trong lòng, cũng dạy chúng ta giữ cho Thánh Tâm Chúa Kitô, Đấng Cứu Thế của thế gian, luôn sống động và đập trong lòng chúng ta.

Ngày 12 tháng 6 năm 2026, Lễ trọng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu.

+ Đức Giáo Hoàng Lêô XIV

MESSAGE OF POPE LEO XIV TO PRIESTS ON THE OCCASION OF THE DAY OF PRAYER FOR THE SANCTIFICATION OF PRIESTS

2. Giáo xứ Công Giáo tại Đức chúc lành cho những người tham dự sự kiện tự hào LGBT.

Một giáo xứ Công Giáo Đức, cùng với nhà thờ Tin Lành địa phương, đã công khai ủng hộ cuộc diễn hành tự hào Christopher Street Day, gọi tắt là CSD diễn ra vào ngày 13 tháng 6, và tuyên bố sẽ cùng nhau lập một gian hàng để chúc phúc cho những người tham gia. Sáng kiến này đã được nêu chi tiết trong một tuyên bố chung do mục sư Tin Lành và linh mục giáo xứ Công Giáo đưa ra.

Thông cáo báo chí, được công bố bởi giáo xứ Công Giáo Thánh Tâm ở Pforzheim, bắt đầu bằng việc nhắc đến Lễ Ngũ Tuần: “Vài tuần trước, chúng ta đã cử hành Lễ Ngũ Tuần. Lễ này cho thấy Chúa Thánh Thần kết nối mọi người và tạo nên cộng đồng.” Thông cáo nói tiếp: “Không ai phải che giấu danh tính hay nguồn gốc của mình… Ngược lại: Chúa đã tạo dựng chúng ta trong sự đa dạng và kết nối chúng ta. Chúng tôi tin chắc rằng mỗi người – bất kể tôn giáo, xuất thân, địa vị xã hội hay bản dạng giới tính – đều được Chúa tạo dựng và yêu thương. Chúng tôi chia sẻ mối quan tâm này với CSD, tổ chức đấu tranh cho phẩm giá của người đồng tính, tìm cách làm nổi bật sự đa dạng của mọi người trong bản dạng giới tính và xuống đường đấu tranh cho quyền lợi của họ.”

Hai nhà thờ sẽ cùng chia sẻ một gian hàng tại quảng trường chợ từ trưa và ban phước lành cho những ai yêu cầu. Tuyên bố bày tỏ “mối quan ngại sâu sắc” rằng “người đồng tính, song tính và chuyển giới ngày càng phải chịu sự thù địch và đe dọa – kể cả ở Pforzheim”, và lưu ý đến sự hiện diện của các cuộc biểu tình phản đối cánh hữu đã được lên kế hoạch. Tuyên bố nói thêm: “Chúng tôi sẽ có mặt ở đó và, thông qua sự hiện diện của mình, gửi một thông điệp rõ ràng ủng hộ sự đa dạng và chống lại sự thù hận và ác cảm với con người.”

Giáo xứ Công Giáo Thánh Tâm, do Cha Steffen Schölch quản lý, duy trì một mục riêng trên trang web của mình có tiêu đề “dành cho người đồng tính, song tính và chuyển giới”, liên kết trực tiếp đến “chương trình hỗ trợ người đồng tính, song tính và chuyển giới” của Tổng giáo phận Freiburg. Trang web của tổng giáo phận nêu rõ: “Các bản dạng giới đồng tính, song tính và chuyển giới có thể bao gồm, ví dụ, phi nhị nguyên giới, linh hoạt giới tính, phi nhị nguyên giới hoặc vô giới tính, điều này cho thấy giới tính rất đa dạng và không cần phải bị giới hạn trong các phạm trù cứng nhắc.”

Tổ chức này mô tả đường lối mục vụ của mình là “trong đó người đồng tính, song tính và chuyển giới được trân trọng vì bản sắc và lối sống riêng của họ, và một không gian được tạo ra an toàn nhất có thể, nơi họ có thể sống đời sống tâm linh hài hòa với chính con người mình”, với mục tiêu “xem xét một cách nghiêm chỉnh các cấu trúc tôn giáo truyền thống và tạo ra những con đường hòa nhập hơn cho tất cả mọi người, bất kể xu hướng tình dục hay bản dạng giới của họ”.

Giáo lý Công Giáo, như được nêu trong Sách Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo, mô tả hành vi đồng tính luyến ái là “vốn dĩ sai trái” và “trái với luật tự nhiên”, đồng thời kêu gọi những người có khuynh hướng đồng giới phải giữ gìn sự trong sạch. Tuyên bố Fiducia Supplicans (2023), được coi là một văn kiện tương đối tự do và bị phản đối, nêu rõ rằng Giáo hội không có quyền ban phước lành cho các cuộc hôn nhân đồng giới và bất kỳ lời chúc phúc nào cũng không được ban cùng lúc với các nghi lễ kết hợp dân sự hoặc với bất kỳ trang phục, cử chỉ hoặc lời nói nào phù hợp với một đám cưới, để không gây nhầm lẫn hoặc có vẻ như hợp pháp hóa các cuộc hôn nhân đó.

Hành động chung tại Pforzheim, thuộc Tổng giáo phận Freiburg dưới sự lãnh đạo của Đức Tổng Giám Mục Stephan Burger, diễn ra trong bối cảnh các cuộc tranh luận đang diễn ra ở một số nơi trong Giáo hội Đức về việc giải thích các tiến trình thượng hội đồng và hoạt động mục vụ. Quyết định của giáo xứ tham gia cuộc diễn hành của CSD và ban phước lành cùng với những người Tin Lành đã làm nổi bật những căng thẳng giữa các sáng kiến địa phương và giáo huấn toàn cầu của Giáo hội về giới tính con người, hôn nhân và việc sử dụng đúng đắn các thánh tích.

Tuyên bố chung và các lời chúc phúc dự kiến thể hiện sự nhầm lẫn mới nhất ở Đức, nơi mà việc đồng hành mục vụ ngày càng được thể hiện theo những cách dường như khẳng định các bản sắc và lối sống trái ngược với giáo huấn nhất quán của Giáo hội.


Source:Catholic Herald

3. Đức Cha Schneider nhận định rằng Hội Tam điểm là nguồn gốc của cuộc khủng hoảng hậu Công đồng Vatican II.

Giám mục Athanasius Schneider, Giám Mục Phụ Tá của Astana, đã xác định Hội Tam điểm là nguồn gốc chính của cuộc khủng hoảng đã ảnh hưởng đến Giáo Hội Công Giáo kể từ Công đồng Vatican II, mô tả sự thâm nhập của hội này như một chiến thuật “ma quỷ” nhằm làm tha hóa giáo lý, việc thờ phượng và vị trí trung tâm của Chúa Kitô. Trong một cuộc phỏng vấn sâu rộng với Adrian Milag, vị giám mục, người từng chịu đựng sự đàn áp của chế độ cộng sản Liên Xô khi còn nhỏ, đã thẳng thắn nói về những nguy hiểm của chủ nghĩa tương đối, chủ nghĩa tự nhiên và phụng vụ lấy con người làm trung tâm.

Giám mục Schneider, người có cha mẹ từng tổ chức các Thánh lễ bí mật dưới chế độ cộng sản, đã giải thích lý do tại sao ngài dành một chương cho Hội Tam điểm trong cuốn sách mới của mình, Credo: Compendium of the Catholic Faith (Kinh Tin Kính: Bản tóm tắt đức tin Công Giáo). Ngài nói: “Đây là một trong những giáo phái nguy hiểm nhất và là một giáo phái bí mật giả tôn giáo, một hình thức của thuyết Ngộ Đạo. Ở cấp độ cao hơn, nó ngày càng tiến gần đến việc thờ phượng Satan.” Ngài xác định “giáo điều cơ bản” của nó là thuyết tương đối: “Không có chân lý nào trong tôn giáo, tất cả các tôn giáo đều bình đẳng, và mọi người đều có thể chọn thần của riêng mình.” Giáo điều thứ hai, ngài nói thêm, là “thuyết nhân bản – con người phải là trung tâm của mọi thứ, chứ không phải Chúa”.

Vị giám mục đã nói thẳng thắn về cơ chế gây ảnh hưởng. “Trở ngại lớn nhất đối với ý thức hệ của Hội Tam điểm chính là Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa nhập thể… Điều này hoàn toàn trái ngược với toàn bộ cấu trúc tinh thần của Hội Tam điểm.”

Ngài nói tiếp: “Hội Tam điểm luôn có mục đích làm suy yếu đức tin Công Giáo và chống lại nó. Và giờ đây, chúng đã chuyển sang một chiến thuật khác thực sự tà ác để trực tiếp chống lại đức tin Công Giáo, chúng bắt đầu thâm nhập vào Giáo hội để làm băng hoại Giáo hội bằng những tư tưởng về chủ nghĩa tương đối, chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa lấy con người làm trung tâm… đây là gốc rễ của cuộc khủng hoảng hiện nay của Giáo hội kể từ Công đồng Vatican II.”

Giám mục Schneider nhấn mạnh rằng ngài không cho rằng Hội Tam điểm là nguyên nhân duy nhất gây ra mọi vấn đề trong Giáo hội, nhưng đã chỉ ra những điểm tương đồng rõ ràng giữa ý thức hệ và mục tiêu đã nêu của họ với sự hỗn loạn của Giáo hội đương thời. “Cuộc khủng hoảng trong 60 năm kể từ Công đồng Vatican II là sự ưu tiên chủ nghĩa tương đối, thông qua đại kết và đối thoại liên tôn. Chúa Giêsu Kitô bị lu mờ về tính độc nhất của Ngài giữa các tôn giáo khác.” Ngài chỉ ra phụng vụ như một biểu hiện đặc biệt rõ ràng: “Hiện tượng thứ hai trong Giáo Hội Công Giáo kể từ Công đồng là đặt con người làm trung tâm trong phụng vụ… và Chúa Kitô bị đặt ở góc, bên lề, ngay cả trong các nhà thờ. Thánh Thể… Chúa Kitô hằng sống, Thiên Chúa nhập thể hằng sống, bị đặt ở góc và linh mục tự đặt mình vào ghế, ở trung tâm. Điều này lấy con người làm trung tâm một cách quá đáng.”

Ngài chỉ trích việc cử hành Thánh lễ quay mặt về phía giáo dân: “Cách thức cử hành Thánh lễ quay mặt về phía giáo dân như một vòng tròn khép kín… bàn thờ không còn là bàn thờ nữa. Không, nó là một cái bàn, và trung tâm là linh mục chứ không phải Chúa Kitô. Về lý thuyết thì đúng, nhưng thực tế thì không.” Vị giám mục kêu gọi trở lại với việc thờ phượng lấy Chúa Kitô làm trung tâm, bao gồm việc quỳ gối khi rước lễ và khôi phục lại hướng truyền thống của bàn thờ.

Vị giám mục, người đã được đón nhận đức tin “từ khi còn bé” trong Giáo hội ngầm và vẫn còn nhớ những Thánh lễ đêm bí mật với cửa và cửa sổ đóng kín, bày tỏ tình cảm sâu sắc đối với lòng sùng kính của người dân Phi Luật Tân đối với Chúa Hài Đồng và Thánh lễ Latinh truyền thống, lưu ý rằng đây là hình thức được cử hành trong Thánh lễ đầu tiên ở Phi Luật Tân vào năm 1521. Ngài kêu gọi tiếp tục trung thành với phụng vụ cổ xưa: “Hãy giữ gìn Thánh lễ này, hãy lan tỏa nó, hãy bắt đầu lại nó… Các bạn có thể nói đây là Thánh lễ gốc của chúng ta.”

Cuộc phỏng vấn của Giám mục Schneider đã gây được tiếng vang lớn trong cộng đồng Công Giáo quan tâm đến hướng đi của Giáo hội kể từ sau Công đồng Vatican II. Toàn bộ cuộc phỏng vấn vẫn đang được chia sẻ rộng rãi khi các tín hữu Công Giáo truyền thống suy ngẫm về nhận định của ngài về cuộc khủng hoảng hiện nay.


Source:Catholic Herald

4. Các tín hữu Công Giáo Ba Lan lên án văn kiện cuối cùng của Thượng Hội đồng là “vô cùng phản Công Giáo”.

Các tín hữu Công Giáo Ba Lan, đứng đầu là Tiến sĩ Artur Dąbrowski, chủ tịch Công Giáo Tiến hành của Tổng giáo phận Częstochowa, đã ban hành một bức thư ngỏ chi tiết gửi các linh mục và các thành viên tham gia Thượng hội đồng, lên án Văn kiện cuối cùng của Thượng hội đồng về tính đồng nghị là “phản Công Giáo sâu sắc” và là một nỗ lực có hệ thống nhằm thay thế Kho tàng Đức tin bất biến bằng một ý thức hệ bao hàm và cấp tiến.

Bức thư, được công bố trong những ngày gần đây, phân tích báo cáo của Nhóm Công tác 9 của Thượng Hội đồng và Văn kiện Cuối cùng được ban hành vào ngày 26 tháng 10 năm 2024, cáo buộc văn kiện này phản ánh Con đường Thượng Hội đồng dị giáo của Đức thông qua việc phân quyền và tương đối hóa giáo lý. Các tín hữu Ba Lan mô tả văn kiện này như đang xây dựng “một khuôn khổ cho bản sắc mới của Giáo hội” mà đặt Kho tàng Đức tin dưới sự chi phối của một “ý thức hệ bao hàm” và bất nhất thay vì dẫn dắt các linh hồn đến ơn cứu rỗi, như LifeSiteNews và nhà báo Antonino Cambria đã đưa tin.

Các tác giả đặc biệt chỉ trích phương pháp hội nghị được gọi là “đối thoại trong Thánh Linh”. Họ viết: “Phương pháp này cố tình đánh đồng tiếng nói của những người trung thành tuân thủ giáo huấn của Giáo hội với tiếng nói của những người công khai phản đối giáo huấn đó.” Mỗi người tham gia chỉ được giới hạn trong hai phút mà không có quyền tranh luận, khiến việc bảo vệ giáo lý một cách thực chất trở nên bất khả thi. Bức thư cảnh báo rằng đường lối này nâng các ý kiến chủ quan lên vị thế “tiếng nói của Thánh Linh”, tạo ra một ảo tưởng nguy hiểm về sự hướng dẫn thiêng liêng thông qua sự đồng thuận được dàn dựng.

Trọng tâm của lời phê bình là định nghĩa lại về sự hoán cải trong văn bản này. Người Ba Lan lưu ý rằng thay vì sự hoán cải về mặt đạo đức bao gồm sự ăn năn và từ bỏ tội lỗi, văn bản lại trình bày sự hoán cải như là “một quá trình hoàn toàn thuộc về tinh thần”, nói về “sự hoán cải của cảm xúc, hình ảnh và suy nghĩ hiện hữu trong trái tim chúng ta”, “sự hoán cải của các mối quan hệ”, “các quá trình ra quyết định” và “sự hoán cải của các cấu trúc”. Họ tuyên bố: “Cách diễn đạt này cho thấy ý định của các tác giả: mục tiêu do đó không phải là sự biến đổi cuộc sống dưới ánh sáng của Phúc Âm, mà là sự xem xét lại sâu sắc nhận thức của người Công Giáo về thực tại.”

Bức thư chỉ ra một sai lầm giáo lý cơ bản trong đoạn 28, tuyên bố tính đồng nghị là “khía cạnh cấu thành của Giáo hội”. Các tác giả phản bác mạnh mẽ: “Phải nhắc lại một cách mạnh mẽ rằng chính Chúa Giêsu Kitô đã đặt nền móng cho Giáo hội và Ngài đã định nghĩa bản chất bất biến của Giáo hội: Giáo hội là Thánh thiện, Công Giáo và Tông truyền. Không một vị giám mục nào, kể cả Giáo hoàng, có quyền thay đổi Hiến pháp này.”

Về chức tư tế, tuyên bố trong đoạn 33 của tài liệu rằng “Tính đồng nghị cung cấp bối cảnh diễn giải phù hợp nhất để hiểu chính chức tư tế theo thứ bậc” được mô tả là “sự đảo ngược trật tự rõ rệt: không còn là người chăn chiên bảo vệ đàn chiên nữa, mà là khuôn khổ hành chính trở thành người phán xét người chăn chiên.”

Sự chỉ trích mở rộng đến cả cách giải quyết vấn đề Thánh Thể và phụng vụ. Người Ba Lan than phiền rằng văn kiện này đã không khẳng định sự hiện diện thực sự và tính chất hy sinh của Thánh Lễ, thay vào đó lại đưa ra một sự so sánh sai lầm: “Thánh Thể, trên hết, chứng tỏ rằng sự hòa hợp do Chúa Thánh Thần tạo ra không phải là sự đồng nhất… có một mối liên hệ chặt chẽ giữa synaxis và synodos, giữa cộng đoàn Thánh Thể và cộng đoàn.” Họ coi đây là sự phi thánh hóa, làm giảm phụng vụ xuống chỉ còn là một bài tập lắng nghe và bữa ăn cộng đồng.

Bức thư cũng phản đối việc sử dụng hình ảnh Đức Trinh Nữ Maria như một công cụ trong đoạn 29, đoạn miêu tả Mẹ là “một hình tượng của Giáo hội […] người lắng nghe, cầu nguyện, suy ngẫm, tham gia đối thoại, đồng hành, phân định, quyết định và hành động”. Các tác giả phản bác: “Đức Mẹ dưới chân Thánh Giá là một hình mẫu về việc chia sẻ nỗi đau khổ trong sự hy sinh của Con mình, chứ không phải là vị thánh bảo trợ cho các thủ tục hành chính.”

Một mối quan ngại cốt lõi là việc sử dụng cảm thức đức tin trong văn kiện này. Người Ba Lan lập luận rằng Văn kiện Cuối cùng làm sai lệch Lumen Gentium bằng cách cho rằng những người đã được rửa tội không thể sai lầm khi bày tỏ sự đồng thuận về đức tin và luân lý, mà không nhấn mạnh đầy đủ đến sự vâng phục Giáo huấn của Giáo hội. Họ dẫn chứng tiến trình Thượng hội đồng Kraków, nơi một nhà hoạt động chuyển giới được bổ nhiệm làm thư ký của một nhóm, như một ví dụ thực tiễn về những nguy hiểm tiềm tàng.

Về vấn đề đại kết và đối thoại liên tôn, bức thư cảnh báo về chủ nghĩa tương đối. Lời kêu gọi “cùng nhau cầu nguyện với Thiên Chúa duy nhất” với những người không phải là Kitô hữu trong đoạn 41 được mô tả là “sự phản bội Chúa Giêsu và sứ mệnh cứu rỗi của Ngài”. Các tác giả đặt câu hỏi: “Sự vâng phục Lời Chúa ở đâu: ‘Vậy hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ…’?”

Bức thư kết thúc bằng một lời cảnh báo gay gắt: “Nếu chúng ta cho phép Giáo Hội Công Giáo bị thay thế bởi một Giáo hội đồng nghị, chúng ta sẽ tự tay đóng đinh Thân Thể Mầu Nhiệm của Chúa Kitô và đóng một chiếc đinh vào quan tài của Người.” Bức thư kết thúc bằng lời tuyên bố, trong tiếng Latinh có nghĩa là “chúng tôi không thể”: “Non possumus!”

Lời chỉ trích từ Ba Lan đã gây được tiếng vang trong giới Công Giáo truyền thống, những người lo ngại về hướng đi của Thượng Hội đồng về Tínhđồng nghị. Tiến sĩ Dąbrowski và những người ký tên kêu gọi các vị mục tử của họ đưa ra lập trường rõ ràng thay vì “né tránh ngoại giao”, nhấn mạnh rằng lòng trung thành với Kho tàng Đức tin bất biến phải luôn là tiêu chuẩn của mọi hoạt động mục vụ và hiệp hành.


Source:Catholic Herald
 
Ukraine phóng siêu drone AI đốt kho dự trữ bạc tỷ, đóng 6 phi trường. Dzhankoi: Cháy hàng trăm xe
VietCatholic Media
05:14 15/06/2026


1. Máy bay điều khiển từ xa của Ukraine đốt cháy kho dự trữ nhiên liệu chiến lược thời chiến của Nga ở Rybinsk và nhà máy hóa chất liên quan đến chất nổ ở tỉnh Tula.

Lực lượng Quốc phòng Ukraine đã tấn công hai mục tiêu sâu bên trong lãnh thổ Nga, những mục tiêu duy trì cỗ máy chiến tranh của nước này, vào đêm 14 tháng 6, nhằm vào một kho dự trữ nhiên liệu chiến lược của nhà nước và một nhà máy hóa chất liên quan đến sản xuất chất nổ. Chiến dịch này đã kích hoạt cảnh báo không kích trên 28 khu vực của Nga và hủy bỏ hàng loạt chuyến bay tại sáu phi trường Nga.

Hôm Thứ Hai, 15 Tháng Sáu, Tổng thống Zelenskiy đã xác nhận các cuộc tấn công, gọi chúng là “các biện pháp trừng phạt dài hạn” đối với việc Nga từ chối chấm dứt chiến tranh.

Chiến dịch sử dụng máy bay điều khiển từ xa có hệ thống của Ukraine nhằm vào cơ sở hạ tầng nhiên liệu và các cơ sở công nghiệp quân sự của Nga đã làm thất thoát khoảng 7 tỷ đô la từ nền kinh tế chiến tranh của Nga trong giai đoạn Tháng Giêng đến tháng 5 và góp phần gây ra cuộc khủng hoảng xăng dầu hiện đã lan rộng đến hơn hai chục khu vực của Nga và sáu khu vực bị tạm chiếm của Ukraine.

Theo kênh Telegram Exilenova+ của Ukraine, máy bay điều khiển từ xa tấn công của Ukraine đã tấn công kho chứa dầu Kombinat Temp ở thị trấn Kopayevo thuộc Rybinsk, tỉnh Yaroslavl, vào rạng sáng ngày 14 tháng 6. Kênh Telegram Astra của Nga đã xác nhận mục tiêu này. Một đám cháy lớn đã bùng phát tại cơ sở này, tạo ra một cột khói đen dày đặc bao trùm thành phố.

Kombinat Temp là một cơ sở lưu giữ của Chính phủ Liên bang do Rosrezerv, Cơ quan Dự trữ Quốc gia Liên bang Nga, điều hành. Kho này lưu trữ nhiên liệu chiến lược và các sản phẩm dầu mỏ không thể đụng đến, được chỉ định sử dụng trong thời chiến, các cuộc khủng hoảng quy mô lớn và các tình trạng khẩn cấp quốc gia. Không giống như các kho nhiên liệu thương mại, cơ sở này bảo vệ các nguồn dự trữ mà quân đội Nga phụ thuộc vào như một nguồn cung cấp cuối cùng, Militarnyi lưu ý.

Địa điểm này có 61 bể chứa các loại, bao gồm cả những bể lớn có dung tích 5.000 mét khối mỗi bể. Rybinsk nằm trong hệ thống sông Volga và có kết nối hỏa xa, biến kho chứa này thành một trung tâm hậu cần quan trọng cho việc lưu trữ và phân phối nhiên liệu trên khắp các vùng đông bắc của Nga. Kho chứa này nằm cách biên giới quốc gia Ukraine hơn 700 km.

Phân tích OSINT của Astra đã xác định mục tiêu là Kombinat Temp. Khói dày đặc tiếp tục bốc lên trên thành phố lúc rạng sáng Thứ Hai, 15 Tháng Sáu.

Đoạn video được công bố sau vụ tấn công cho thấy một máy bay điều khiển từ xa kiểu Liutyi tấn công nhà máy đang bốc cháy. Sau khi đám cháy lan rộng, những giọt dầu bắt đầu rơi xuống khắp Rybinsk, theo báo cáo và hình ảnh được Exilenova+ chia sẻ. Hiện tượng này tương tự như những gì đã xảy ra ở Perm vào cuối tháng 4 sau khi máy bay điều khiển từ xa đốt cháy một trạm bơm của Transneft, và ở Tuapse khi một nhà máy lọc dầu và kho chứa của nó bị cháy.

[Kyiv Independent: Ukrainian drones torch Russia’s strategic wartime fuel reserves in Rybinsk and explosives-linked chemical plant in Tula Oblast]

2. Máy bay điều khiển từ xa của Ukraine tấn công Dzhankoi khi đơn vị tấn công tuyên bố truy lùng lực lượng hậu cần của Nga tại Crimea.

Đêm 13 tháng 6, máy bay điều khiển từ xa của Ukraine đã tấn công trạm kiểm soát Dzhankoi, một cây cầu hỏa xa, một cầu phao của Nga và các xe tải ở Chonhar, nhắm vào bốn mục tiêu dọc theo hành lang đường bộ duy nhất giữa Crimea bị Nga tạm chiếm và mặt trận phía nam. Giao thông hướng tới trạm kiểm soát Dzhankoi đã bị chặn lại, nhà lãnh đạo vùng Kherson do Nga bổ nhiệm, Vladimir Saldo, cho biết trên Telegram, đồng thời khẳng định hệ thống phòng không Nga đã bắn hạ 25 máy bay điều khiển từ xa của Ukraine trong đêm.

Cuộc tấn công đánh dấu sự thay đổi rõ rệt trong chiến lược tác chiến của Ukraine. Trung đoàn xung kích độc lập số 1 mang tên Dmytro Kotsiubailo, đơn vị dẫn đầu chiến dịch phối hợp với Trung đoàn xung kích độc lập số 475 “CODE 9.2”, tuyên bố sẽ chuyển từ các cuộc tấn công đơn lẻ vào chính các cây cầu sang tuần tra liên tục toàn bộ tuyến đường hậu cần. “Chúng tôi đang chuyển sang tuần tra tuyến đường hậu cần của địch từ Crimea bị tạm chiếm tạm thời và ngăn chặn các nỗ lực khôi phục các tuyến đường vượt sông”, trung đoàn cho biết trong một tuyên bố đăng trên Facebook. “Lưu lượng phà qua lại thấp. Xe tải ùn tắc, trở thành mục tiêu dễ dàng cho chúng tôi”. Nhiên liệu và đạn dược của Nga cung cấp cho mặt trận phía nam của Nga đi qua hành lang này.

Trạm kiểm soát Dzhankoi kiểm soát tuyến đường chính giữa phía bắc Crimea và đất liền tỉnh Kherson, đồng thời là nút giao thông đường bộ và hỏa xa nhộn nhịp nhất ở Crimea bị tạm chiếm. Ông Saldo cũng cho biết một cây cầu giữa Henichesk và bán đảo Arabat, một điểm vượt biên thay thế mà Ukraine đã tấn công lần đầu vào ngày 10 tháng 6, lại bị tấn công vào đêm qua. Lực lượng Ukraine không xác nhận tuyên bố của ông Saldo về vụ tấn công bằng máy bay.

Cầu Chonhar — tuyến xa lộ chính nối Crimea và vùng Kherson bị tạm chiếm — lần đầu tiên bị tấn công vào ngày 7 tháng 6 bởi trung tâm tác chiến đa lĩnh vực Falanga của hai trung đoàn, sử dụng máy bay điều khiển từ xa của đại đội Fire Point và UAV tầm xa “Behemoth”. Giao thông đã được chuyển hướng, sau đó lại bị đình trệ sau cuộc tấn công thứ hai vào ngày 9 tháng 6. Bốn cây cầu dành cho xe cộ ở cửa ngõ phía tây bắc Crimea gần Armiansk đã bị tấn công vào ngày 11 tháng 6, theo báo cáo của Euromaidan Press. Cuộc tấn công đêm qua vào trạm kiểm soát Dzhankoi tiếp tục mô hình này — và báo hiệu chiến dịch đã chuyển từ các cây cầu sang chính những chiếc xe tải.

Hành lang mà Ukraine hiện đang tuần tra vận chuyển nguồn cung cấp duy trì các hoạt động của Nga trên khắp miền nam Ukraine. Nhiên liệu của Nga dành cho hướng Huliaipole được vận chuyển bằng phà đến Crimea và sau đó được vận chuyển bằng xe tải băng qua bán đảo đến tiền tuyến, chỉ huy trung đoàn Dmytro Filatov, mật danh Perun, nói với Ukrainska Pravda hồi đầu tuần này. Ông cho biết, hàng hóa của Nga không được vận chuyển qua cầu Kerch - tuyến hỏa xa nối liền cầu vẫn chưa được khôi phục kể từ vụ nổ tháng 10 năm 2022. Tình báo mạng bên trong các mạng lưới quân sự của Nga hiện cho phép các nhà hoạch định chiến lược Ukraine tấn công vào các đơn vị cụ thể đang chờ nhiên liệu, Filatov nói thêm. Lữ đoàn Bộ binh Cơ giới số 37 là mục tiêu của cuộc tấn công Chonhar ngày 7 tháng 6, ông cho biết. Xe tải được đặt hàng cho lữ đoàn đó vẫn chưa đến vào thời điểm ông được phỏng vấn.

[Europe Maidan: Ukrainian drones hit Dzhankoi as strike unit declares hunt on Russian Crimea logistics]

3. Chỉ huy quân đội Đức cảnh báo Nga có thể đưa mối đe dọa hạt nhân lên vũ trụ.

Tư lệnh không gian quân sự hàng đầu của Đức cho biết ông không thể loại trừ khả năng Nga đang nghiên cứu công nghệ đưa đầu đạn hạt nhân vào không gian, đồng thời cảnh báo rằng động thái như vậy có thể làm tê liệt các dịch vụ vệ tinh và khiến một số khu vực quỹ đạo không thể sử dụng được trong nhiều thập niên.

“Ở mức độ leo thang cao nhất, có nghi ngờ rằng Nga có thể đang nghiên cứu công nghệ để đưa một thiết bị nổ hạt nhân lên quỹ đạo”, Thiếu tướng Michael Traut, chỉ huy Bộ Tư lệnh Không gian Bundeswehr, cho biết trong một cuộc phỏng vấn với POLITICO tại triển lãm hàng không ILA Berlin.

Khi được hỏi liệu ông có cho rằng điều đó là khả thi hay không, Traut trả lời: “Tôi không thể loại trừ khả năng đó.”

Một vụ nổ hạt nhân trong không gian sẽ không giống như một cuộc tấn công thông thường trên Trái đất. Nhưng hậu quả của nó có thể rất tàn khốc đối với các xã hội hiện đại và quân đội dựa vào vệ tinh để liên lạc, định vị, ngân hàng, vận tải, dự báo thời tiết và tấn công quân sự.

“Nếu một sự việc tương tự như Starfish Prime xảy ra ngày nay,” Traut nói, đề cập đến vụ thử hạt nhân ở độ cao lớn năm 1962 của Mỹ, “thì có thể có tới một phần ba số vệ tinh trên quỹ đạo Trái đất tầm thấp” ngừng hoạt động trong những tuần và tháng tiếp theo.

Ông cảnh báo rằng điều đó sẽ làm trầm trọng thêm vấn đề rác thải vũ trụ và làm tăng nguy cơ va chạm dây chuyền - hiệu ứng Kessler. Ông nói: “Thậm chí có thể xảy ra trường hợp một số độ cao quỹ đạo nhất định sẽ không còn sử dụng được trong nhiều thập niên.”

Lời cảnh báo được đưa ra trong bối cảnh Berlin đang hướng tới việc biến không gian vũ trụ thành trụ cột trung tâm trong chính sách quốc phòng của mình. Chiến lược an ninh không gian mới của Đức nêu rõ rằng quân đội Đức không chỉ phải bảo vệ được quyền tiếp cận không gian của Đức và các đồng minh, mà còn phải hạn chế khả năng sử dụng không gian của đối phương.

Ông Traut cho biết các mối đe dọa trong không gian đã “phát triển mạnh mẽ” trong những năm gần đây, từ gây nhiễu GPS và tia laser đến các cuộc tấn công vật lý vào vệ tinh. Ở mức độ thấp hơn, ông nói, sự gián đoạn điện từ và nhiễu laser đã trở thành hiện thực hàng ngày. “Ví dụ điển hình nhất là việc gây nhiễu GPS ở khu vực Baltic”, ông nói thêm rằng điều này ảnh hưởng đến hàng không dân dụng và giao thông hàng hải.

Ông lập luận rằng, phản ứng của Đức không thể nào dè dặt.

“Bạn không thể bước vào đấu trường chỉ với một tấm khiên,” Traut nói. “Một biện pháp răn đe hiệu quả luôn cần có yếu tố chủ động, tấn công.”

Ông nhấn mạnh rằng “tấn công không có nghĩa là hung hăng”, nhưng ông nói rằng Đức phải có khả năng nắm bắt thế chủ động trong một cuộc xung đột. Điều đó bao gồm hành động chống lại các hệ thống không gian của đối phương — không nhất thiết phải trên quỹ đạo, mà là trên toàn bộ cơ sở hạ tầng rộng lớn hơn giúp vệ tinh hoạt động, từ các trạm mặt đất đến các thiết bị gây nhiễu.

Ông cho biết, Đức sẽ mua các hệ thống phi động năng bao gồm thiết bị gây nhiễu và laser, cũng như các vệ tinh trinh sát và, về lâu dài, các máy bay không gian để bảo vệ các vệ tinh của Đức, trinh sát các hệ thống của đối phương và có khả năng hành động chống lại chúng.

Berlin cũng đang lên kế hoạch cho một hệ thống vệ tinh liên lạc quân sự độc lập mang tên SATCOMBw 4, được thiết kế để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của quân đội Đức về kết nối an toàn.

Ông Traut cho biết hệ thống này không nên được coi là đối thủ cạnh tranh với mạng lưới kết nối an toàn IRIS² của Liên Hiệp Âu Châu. “Chúng tôi không coi IRIS² là đối thủ cạnh tranh, mà là một sự bổ sung mang tính hỗ trợ”, ông nói, đồng thời cho biết thêm rằng mạng lưới vệ tinh riêng của Đức cũng sẽ giảm bớt áp lực cho hệ thống của Liên Hiệp Âu Châu và dành nhiều băng thông hơn cho các hệ thống khác.

Đức cũng muốn các đối tác có thể sử dụng mạng lưới tương lai. Ông Traut cho biết mục tiêu là “đưa càng nhiều đối tác Âu Châu càng tốt vào chung một hệ thống”, đặc biệt là các quốc gia không thể hoặc không muốn tự xây dựng hệ thống vệ tinh riêng của mình.

[Politico: German commander warns Russia may take nuclear threat into space]

4. Tổng thống Zelenskiy cho biết Nga đã bắn gần 2.000 máy bay điều khiển từ xa vào Ukraine trong một tuần.

Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskiy ngày 14 tháng 6 cho biết lực lượng Nga đã phóng gần 2.000 máy bay điều khiển từ xa tấn công vào Ukraine trong tuần qua.

Nhìn chung, Nga đã phóng 1.920 máy bay điều khiển từ xa chiến đấu, 1.790 quả bom dẫn đường và 17 hỏa tiễn các loại, ông cho biết.

“Chúng ta cần tăng cường các biện pháp đối phó với những cuộc tấn công này. Chúng tôi đang chuẩn bị các cuộc họp với các đối tác để tăng cường khả năng phòng thủ chống lại chủ nghĩa khủng bố Nga này”, Tổng thống Zelenskiy cho biết.

Ông lưu ý rằng các hội nghị thượng đỉnh G7, Liên Hiệp Âu Châu và NATO sắp tới là cơ hội để đạt được những quyết định cụ thể.

Tổng thống Zelenskiy nói: “Trước hết và trên hết, chúng ta cần sự hỗ trợ cho hệ thống phòng không và khả năng tầm xa của mình, mở rộng hợp tác theo khuôn khổ Thỏa thuận Máy bay điều khiển từ xa, và tăng cường hơn nữa áp lực trừng phạt đối với Nga”.

Ukraine tiếp tục đối mặt với tình trạng thiếu hụt trầm trọng các hệ thống phòng thủ chống hỏa tiễn đạn đạo trong bối cảnh các cuộc tấn công quy mô lớn của Nga ngày càng dựa nhiều vào hỏa tiễn đạn đạo.

Hỏa tiễn đánh chặn PAC-3 Patriot do Mỹ sản xuất vẫn là hệ thống hiệu quả nhất để chống lại những mối đe dọa này.

[Kyiv Independent: Russia fired nearly 2,000 drones at Ukraine in one week, Zelensky says]

5. Máy bay phản lực Thụy Điển chặn máy bay Nga trong 2 vụ việc riêng biệt.

Hôm Chúa Nhật, 14 Tháng Sáu, Đề đốc Ewa Skoog Haslum, chỉ huy các hoạt động của quân đội Thụy Điển cho biết quân đội nước này đã điều động các máy bay chiến đấu JAS 39 Gripen vào ngày hôm trước để chặn các máy bay quân sự Nga dường như đang bay gần biên giới Thụy Điển.

Quân đội Thụy Điển cho biết trong một tuyên bố rằng đã có hai sự việc riêng biệt vào thứ Sáu khi các máy bay chiến đấu Su-24 và Su-34 của Nga bay trong khu vực Biển Baltic, nhưng không hề xâm phạm không phận Thụy Điển.

Ông cho biết trong một tuyên bố: “Hành động của Nga rất nghiêm trọng và là hành vi tái diễn, đe dọa toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của chúng ta. Máy bay chiến đấu của Thụy Điển và đồng minh đã hành động nhanh chóng, kiên quyết và rõ ràng bằng cách đối đầu với máy bay Nga và bảo vệ lãnh thổ của Thụy Điển và liên minh.”

Sau khi gia nhập NATO năm 2024, Thụy Điển đã trở thành mục tiêu chính của các hành động khiêu khích từ Điện Cẩm Linh khi một loạt các sự việc quân sự — máy bay điều khiển từ xa trái phép xâm nhập không phận và tàu ngầm Nga bị phát hiện gần biên giới biển của nước này — tập trung vào Biển Baltic kể từ khi Nga tiến hành cuộc xâm lược toàn diện Ukraine năm 2022.

Cùng ngày xảy ra các sự kiện, chính phủ Thụy Điển đã cảnh báo trong một báo cáo quốc phòng rằng họ “nhận thấy nguy cơ cuộc đối đầu giữa Nga và Âu Châu sẽ leo thang hơn nữa”.

Việc máy bay Nga quấy rối không phận NATO đã trở thành chuyện thường tình trong những năm gần đây. Tháng 3 vừa qua, Canada và Mỹ đã điều máy bay chiến đấu để chặn hai máy bay quân sự Nga bay quá gần không phận Alaska.

[Politico: Swedish jets intercept Russian aircraft in 2 separate incidents]

6. Nhà sản xuất máy bay điều khiển từ xa Skyfall của Ukraine hợp tác với Airbus trong lĩnh vực đổi mới quốc phòng.

Theo thông cáo báo chí của Airbus được công bố ngày 12 tháng 6, nhà sản xuất máy bay điều khiển từ xa Skyfall của Ukraine đã khởi động quan hệ đối tác chiến lược với Airbus Defense and Space.

Airbus Defense and Space, có trụ sở chính tại Đức, phát triển và sản xuất máy bay quân sự, máy bay điều khiển từ xa và hỏa tiễn đạn đạo. Là một bộ phận của tập đoàn hàng không vũ trụ khổng lồ Airbus của Âu Châu, đây là công ty vũ trụ lớn thứ hai trên thế giới.

Skyfall và Airbus Defense and Space đã ký một biên bản ghi nhớ bên lề triển lãm ILA Berlin tại thủ đô nước Đức, với sự hiện diện của Bộ trưởng Quốc phòng Đức Boris Pistorius.

Bản ghi nhớ này đánh dấu sự khởi đầu của một quan hệ đối tác chiến lược nhằm tăng cường “bảo vệ không phận Ukraine trước các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa và hỏa tiễn và… đẩy nhanh hệ sinh thái quốc phòng Âu Châu bằng cách kết hợp chuyên môn quốc phòng hệ thống rộng lớn của phương Tây với sự linh hoạt về công nghệ đã được chứng minh trong chiến đấu.”

Skyfall đã nhanh chóng tăng cường sản xuất kể từ khi ra mắt vào tháng 6 năm 2022, chỉ vài tháng sau khi Nga tiến hành cuộc xâm lược toàn diện. Công ty này nổi tiếng với việc sản xuất máy bay điều khiển từ xa Vampire bay đêm — được binh lính Nga đặt biệt danh là “Baba Yaga” — cũng như máy bay điều khiển từ xa góc nhìn thứ nhất, gọi tắt là FPV Shrike.

[Kyiv Independent: Ukrainian drone maker Skyfall partners with Airbus on defense innovation]

7. Dòng thời gian mà Hegseth đưa ra cho eo biển Hormuz có phần không rõ ràng.

Hôm Chúa Nhật, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth không đưa ra mốc thời gian cụ thể cho việc mở lại eo biển Hormuz và chấm dứt lệnh phong tỏa của Mỹ tại khu vực này.

Trong một cuộc phỏng vấn trên chương trình “Face the Nation” của đài CBS, Hegseth tuyên bố rằng tuyến đường thủy sẽ được mở cửa trở lại “ngay lập tức” sau khi ký kết bản ghi nhớ mới được công bố giữa Mỹ và Iran. Tuy nhiên, chỉ vài phút sau, ông đã đưa ra một mốc thời gian không rõ ràng lắm về việc phong tỏa Iran.

“Cuối cùng thì lệnh phong tỏa sẽ vẫn được duy trì cho đến khi eo biển mở cửa,” Hegseth nói. “Và sau đó lệnh phong tỏa sẽ được dỡ bỏ, rồi eo biển cũng sẽ mở cửa. Và dù quá trình đó mất 30 ngày hay hai tuần để hoàn tất, nhưng nó sẽ bắt đầu ngay lập tức, như tổng thống đã nói.”

Eo biển Hormuz là điểm mấu chốt gây tranh cãi giữa Mỹ và Iran trong suốt các cuộc đàm phán. Iran bắt đầu phong tỏa các tàu thuyền ra vào tuyến đường thủy này ngay sau khi chiến tranh bắt đầu vào tháng Hai, bao gồm cả việc sử dụng thủy lôi. Trên thực tế, giá dầu đã tăng mạnh. Sau khi Mỹ và Tehran không thể đạt được thỏa thuận ngừng bắn vĩnh viễn dẫn đến việc mở cửa lại eo biển, Tổng thống Trump vào tháng Tư đã ra lệnh cho Hải quân Mỹ “bắt đầu quá trình phong tỏa bất kỳ và tất cả các tàu thuyền cố gắng ra vào eo biển Hormuz”.

Tổng thống Trump khẳng định sẽ không có thỏa thuận hòa bình nào nếu Iran không mở cửa hoàn toàn eo biển, mặc dù ông cũng nói rằng Mỹ đang kiểm soát tuyến đường thủy này.

Hôm thứ Bảy, tổng thống đã thông báo về bản ghi nhớ sắp được ký kết trong một bài đăng trên mạng xã hội. Mặc dù ông không cung cấp nhiều chi tiết về các cuộc đàm phán, nhưng ông tuyên bố eo biển sẽ được mở cửa trở lại “ngay sau khi được ký kết”.

Tuy nhiên, các quan chức Iran vẫn chưa xác nhận lập trường của họ về thỏa thuận này, và những câu hỏi bắt đầu xoay quanh tương lai của thỏa thuận sau khi Israel tuyên bố quân đội nước này đã tấn công các mục tiêu của Hezbollah ở Beirut hôm Chúa Nhật.

Tuy nhiên, Hegseth bảo đảm với CBS rằng “chúng tôi đang đi đúng hướng” để việc ký kết diễn ra vào Chúa Nhật - và chính Tổng thống Trump đã lên án các cuộc tấn công.

“Vụ tấn công vào Beirut sáng nay lẽ ra không nên xảy ra, đặc biệt là vào một ngày trọng đại khi chúng ta đang rất gần đạt được Thỏa thuận Hòa bình với Iran”, Tổng thống Trump nói. Tổng thống Trump nói thêm rằng Israel có “quyền tự vệ trước các mối đe dọa”, nhưng khẳng định mối đe dọa này “rất nhỏ và vô nghĩa, không ai bị thương, bị thiệt mạng”.

Ông kêu gọi các bên không để các cuộc tấn công “làm gián đoạn quá trình quan trọng này”.

“Chúng ta đang rất gần một thỏa thuận sẽ mang lại hòa bình cho khu vực, bao gồm cả Li Băng, và tất cả các bên nên ngừng xung đột”, Tổng thống Trump nói. “Không nên có thêm bất kỳ cuộc tấn công nào của Israel ở bất cứ đâu tại Li Băng, nhưng cũng không nên có thêm bất kỳ cuộc tấn công nào của bất kỳ bên nào khác, kể cả Hezbollah, chống lại Israel. Đây có thể là khởi đầu của một nền hòa bình lâu dài và tốt đẹp — Đừng để phá hỏng nó!”

[Politico: Hegseth's timeline for Strait of Hormuz is a bit murky]

8. Bộ trưởng Năng lượng Mỹ cho biết quân đội đang hộ tống ngày càng nhiều tàu chở dầu đi qua eo biển Hormuz.

Bộ trưởng Năng lượng Mỹ Chris Wright cho biết quân đội Mỹ đang hộ tống các tàu chở khoảng 7 triệu thùng dầu thô và các sản phẩm nhiên liệu mỗi ngày đi qua eo biển Hormuz.

Lượng dầu đó sẽ đưa nguồn cung dầu chảy qua eo biển Hormuz lên khoảng một nửa so với trước khi Mỹ và Israel bắt đầu tấn công Iran vào tháng Hai. Khối lượng dầu được hộ tống ra khỏi khu vực đang tăng lên, ông Wright nói thêm khi phát biểu tại Hội nghị Điều hành An ninh Năng lượng Bloomberg ở Houston hôm Thứ Bẩy, 13 Tháng Sáu.

Ông Wright cho biết, trước chiến tranh, khoảng 20 triệu thùng dầu mỗi ngày được vận chuyển qua Vịnh Ba Tư qua eo biển. Khoảng 5 triệu thùng trong số đó đã chuyển sang vận chuyển bằng đường ống và các phương tiện vận tải khác, và sản lượng ở phần còn lại của thế giới đã tăng khoảng 1 triệu thùng, ông nói thêm, tạo ra khoảng thiếu hụt khoảng 14 triệu thùng.

“Lưu lượng nước hiện nay đang tiến gần đến một nửa khoảng cách và đang tăng lên,” Wright nói tại sự kiện.

Tình hình cuộc chiến giữa Mỹ và Iran ngày càng trở nên mơ hồ, khi Tổng thống Trump hồi đầu tuần tuyên bố Mỹ sẽ tiến hành thêm các cuộc tấn công quân sự nhằm vào nước này, rồi lại rút lại ý kiến đó, sau đó lại ám chỉ một thỏa thuận có thể được ký kết vào cuối tuần này và gần đây nhất là nói rằng các nhà đàm phán Iran là “những người rất thiếu trung thực”.

Giá dầu và xăng tăng vọt sau khi Iran gần như đóng cửa eo biển Hormuz đối với giao thông đã gây khó khăn cho chính quyền Trump và đảng Cộng hòa, những người hy vọng giữ vững quyền kiểm soát Quốc hội sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ mà cử tri sẽ phải đối mặt với những lo ngại về chi phí sinh hoạt cao. Lạm phát đã đạt 4,2% trong tháng 5, theo báo cáo của Bộ Lao động hồi đầu tuần này, do giá năng lượng tăng cao.

Ông Wright cho biết, các tàu hộ tống hải quân cho thấy chính quyền đang đạt được hai mục tiêu song song là kiểm soát giá năng lượng đồng thời ngăn chặn Iran sở hữu vũ khí hạt nhân.

“Chúng ta đang phải sống chung với giá năng lượng cao hơn,” ông nói. “Mọi người không nghĩ đến những vấn đề dài hạn này.”

Ông Wright cho biết chính quyền đang xem xét các lựa chọn khác, bao gồm cả việc rút thêm tiền từ Kho Dự trữ Dầu mỏ Chiến lược. Ông nói thêm rằng việc miễn thuế xăng dầu “là khả thi”, mặc dù điều đó sẽ cần sự chấp thuận của Quốc hội.

“Tất cả những vấn đề này đều có sự đánh đổi,” ông nói. “Mục tiêu quan trọng nhất là giảm chi phí cho tất cả người dân Mỹ.”

[Politico: US military escorting growing number of oil tankers through Hormuz, Energy secretary says]

9. Hãng sản xuất hỏa tiễn Storm Shadow, MBDA, và công ty Ukrainian Armor hợp tác phát triển hệ thống tấn công tầm xa và chống máy bay điều khiển từ xa.

Nhà sản xuất hệ thống hỏa tiễn Âu Châu MBDA và công ty quốc phòng Ukraine Ukrainian Armor đã ký một biên bản ghi nhớ để nghiên cứu phát triển chung các hệ thống tấn công tầm xa và hệ thống chống máy bay điều khiển từ xa (C-UAS), đánh dấu một giai đoạn hợp tác công nghiệp mới liên quan đến cuộc chiến ở Ukraine, MBDA thông báo vào ngày 10 tháng 6.

MBDA mở rộng hợp tác với ngành công nghiệp quốc phòng của Ukraine

MBDA là một trong những công ty quốc phòng hàng đầu Âu Châu, chuyên về hệ thống hỏa tiễn dẫn đường trên không, trên bộ và trên biển. Công ty này cũng là nhà sản xuất hỏa tiễn hành trình Storm Shadow / SCALP-EG, loại hỏa tiễn đã được các đối tác Âu Châu cung cấp cho Ukraine để thực hiện các nhiệm vụ tấn công tầm xa.

Ukrainian Armor là một nhà sản xuất quốc phòng nội địa của Ukraine, chuyên sản xuất xe thiết giáp, hệ thống pháo binh, đạn dược và các nền tảng điều khiển từ xa, và đã mở rộng đáng kể kể từ khi Nga bắt đầu cuộc xâm lược toàn diện.

Thỏa thuận này vạch ra khuôn khổ hợp tác lâu dài, bao gồm các dự án phát triển chung, trao đổi công nghệ và các sáng kiến sản xuất chung tiềm năng, với khả năng thành lập liên doanh trong tương lai.

Trọng tâm được đặt vào hai lĩnh vực ưu tiên: khả năng “tấn công sâu” để thực hiện các cuộc tấn công chính xác tầm xa, và các hệ thống chống máy bay điều khiển từ xa được thiết kế để phát hiện và vô hiệu hóa máy bay điều khiển từ xa, vốn đã trở thành yếu tố then chốt trong động thái chiến trường ở Ukraine.

Ukraine tăng cường sản xuất quốc phòng trong nước với chuyên môn của Âu Châu.

MBDA cho biết sự hợp tác này nhằm mục đích giúp tăng cường năng lực công nghiệp độc lập của Ukraine, đồng thời tận dụng kinh nghiệm của Âu Châu trong các hệ thống hỏa tiễn và phòng không tiên tiến. Ukrainian Armor sẽ đóng góp năng lực sản xuất và kinh nghiệm vận hành trong các lĩnh vực xe thiết giáp, đạn dược và hệ thống điều khiển từ xa được phát triển trong điều kiện chiến tranh.

Cả hai bên đều cho biết sự hợp tác này nhằm mục đích kết hợp chuyên môn công nghệ của Âu Châu với những đổi mới dựa trên kinh nghiệm thực tiễn của Ukraine, tạo ra một khuôn khổ cho sự hội nhập công nghiệp quốc phòng sâu rộng hơn.

[Europe Maidan: Storm Shadow maker MBDA and Ukrainian Armor launch partnership to develop deep strike and anti-drone systems]

10. Ông Macron muốn G7 giải quyết vấn đề Trung Quốc. Bắc Kinh không hợp tác.

Tổng thống Pháp Emmanuel Macron muốn hội nghị thượng đỉnh G7 tập trung vào việc giải quyết vấn nạn hàng xuất khẩu trợ cấp tràn lan từ Trung Quốc đang gây rối loạn thị trường toàn cầu, nhưng ngay cả trước khi các nhà lãnh đạo gặp nhau, rõ ràng là ông sẽ không thể đạt được hành động cụ thể nào.

Cuộc thảo luận về sự mất cân bằng toàn cầu vào thứ Hai, ngày đầu tiên của cuộc họp do Macron chủ trì tại Evian, khó có thể đưa ra câu trả lời cho vấn đề này, khi Bắc Kinh tỏ thái độ không mấy thiện cảm với sáng kiến G7 và người Âu Châu cùng người Mỹ có những quan điểm khác nhau về cách kiềm chế thặng dư thương mại 1,2 ngàn tỷ đô la của Trung Quốc.

Hôm thứ Năm, Macron đã chủ trì một hội nghị được gọi là “Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Hội tụ vì Tăng trưởng” để thảo luận về sự mất cân bằng kinh tế vĩ mô giữa các đại diện của các nước G7 và Bắc Kinh.

Nhưng đây không phải là cuộc gặp mặt trực tiếp; đó là một cuộc họp trực tuyến chỉ có sự tham gia của một số ít các nhà lãnh đạo G7 — bao gồm Thủ tướng Đức Friedrich Merz và Thủ tướng Canada Mark Carney. Phó Thủ tướng Trung Quốc Trương Quốc Khánh, người không chịu trách nhiệm trực tiếp về chính sách thương mại, đã tham gia và truyền đạt quan điểm của đảng về lợi ích của “chủ nghĩa đa phương thực sự”.

Văn phòng của Macron nhanh chóng mô tả cuộc gọi video với Trung Quốc là một thắng lợi tự thân, với một quan chức Điện Élysée nhận xét đó là bằng chứng cho thấy “hội nghị thượng đỉnh G7 này đã là một thành công”.

Điện Élysée cho biết, các bên tham gia đã đồng ý về sự cần thiết phải giải quyết những bất ổn toàn cầu và tiếp tục thảo luận ở cấp độ G20 với sự hỗ trợ từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế.

Nếu kết quả chính là sự đồng thuận rằng một vấn đề tồn tại và cần được thảo luận ở nơi khác, thì điều đó đặt ra câu hỏi tại sao Macron lại chọn biến nó thành trọng tâm của một diễn đàn mà Trung Quốc thậm chí không phải là thành viên.

“Rõ ràng là họ gặp khó khăn trong việc đạt được sự đồng thuận về nhiều vấn đề,” nhà kinh tế học Agathe Demarais, đồng chủ tịch nhóm chuyên gia T7 cố vấn cho chủ tịch G7, cho biết. Bà dự đoán sẽ không có bước đột phá nào trong việc kiềm chế Trung Quốc tại hội nghị thượng đỉnh bên hồ ở Evian-les-Bains.

“Rõ ràng Trung Quốc không hề có hứng thú tham gia thảo luận với G7 về vấn đề này,” bà Demarais, một chuyên gia chính sách cao cấp tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại Âu Châu, cho biết. Bà nói thêm rằng Trung Quốc “sẽ không thay đổi toàn bộ mô hình kinh tế của mình để làm hài lòng chủ tịch G7 của Pháp.”

Trong cuộc gọi, theo bản ghi âm cuộc họp trực tuyến bằng tiếng Trung, ông Trương “kêu gọi ưu tiên phát triển, cải thiện quản trị toàn cầu và thúc đẩy tăng trưởng toàn diện của nền kinh tế thế giới”, nhưng không đề cập rõ ràng đến việc giải quyết sự mất cân bằng kinh tế vĩ mô mà các chính phủ phương Tây cho là nguyên nhân gây ra sự suy giảm sản lượng công nghiệp và việc làm.

Một quan chức phi chính phủ được thông báo về công tác chuẩn bị cho hội nghị thượng đỉnh G7 nhận định động thái chủ trì của Pháp là một “cử chỉ hòa giải” với Trung Quốc, nhưng thừa nhận rằng G7 không phải là hình thức tốt nhất để gây áp lực buộc Trung Quốc thay đổi chính sách thương mại của mình.

Bằng việc cử ông Trương tham gia cuộc gọi, Bắc Kinh cũng đã sử dụng thủ tục ngoại giao để gửi đi thông điệp rằng họ không coi trọng cuộc thảo luận này.

“Việc giao nhiệm vụ cho một phó thủ tướng tất nhiên sẽ làm giảm tầm quan trọng của vấn đề này,” Elvire Fabry, một chuyên gia thương mại tại viện nghiên cứu Jacques Delors ở Paris, cho biết.

Âu Châu cứng rắn hơn lập trường của mình

Trong vai trò trung gian hòa giải với tư cách chủ tịch G7, Pháp đã tránh công khai chỉ trích Trung Quốc, định hướng cuộc thảo luận xoay quanh khái niệm trung lập về sự mất cân bằng toàn cầu và lưu ý rằng Mỹ cũng có vai trò của mình bằng cách giảm thâm hụt ngân sách và Liên Hiệp Âu Châu bằng cách thúc đẩy đầu tư.

Tuy nhiên, Pháp từ lâu đã là quốc gia ủng hộ mạnh mẽ nhất các biện pháp của Liên Hiệp Âu Châu nhằm giải quyết thâm hụt thương mại của khối với Trung Quốc, vốn đã mở rộng lên 360 tỷ euro vào năm ngoái và tiếp tục tăng trong quý đầu tiên của năm 2026.

Paris đã dẫn đầu lời kêu gọi của 5 quốc gia Liên Hiệp Âu Châu về các biện pháp phòng vệ thương mại mới để đối phó với sự thống trị xuất khẩu của Trung Quốc, và Macron gần đây đã thúc giục Liên Hiệp Âu Châu tự trao cho mình những quyền lực thương mại mạnh mẽ hơn, theo kiểu Mỹ, để đối đầu với Trung Quốc.

“Đây không phải là chủ nghĩa bảo hộ, mà là sự bảo hộ công bằng”, Tổng thống Pháp nói với các công nhân nhà máy sản xuất lốp xe trong chuyến thăm quê nhà Amiens tuần này, đồng thời kêu gọi áp thuế và các biện pháp ưu đãi của Âu Châu để đối phó với sự cạnh tranh từ Trung Quốc.

Ngay cả Thủ tướng Friedrich Merz của Đức, người trước đây từng phản đối việc đối đầu với Bắc Kinh để tránh làm tổn hại nền kinh tế định hướng xuất khẩu của mình trước sự trả đũa của Trung Quốc, giờ đây cũng tỏ ra cởi mở hơn đối với các biện pháp cứng rắn hơn đối với Trung Quốc.

Ủy ban Âu Châu đã cam kết hành động để khắc phục “tình trạng thâm hụt thương mại không bền vững với Trung Quốc”, như Cao ủy Thương mại Liên Hiệp Âu Châu Maroš Šefčovič đã phát biểu hồi đầu tháng này. Các cuộc thảo luận đó sẽ nằm trong chương trình nghị sự tại cuộc họp của các nhà lãnh đạo Liên Hiệp Âu Châu ở Brussels vào thứ Năm ngay sau hội nghị thượng đỉnh G7.

Tuy nhiên, hiện chưa có dấu hiệu nào cho thấy Âu Châu và Mỹ sẵn sàng phối hợp các chính sách của họ đối với Trung Quốc, trong bối cảnh căng thẳng thương mại xuyên Đại Tây Dương vẫn tiếp diễn.

“Nếu họ muốn làm những việc mà chúng ta đã làm, thì cứ việc,” Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Jamieson Greer nói vào cuối tháng trước. “Tôi sẽ không chậm lại để chờ họ xem liệu chúng ta có thể phối hợp với nhau về một vấn đề nào đó hay không.”

[Kyiv Post: Macron wants the G7 to tackle China. Beijing isn’t playing along.]

11. Việc tách rời an ninh quốc phòng không còn chỉ là nỗi lo của Âu Châu nữa mà đã trở thành chính sách của Tổng thống Trump.

Ivo Daalder, cựu đại sứ Mỹ tại NATO, là nghiên cứu viên cao cấp tại Trung tâm Belfer thuộc Đại học Harvard và là người dẫn chương trình podcast hàng tuần “World Review with Ivo Daalder”. Ông viết chuyên mục “From Across the Pond” cho báo POLITICO.

Ông vừa có bài viết nhan đề “Defense decoupling is no longer just a European fear — it’s Trump’s policy”, nghĩa là “Việc tách rời quốc phòng không còn chỉ là nỗi lo âu của Âu Châu – Nó là chính sách của Trump”. Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Thụy Khanh.

Khi tin tức lan truyền rằng Ngũ Giác Đài sẽ không bán hỏa tiễn Tomahawk tầm xa cho Đức, điều đó cho thấy Washington có thể lo ngại Mạc Tư Khoa sẽ coi khả năng này trong tay Âu Châu là một sự leo thang nguy hiểm.

Động thái này diễn ra sau hàng loạt dấu hiệu tương tự về việc Mỹ rút lui khỏi NATO trong nhiều tuần qua, bao gồm quyết định rút 5.000 binh sĩ khỏi Đức, tạm dừng kế hoạch triển khai một tiểu đoàn Mỹ được trang bị hỏa tiễn Tomahawk, và cắt giảm mạnh các đóng góp dự kiến của Mỹ về máy bay ném bom, máy bay chiến đấu, tàu khu trục, tàu ngầm và các lực lượng khác cần thiết để tăng cường khả năng phòng thủ của NATO trong trường hợp khủng hoảng hoặc bị tấn công.

Ngũ Giác Đài tuyên bố những bước đi này là cần thiết để cân bằng lại sự đóng góp của Âu Châu và Mỹ vào quốc phòng của lục địa, nhưng quyết định ngừng bán hỏa tiễn Tomahawk cho thấy một thực tế đáng lo ngại hơn nhiều: Washington không chỉ không còn triển khai các hệ thống tấn công chính xác tầm xa đến Âu Châu, mà còn từ chối không cho các đồng minh Âu Châu khả năng tự trang bị các hệ thống này vì lo sợ phản ứng của Nga.

Nói cách khác, Mỹ hiện đang tích cực tìm cách tách rời an ninh của mình khỏi an ninh của Âu Châu.

Đây không phải là lần đầu tiên việc tách rời trở thành vấn đề trong quan hệ xuyên Đại Tây Dương. Những lo ngại về việc tách rời này lần đầu tiên xuất hiện vào cuối những năm 1950, khi Liên Xô phát triển khả năng tấn công trực tiếp vào lãnh thổ Hoa Kỳ và một lần nữa vào giữa những năm 1970, sau khi Liên Xô triển khai hỏa tiễn đạn đạo hạt nhân SS-20 có thể vươn tới toàn bộ Âu Châu — nhưng không thể vươn tới Hoa Kỳ.

Sau khi Thủ tướng Đức lúc bấy giờ là Helmut Schmidt kêu gọi NATO đáp trả, các nước thành viên liên minh đã đồng ý vào năm 1979 triển khai các hỏa tiễn hạt nhân tầm xa có thể vươn tới Liên Xô, đồng thời đề nghị đàm phán về giới hạn đối với loại hỏa tiễn này. Đến năm 1987, NATO đã triển khai hàng trăm hỏa tiễn hạt nhân, dẫn đến việc Washington và Mạc Tư Khoa đồng ý cấm tất cả các lực lượng hạt nhân tầm trung có tầm bắn từ 500 đến 5.000 km — bao gồm cả hỏa tiễn SS-20 của Liên Xô và các hỏa tiễn hành trình phóng từ mặt đất và hỏa tiễn Pershing II của NATO.

Hiệp ước Lực lượng Hạt nhân Tầm trung, gọi tắt là INF, được ký kết năm đó, vẫn có hiệu lực trong hơn 30 năm — cho đến năm 2019, khi chính quyền đầu tiên của Tổng thống Donald Trump quyết định rút khỏi thỏa thuận do Nga vi phạm rõ ràng các điều khoản của nó. Và các quốc gia NATO đã thảo luận về sự cần thiết phải triển khai các hỏa tiễn tầm xa có khả năng vươn tới các mục tiêu ở Nga kể từ đó.

Việc triển khai và bán hỏa tiễn Tomahawk cho Berlin nhằm mục đích lấp đầy khoảng trống đó cho đến khi Đức và các nước NATO khác có thể phát triển và triển khai các hệ thống hỏa tiễn tầm xa của riêng mình. Các nỗ lực phát triển hỏa tiễn của Âu Châu vẫn đang tiếp diễn, nhưng việc triển khai dự kiến vẫn còn nhiều năm nữa. Giờ đây, quyết định của Washington về việc ngừng bán hàng đã thực sự mở lại một lỗ hổng lớn trong chiến lược răn đe của NATO.

Hơn nữa, mặc dù nỗi lo về việc tách rời đã ăn sâu vào lịch sử NATO, nhưng có sự khác biệt lớn giữa những lo ngại về việc tách rời mà Schmidt bày tỏ vào những năm 1970 và những lo ngại hiện nay. Khi đó, việc tách rời là kết quả của các hành động của Liên Xô, trong khi ngày nay đó là kết quả của các hành động của Mỹ. Thực tế, Ngũ Giác Đài dường như bị ảnh hưởng bởi những lo ngại của Nga nhiều hơn là các nhu cầu răn đe Nga của NATO.

Năm mươi năm trước, Âu Châu lo sợ Mỹ rút quân. Ngày nay, khi Washington chuyển sự chú ý và năng lực của mình sang các chiến trường khác, việc rút quân đã trở thành chính sách rõ ràng của Mỹ. Và trong khi việc chấm dứt điều mà Tư lệnh tối cao của NATO tại Âu Châu, Alexus G. Grynkewich, gọi là “sự phụ thuộc lẫn nhau không lành mạnh” vào năng lực của Mỹ có thể là điều cần thiết, thì việc tước đoạt khả năng tự vệ của các đồng minh Âu Châu lại là một vấn đề hoàn toàn khác.

Thời điểm các quyết định của Mỹ được đưa ra lại càng trớ trêu, nó diễn ra sau nhiều tuần chính quyền Trump phàn nàn rằng NATO đã không làm đủ để hỗ trợ Mỹ và Israel trong cuộc chiến chống Iran. Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio cho rằng NATO đã trở thành “con đường một chiều, nơi Mỹ chỉ đơn thuần đóng vai trò bảo vệ Âu Châu”, nhưng các đồng minh lại không đáp lại.

Tuy nhiên, khi Âu Châu đứng lên để tự vệ — thậm chí còn yêu cầu mua thiết bị của Mỹ để làm điều đó — thì câu trả lời đột nhiên lại là “không”.

Phản ứng tiêu cực đó không chỉ là vấn đề tạm thời. Nó chạm đến cốt lõi của những gì làm cho một liên minh an ninh hoạt động hiệu quả.

Lý thuyết liên minh cổ điển phân biệt giữa hai nỗi sợ: sợ bị bỏ rơi, khi một đồng minh không đến bảo vệ bạn; và sợ bị gài bẫy, khi một đồng minh kéo bạn vào chiến tranh. Tổng thống Trump và các phụ tá của ông từ lâu đã phàn nàn về việc bị Âu Châu bỏ rơi. Giờ đây, người Âu Châu lại lo sợ bị Mỹ bỏ rơi. Cả hai đều đúng — và cả hai đều đang phản ứng bằng cách tách rời nhau hơn nữa.

Trong khi Mỹ rút quân, Âu Châu đang tăng cường chi tiêu quốc phòng và xây dựng nhiều loại năng lực tấn công tầm xa – một số có khả năng sử dụng cả vũ khí thông thường và hạt nhân. Đây là những hệ thống độc lập. Mỹ sẽ không có tiếng nói liên quan đến việc khi nào hoặc bằng cách nào chúng được sử dụng. Kết quả là, Washington sẽ càng có động lực lớn hơn để cố gắng tách rời khỏi Âu Châu và tránh bị cuốn vào một cuộc chiến với Nga.

Việc tách rời không có nghĩa là Âu Châu sẽ không được bảo vệ. Điều đó có nghĩa là an ninh của Âu Châu và Mỹ không còn được coi là gắn bó chặt chẽ với nhau nữa. Washington có thể sẽ không còn tự động coi một cuộc khủng hoảng đe dọa Warsaw hay Tallinn là mối đe dọa đối với an ninh của Mỹ. Và điều đó có nghĩa là sự kết thúc của hệ thống răn đe tích hợp đã giữ gìn hòa bình trong 80 năm qua.

Schmidt hiểu rằng an ninh là một yếu tố không thể tách rời ở Âu Châu. Tổng thống Trump lại đặt cược rằng điều đó không đúng. Chúng ta sắp sửa biết ai đúng ai sai.

[Politico: Defense decoupling is no longer just a European fear — it’s Trump’s policy]

12. Bộ trưởng Quốc phòng Israel cho biết “chúng tôi kỳ vọng” Tổng thống Trump sẽ ngăn chặn Iran sở hữu vũ khí hạt nhân.

Bộ trưởng Quốc phòng Israel Katz cho biết Israel kỳ vọng Tổng thống Trump sẽ ngăn chặn Iran sở hữu vũ khí hạt nhân trong bất kỳ thỏa thuận nào đạt được với nước này, đồng thời nói thêm rằng Israel sẽ không rút quân khỏi “các khu vực an ninh” ở Li Băng.

Tổng thống Trump nói với các phóng viên hôm thứ Năm rằng một thỏa thuận đã đạt được và có khả năng sẽ được ký kết trong vài ngày tới, mặc dù Tehran cho biết họ “chưa đạt được kết luận cuối cùng” về thỏa thuận tiềm năng này.

Trong một tuyên bố hôm thứ Sáu, Katz cho biết Tổng thống Trump đang “dẫn đầu một thỏa thuận với Iran từ góc độ lợi ích của Mỹ, bao gồm cả lợi ích chung với Israel - nhằm ngăn chặn Iran sở hữu vũ khí hạt nhân.”

“Chúng tôi kỳ vọng ông ấy sẽ giữ vững nguyên tắc này, cũng như các nguyên tắc khác trong lĩnh vực hỏa tiễn và các lực lượng khủng bố ủy nhiệm,” ông nói, đồng thời cho biết thêm rằng Israel “sẽ không rút quân” khỏi những khu vực mà nước này gọi là vùng an ninh ở Li Băng, Syria và Gaza, nơi họ đã triển khai lực lượng mặt đất và buộc người dân phải di tản.

Cuối tháng 3, Katz tuyên bố sẽ thiết lập một vùng đệm ở miền nam Li Băng, kéo dài hàng dặm về phía bắc biên giới Israel, và Israel sẽ vẫn duy trì quyền kiểm soát khu vực này ngay cả khi cuộc chiến với Hezbollah do Iran hậu thuẫn kết thúc.

Vào tháng 5, Israel đã mở rộng “vùng an ninh” đến khoảng 25 dặm về phía bắc biên giới. Các quan chức Li Băng cho biết hơn một triệu người đã phải di dời.

Tổ chức Human Rights Watch hôm thứ Năm cho biết “các hành động cố ý gây ra việc di dời dân cư của Israel có thể cấu thành tội ác chiến tranh về cưỡng bức di dời”.

Cuộc chiến giữa Israel và Hezbollah là điểm mấu chốt trong các cuộc đàm phán giữa Mỹ và Iran. Iran yêu cầu bất kỳ thỏa thuận nào nhằm gia hạn lệnh ngừng bắn phải bao gồm việc chấm dứt giao tranh ở Li Băng và Gaza. Chính quyền Trump đã công khai tìm cách hạn chế các hoạt động của Israel ở Li Băng, nhưng Israel và Hezbollah vẫn tiếp tục đấu súng.

Tính đến thứ Năm, các cuộc tấn công của Israel đã khiến 3.711 người thiệt mạng tại Li Băng, trong đó có 132 nhân viên y tế và 247 trẻ em, theo Bộ Y tế Li Băng.

[CBSNews: Israeli defense chief says “we expect” Trump to prevent Iran from obtaining nuclear weapons]
 
Thánh Ca
Thánh Ca Tháng Thánh Tâm: Tựa Vào Lòng Chúa - Sáng tác: Du Dương - Trình bày: Ca Sĩ Kim Thúy
Kim Thúy
09:29 15/06/2026