Ngày 02-05-2026
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Thánh Lễ Chúa Nhật 5 Phục Sinh 3/5 dành cho những người không thể đến nhà thờ
Giáo Hội Năm Châu
02:38 02/05/2026

BÀI ĐỌC 1: Cv 6:1-7
Bài trích sách Công vụ Tông đồ.
Thời đó, khi số môn đệ thêm đông, thì các tín hữu Do-thái theo văn hoá Hy-lạp kêu trách những tín hữu Do-thái bản xứ, vì trong việc phân phát lương thực hằng ngày, các bà goá trong nhóm họ bị bỏ quên. Bởi thế, Nhóm Mười Hai triệu tập toàn thể các môn đệ và nói: “Chúng tôi mà bỏ việc rao giảng Lời Thiên Chúa để lo việc ăn uống, là điều không phải. Vậy, thưa anh em, anh em hãy tìm trong cộng đoàn bảy người được tiếng tốt, đầy Thần Khí và khôn ngoan, rồi chúng tôi sẽ cắt đặt họ làm công việc đó. Còn chúng tôi, chúng tôi sẽ chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Thiên Chúa.” Đề nghị trên được mọi người tán thành. Họ chọn ông Tê-pha-nô, một người đầy lòng tin và đầy Thánh Thần, cùng với các ông Phi-líp-phê, Pơ-rô-khô-rô, Ni-ca-no, Ti-môn, Pác-mê-na và ông Ni-cô-la, một người ngoại quê An-ti-ô-khi-a đã theo đạo Do-thái. Họ đưa các ông ra trước mặt các Tông Đồ. Sau khi cầu nguyện, các Tông Đồ đặt tay trên các ông.
Lời Thiên Chúa vẫn lan tràn, và tại Giê-ru-sa-lem, số các môn đệ tăng thêm rất nhiều, lại cũng có một đám rất đông các tư tế đón nhận đức tin.
Đó là Lời Chúa.

BÀI ĐỌC 2: 1Pr 2:4-9
Bài trích thư thứ nhất của thánh Phê-rô tông đồ.
Anh em thân mến, anh em hãy tiến lại gần Đức Ki-tô, viên đá sống động bị người ta loại bỏ, nhưng đã được Thiên Chúa chọn lựa và coi là quý giá. Hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động mà xây nên ngôi Đền Thờ thiêng liêng, và hãy để Thiên Chúa đặt anh em làm hàng tư tế thánh, dâng những lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Người, nhờ Đức Giê-su Ki-tô. Quả thật, có lời Kinh Thánh chép: Này đây Ta đặt tại Xi-on một viên đá quý được lựa chọn, làm đá tảng góc tường: kẻ tin vào đó sẽ không phải thất vọng. Vậy vinh dự cho anh em là những người tin, còn đối với những kẻ không tin, thì viên đá thợ xây loại bỏ đã trở nên đá tảng góc tường, và cũng là viên đá làm cho vấp, tảng đá làm cho ngã. Họ đã vấp ngã vì không tin vào Lời Chúa. Số phận của họ là như vậy. Còn anh em, anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người, Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền.
Đó là Lời Chúa.

TUNG HÔ TIN MỪNG Ga 14:6
Alleluia. Alleluia. Chúa nói: Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy. Alleluia.

TIN MỪNG: Ga 14:1-12
Tin mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gioan.
Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi.”
Ông Tô-ma nói với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?”
Đức Giê-su đáp: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy. Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người.”
Ông Phi-líp-phê nói: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện.”
Đức Giê-su trả lời: “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Philíp-phê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha? Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy; bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm. Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha.”
Đó là Lời Chúa.
 
ĐƯỜNG - CHÂN LÝ - SỰ SỐNG
Lm JB Nguyễn Minh Hùng
17:50 02/05/2026
ĐƯỜNG - CHÂN LÝ - SỰ SỐNG

CHÚA NHẬT V PHỤC SINH NĂM A

Đọc lại sách Công vụ Tông Đồ, ta thấy Hội Thánh thuở ban đầu không "đẹp như mơ" như ta vẫn tưởng. Ngay giữa lúc số tín hữu gia tăng, lại xuất hiện lời kêu trách. Người gốc Hy Lạp cảm thấy bị bỏ quên. Một sự chia rẽ âm thầm len vào đời sống cộng đoàn.

Điều này nghe rất quen. Quen như chính những gì ta vẫn gặp hôm nay.

1. CHIA RẼ VẪN LÀ CÂU CHUYỆN CỦA HÔM NAY.

Không đâu xa, tại Việt Nam, những năm gần đây, những "xích mích", khi âm thầm, khi công khai, giữa giáo sĩ cấp cao và cấp thấp, giữa linh mục và giáo dân, giữa những nhóm người đứng về phía này rồi quay sang công kích phía kia... Nhiều lúc lời nói trở nên nặng nề, bàn phím trở thành nơi phán xét, danh nghĩa "bảo vệ sự thật" trở thành lưỡi dao làm tổn thương nhau.

Những điều đó không chỉ làm đau người trong cuộc, mà còn khiến biết bao tâm hồn thiện chí chao đảo; những người đang muốn sống cho Danh Chúa, muốn dấn thân cho Hội Thánh, lại cảm thấy mỏi mệt, hụt hẫng. Và chắc chắn, nó cũng làm suy giảm sức mạnh của công cuộc truyền giáo. Bởi Tin Mừng của tình yêu không thể được loan báo cách trọn vẹn nếu chính người loan báo còn chia rẽ với nhau.

Đúng thật. Ở đâu có con người, ở đó có khác biệt. Ở đâu có số đông - số ít, ở đó có nguy cơ thiên vị, lấn át, và cả tổn thương.

Tông vụ Tông đồ không cho biết thêm, sau khi các phó tế được chọn, mọi sự có hoàn toàn "êm đẹp" hay không. Nhưng có một điều rất rõ: Dù lòng người có thuận hay không thuận, chia rẽ hay đoàn kết, Hội Thánh vẫn tiếp tục lớn lên. Lời Chúa vẫn lan rộng.

Điều đó đủ để nói với ta rằng: Thiên Chúa không dừng lại trước những yếu đuối của con người.

2. CÓ HAI SỰ THẬT. RẤT THẬT. NHƯNG ĐỐI NHAU.

Lịch sử dài của Hội Thánh, từ trung ương đến những cộng đoàn nhỏ bé nơi làng quê, đâu thiếu những "hạt sạn": những hiểu lầm, những chia rẽ, những tính toán rất đời. Có khi là "óc bè phái" (chỉ lo cho nhóm mình), có khi là "mạnh được, yếu thua", có khi là tiếng nói của số đông lấn át những người yếu thế, nhiều lúc bề trên dùng quyền "đè" bề dưới... Những điều đó có thật. Rất thật.

Nhưng lạ thay, một sự thật khác đối nghịch hoàn toàn, cũng đang cuộn trào mạnh mẽ. Đó là đức tin bền bỉ của vô số người dám tin.

Bởi chính khi nhìn vào những điều "rất con người" giữa lòng Hội Thánh, người có đức tin lại càng nhận ra: Hội Thánh vẫn đứng vững. Vững không do con người, mà vì có Chúa. Chúng trở thành một tuyên ngôn không lời nhưng mạnh mẽ: Thiên Chúa không bao giờ thua cuộc. Ân sủng luôn lớn hơn thế gian và bóng tối của nó.

Sự thật lớn lao và nhiệm mầu ấy, chúng ta đang nhìn thấy. Giữa tất cả những xao động còn đang nội tại, Hội Thánh Việt Nam vẫn không mất đi căn tính của mình. Đời sống đức tin của giáo dân vẫn âm thầm, bền bỉ chảy. Sáng sớm, tiếng chuông nhà thờ vẫn ngân lên, gọi những bước chân quen thuộc tiến về nhà Chúa. Chiều xuống, khi hạt nắng cuối cùng còn kịp rơi trên khuôn mặt sạm nắng của bác nông dân sau một ngày lao tác, tiếng chuông lại vang lên, như nhắc lòng người hướng về Đấng đã gìn giữ họ suốt một ngày dài. Những kinh nguyện đơn sơ vẫn được đọc trong những mái nhà nhỏ bé. Những hy sinh thầm lặng vẫn được dâng trong âm thầm.

3. CHỈ MỘT MÌNH CHÚA KITÔ - LINH HỒN CỦA HỘI THÁNH.

"Đường - Chân Lý - Sự Sống" là chính Chúa Kitô vẫn đang cuốn phăng mọi thác ghềnh của lịch sử. Không một chia rẽ nào có thể chặn lại dòng chảy của ơn cứu độ. Không một yếu đuối nào của con người có thể làm sụp đổ công trình mà chính Thiên Chúa đang thực hiện.

Nhưng cũng chính vì thế, con người lại càng không được phép ở lì trong tranh chấp. Họ phải nhận ra một cách chân thành, Chúa Kitô đang mời gọi họ ở lại với Ngài. Họ phải biết rằng, chỉ có một mình Ngài là linh hồn của cả Hội Thánh. Chỉ một mình Ngài là Người cuối cùng phải chịu tổn thương sâu sắc, khi chính họ, dù nhân danh bất cứ điều gì trong cõi đời, lại đang bóp nghẹt trái tim Hội Thánh.

Giáo dân ư? Xin hãy chắp tay cầu nguyện trước khi gõ bàn phím. Một lời nói ra có thể xây dựng, nhưng cũng có thể phá đổ. Đừng để sự nóng giận nhất thời làm lu mờ đức tin lâu năm.

Linh mục ư? Xin nhớ rằng mình đứng trong vai trò mục tử không phải nhờ khả năng riêng, nhưng nhờ Đấng đã gọi và sai đi. Chính tình yêu Chúa Kitô thúc bách, chứ không phải tự ái hay lập trường cá nhân, mới là động lực của sứ vụ. Chính uy danh Hội Thánh mới là cơ đồ mà mình phải xây dựng.

Giám mục ư? Lại càng phải sám hối sâu xa hơn nữa. Bởi vì nếu chỉ là "giám mục" theo nghĩa chức vụ, thì vẫn còn là một con người hữu hạn. Nhưng khi là Giám mục của Đấng là Đường - Chân Lý - Sự Sống, thì phải phản chiếu chính trái tim của Ngài: Một trái tim biết yêu đến cùng, biết hiệp nhất, biết mang lấy đoàn chiên. Chỉ khi đó, Giám mục mới thật sự là thầy dạy đức tin, là người dẫn đường trong Hội Thánh.

Vết thương là có thật, nhưng đó không phải là lời kết. Chia rẽ là có thật, nhưng đó không là định mệnh. Bởi trung tâm của tất cả, vẫn là Chúa Kitô, Đấng không bao giờ thay đổi, Đấng vẫn đang dẫn Hội Thánh đi, và sẽ đưa tất cả về bến bình an đời đời.

Chúa Kitô chính là linh hồn của cả Hội Thánh. Chúa Kitô vẫn đang dẫn Hội Thánh đi. Chúa Kitô vẫn đang gìn giữ từng người chúng ta.

4. HIỂU GÌ TỪ LỜI KHẲNG ĐỊNH CỦA CHÚA KITÔ?

Giữa tất cả những chao đảo rất con người trong lòng Hội Thánh, hôm nay lời của Chúa Giêsu vang lên như một cột trụ không thể lay chuyển: "Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống".

a. Chúa là Đường. Con đường ấy không bị chặn lại bởi những chia rẽ.

Đó không chỉ là một hướng đi để ta chọn. Nhưng là con đường đang dẫn tất cả về đích. Dù con người có lúc đi chệch, dù cộng đoàn có lúc rẽ ngang, thì "Đường Giêsu" vẫn không mất.

Chúa Kitô không chỉ chỉ đường. Chúa là Đấng ôm lấy cả hành trình của nhân loại và đưa về nhà Cha. Bởi thế, không có lối quanh co nào của con người

có thể làm lạc hướng chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

b. Chúa là Chân Lý. Chân lý ấy không bị lệch đi bởi những sai lầm.

Đó không chỉ là một giáo lý để học, một điều đúng để giữ. Nhưng là Chân Lý sống động, Đấng đã đổ máu vì con người. Chân lý ấy không nằm trên giấy, nhưng nằm trong chính cuộc đời của chính Chúa Kitô.

Và vì là Chân Lý sống động, nên không có sai lầm nào của con người có thể làm lệch chuẩn điều Thiên Chúa muốn thực hiện. Có thể có những hiểu sai, sống sai, nhưng Chân Lý vẫn đứng đó, không bị xô ngã, không bị thay thế.

c. Chúa là Sự Sống. Sự sống ấy không bị dập tắt bởi những yếu đuối.

Không chỉ ban sự sống. Chính Chúa là nguồn sống không bao giờ cạn. Những gì thuộc về Chúa Kitô như: tình yêu Ngài đã sống; hy sinh Ngài đã trao; ơn cứu độ Ngài đã thực hiện không bao giờ mất đi.

Dù thời gian trôi, dù con người đổi thay, dù lịch sử có lúc tối tăm, sự sống ấy vẫn âm thầm chảy, vẫn nuôi Hội Thánh, vẫn cứu con người.

5. VÌ THẾ…

Những gì chúng ta đang thấy, đang sống hôm nay, không phải là điểm cuối. Những va chạm trong cộng đoàn, những giới hạn của con người, những "hạt sạn" làm ta buồn lòng… không phải là định mệnh của Hội Thánh. Đó chỉ là những đoạn đường gập ghềnh trên hành trình mà chính Chúa Kitô đang dẫn cả Hội Thánh và từng người chúng ta bước đi.

Ta đau vì Hội Thánh, vì cộng đoàn, vì những điều không trọn vẹn. Nhưng chính trong những nỗi đau ấy, nếu ta còn tin, còn yêu, còn gắn bó, thì ta đang chạm vào một điều vô cùng lớn, vô cùng quý giá: Ơn cứu độ không tùy thuộc vào sự hoàn hảo của con người, mà tùy thuộc vào sự trung tín của Thiên Chúa.

Mỗi chúng ta cần phải biết sợ. Biết trở về. Biết sám hối. Hãy nhớ, sau tất cả những gì tưởng chừng đổ vỡ, điều làm nên vẻ đẹp của Hội Thánh không phải là không có vết thương, nhưng là vẫn biết yêu nhau dù có vết thương.

Lm JB NGUYỄN MINH HÙNG
 
TRONG ĐƯỜNG - VẪN LẠC
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
17:51 02/05/2026
TRONG ĐƯỜNG - VẪN LẠC

“Không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?”.

“Kitô giáo không phải là một ý tưởng, nhưng là một cuộc gặp gỡ với một con người!” - Joseph Ratzinger.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không chỉ nói về sự không biết của Tôma, nhưng hé lộ một nghịch lý: có thể ở rất gần mà vẫn không gặp gỡ; đã đúng đường mà vẫn đi tìm một con đường khác. ‘Trong Đường - vẫn lạc’.

Tôma không sai khi hỏi, nhưng sai ở cách nghĩ: ông vẫn tìm một con đường để đi, như một lộ trình cần xác định. Trong khi “đường” Gioan dùng - hodos - không chỉ là một hướng đi, nhưng là một cách hiện hữu, một tương quan sống động. Vì thế, vấn đề không phải là không biết phải đi đâu, nhưng là không nhận ra mình đang ở với ai; từ đó, con người có thể lạc ngay trên chính con đường mình đang đi. “Đức tin không phải là một ý kiến, nhưng là một sự gắn bó với Thiên Chúa!” - Romano Guardini.

Trong bối cảnh ấy, những gì Chúa Giêsu nói không chỉ là một câu trả lời, nhưng là một mặc khải: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống”. Đường không còn là một lộ trình phải vạch ra, nhưng là một hiện diện để bước vào; sự thật không còn là điều phải nắm bắt, nhưng là một tương quan để ở lại; và sự sống không còn là một mục tiêu ở phía trước, nhưng là điều đang tuôn chảy từ chính Ngài. Thế nhưng, con người vẫn quen tìm những con đường khác: những lựa chọn, những bảo đảm, những câu trả lời có thể nắm chắc trong tay; và chính trong những tìm kiếm ấy, bạn và tôi có thể đang ở trong Đường ấy, mà vẫn đi tìm một con đường khác. ‘Trong Đường - vẫn lạc’.

“Ở trong Đường” không phải là một kinh nghiệm riêng lẻ. Chúa Giêsu nói thêm: “Ai tin vào Thầy” sẽ làm những việc Thầy làm, và còn làm những việc lớn hơn nữa. “Những việc” - erga - không phải là của con người, nhưng là của Thiên Chúa nơi cộng đoàn những kẻ tin. “Không ai có thể có Thiên Chúa làm Cha nếu không có Giáo Hội làm Mẹ!” - Henri de Lubac. Nơi đó, họ chọn phó tế và rao giảng Lời - bài đọc một. Và đức tin vì thế không dừng ở một tương quan riêng tư, nhưng trở thành một thân thể: những con người được gọi ra khỏi bóng tối - bài đọc hai, để cùng tham dự vào hành động của Ngài; một cộng đoàn sống niềm vui Tin Mừng trong tạ ơn và cầu nguyện: “Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài!” - Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, đường không còn là điều để tìm, nhưng là Đấng để ở trong. Vì thế, điều quyết định không còn là biết, nhưng là ở lại; không còn là làm, nhưng là thuộc về. Và chỉ trong Ngài, con người mới thôi lạc; giữa những chọn lựa chồng chéo của đời sống, không còn phải dò dẫm, nhưng được ở yên trong một tương quan; không còn đi tìm một con đường khác, nhưng được ở trong chính Đường. “Chúng ta không còn biết tình yêu là gì, nếu không còn biết Thiên Chúa là ai!” - Hans Urs von Balthasar.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, có lúc con tưởng mình biết đường, nhưng lòng vẫn chông chênh. Cho con ở lại trong Ngài, giữa bao ngả đường!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
 
Mỗi Ngày Một Câu Danh Ngôn Của Các Thánh
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. ·
20:40 02/05/2026

12. Nếu con không làm việc thiện thì không thể hoan lạc.

(sách Gương Chúa Giê-su)

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

(Trích dịch từ tiếng Hoa trong "Cách ngôn thần học tu đức")


---------

http://www.vietcatholic.net

https://www.facebook.com/jmtaiby

http://www.nhantai.info
 
Mỗi Ngày Một Câu Chuyện
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. ·
20:44 02/05/2026
16. HƯƠNG TRƯỞNG ĐÔNG QUAN

Tiến sĩ nọ mới nhậm chức huyện lịnh, sau khi nhậm chức thì điểm danh lần thứ nhất, khi điểm danh đến tên hương trưởng của Đông Quan thì đột nhiên nổi giận, đập mạnh bàn án, một ống đầy thẻ bị rơi xuống đất rồi thấy ông ta lớn tiếng la lối, ra lệnh cho sai nha chọn cây côn thật lớn mà đánh hương trưởng Đông Quan.

Ông hương trưởng bị đánh rất đau, nằm phục dưới đất đau khổ nói:

- “Tiểu nhân hôm nay báo có mặt không sai sót, lâu nay lại không phạm tội, xin đại nhân minh xét để tôi biết hôm nay tôi đã phạm tội gì để mà sửa !?"

Huyện lịnh vẫn giận dữ, độc ác nói với hương trưởng:

- “Trước khi ta nhậm chức huyện lịnh thì ta có mượn của người khác tiền mua lương thực, nhưng không trả đúng kỳ hạn, mầy liền bức bách ta khiến cho ta chỉ biết suốt ngày lang thang ngoài đường. Mối thù này khắc sâu trong lòng muốn lột da mày mới nguôi hận, giờ đánh cho mày ăn không được để trả cái hận ấy”.

Hương trưởng vừa nghe liền hiểu rõ, hỏi:

- “Phủ của đại nhân vốn là ở Đông Quan sao?”

Huyện linh gật đầu nói:

- “Phải”.

Hương trưởng giải thích:

- “Nguyên quán của ngài ở Đông Quan cách chỗ này xa cả ngàn dặm, việc của hương trưởng ở Đông Quan đó không can gì đến tiểu nhân cả”.

Huyện lịnh biết mình sai nhưng lại không nhận lỗi, bèn gay gắt mắng hương trưởng:

- “Bất luận xa hay gần, hương trưởng Đông Quan nhất định là người xấu ! Lại còn dám tranh biện, đánh thêm trăm trượng nữa”.

Hương trưởng sợ quá nên ôm đầu mà chạy.

(Khách Song Nhàn thoại)

Suy tư 16:

Cái đáng sợ nhất là lòng độc ác của con người, khi lòng độc ác có quyền hành thì sẽ là mối đại họa cho mọi người, bởi vì lòng của con người vốn lương thiện, nhưng khi sự độc ác chiếm giữ thì cả hỏa ngục đều ở cả trong đó.

Người Ki-tô hữu tính vốn thiện từ khi mới lọt lòng mẹ như mọi người, và càng thiện hơn nữa khi được sinh ra trong bí tich Rửa Tội nhờ ân sủng của Thiên Chúa. Cho nên dù có yếu đuối sa ngã chăng nữa, thì họ vẫn không để cho sự độc ác chiếm hữu tâm hồn của họ, bởi vì họ là con cái của Thiên Chúa, con cái của sự sáng.

Biết mình sai lỗi nhưng không nhận, lại còn dùng quyền hành để bức ép người khác, đó là dấu chỉ của một người mà lương tâm đã bị chết, nên người ta thường nói họ là người “không có lương tâm”.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư)


---------

http://www.vietcatholic.net

https://www.facebook.com/jmtaiby

http://www.nhantai.info
 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Tin A.P. : Cảnh sát Israel bắt giữ một người đàn ông bị tình nghi tấn công một nữ tu gần Thành phố Cổ Jerusalem
Vũ Văn An
14:26 02/05/2026



SAM METZ của hãng tin A.P., trong bản tin ngày 2 tháng 5 năm 2026, cho hay: Cảnh sát Israel hôm thứ Sáu cho biết họ đã bắt giữ một người đàn ông 36 tuổi bị quay video tấn công một nữ tu trong vụ việc mới nhất nhắm vào người Kitô giáo gần Thành phố Cổ Jerusalem.

Cảnh sát cho biết người đàn ông giấu tên này đã bị bắt sau vụ tấn công hôm thứ Tư gần Lăng mộ David — một địa điểm linh thiêng bên ngoài Cổng Zion ở phía nam Thành phố Cổ — “vì nghi ngờ tấn công có động cơ phân biệt chủng tộc”, và vẫn đang bị giam giữ.

Video của cảnh sát cho thấy nữ tu bị bầm tím và kẻ tấn công mặc tzitzit, một loại áo lót có tua rua được một số người đàn ông Do Thái sùng đạo mặc.

Olivier Poquillon, giám đốc Trường Nghiên cứu Kinh thánh và Khảo cổ học Pháp, cho biết nữ tu này là một nhà nghiên cứu tại trường. Ông gọi vụ tấn công là “hành động bạo lực giáo phái” trong một bài đăng trên X.

Thành phố Cổ ở phía đông Jerusalem do Israel sáp nhập là một khu vực có tường bao quanh hàng thế kỷ, được xây dựng trên hàng nghìn năm lịch sử và là nơi có một số địa điểm linh thiêng nhất đối với người Do Thái, Kitô giáo và Hồi giáo. Nơi đây là điểm nóng căng thẳng vì quyền tiếp cận và quyền sở hữu các địa điểm này gắn liền mật thiết với các tuyên bố lịch sử và chính trị nằm ở trung tâm của cuộc xung đột Israel-Palestine.

Các nhóm tôn giáo đã ghi nhận sự gia tăng các hành vi quấy rối và bạo lực chống lại những người hành hương và giáo sĩ Kitô giáo cũng như cư dân Kitô giáo Palestine, bao gồm cả các vụ hành hung và nhổ nước bọt, thường do các sinh viên Do Thái cực đoan theo đạo Chính thống gây ra.

Wadie Abunassar, điều phối viên của Diễn đàn Kitô giáo Đất Thánh, gọi các cuộc tấn công nhắm vào người Kitô hữu là một hiện tượng ngày càng gia tăng. Ông cho rằng phản ứng nhanh chóng đối với vụ tấn công nữ tu là do nó đã được ghi lại bằng video.

Ông nói rằng ông cảm thấy “vô cùng tức giận với hệ thống và vô cùng đau buồn vì tôi cảm thấy rằng điều này sẽ không sớm kết thúc”. Một trong những vấn đề, ông nói, là sự răn đe đối với bạo lực như vậy.

“Nhiều lần trong những trường hợp như vậy không có vụ bắt giữ nào và nếu có vụ bắt giữ, đôi khi sau một hoặc hai ngày, (các nghi phạm) được thả”, ông nói thêm. “Trong một số trường hợp, cảnh sát không khuyến nghị bên công tố khởi tố hoặc truy tố họ. Và trong một số trường hợp, khi có cáo trạng, cáo trạng cũng rất nhẹ.”

Vụ bắt giữ diễn ra trong bối cảnh cách đối xử của Israel với các nhóm thiểu số tôn giáo đang bị giám sát chặt chẽ, chỉ vài tuần sau khi cảnh sát hạn chế quyền tiếp cận để thờ phượng trong các ngày lễ đối với cả người Hồi giáo và Kitô giáo, kể cả Hồng Y Pierbattista Pizzaballa, Thượng phụ Latinh.

Israel cũng hứng chịu chỉ trích quốc tế sau khi một binh sĩ tự chụp ảnh mình dùng rìu đập vỡ bức tượng Chúa Giê-su ở miền nam Lebanon. Các nhà lãnh đạo Israel sau đó đã phủ nhận vụ việc và cho biết người này sẽ bị khiển trách.

“Tại một thành phố linh thiêng đối với người Do Thái, Kitô giáo và Hồi giáo, chúng tôi vẫn cam kết bảo vệ tất cả các cộng đồng và đảm bảo những người chịu trách nhiệm về bạo lực phải chịu trách nhiệm,” cảnh sát Israel cho biết trong một bài đăng trên mạng xã hội về người đàn ông bị bắt vì tấn công nữ tu.
 
Liệu sự hiệp nhất có thể được xây dựng mà không cần đến chân lý không? Những bài học từ chuyến thăm Vatican của Sarah Mullally
Vũ Văn An
14:30 02/05/2026

Đức Giáo Hoàng Leo XIV gặp Tổng Giám mục Canterbury Sarah Mullally tại Vatican vào ngày 27 tháng 4. (ảnh: Simone Risoluti / Vatican Media)


BÌNH LUẬN: Nếu đại kết muốn có sự toàn vẹn, nó phải được xây dựng không phải trên những cử chỉ che khuất thực tại, mà trên sự quy phục chung đối với chân lý mà Chúa Kitô hiện thân.

Gavin Ashenden (*), trong bản tin ngày 28 tháng 4 năm 2026 của National Catholic Regisster, bình luận rằng: Dù Giáo hội có lòng thương xót đến đâu đối với những người mắc chứng rối loạn nhận dạng giới tính, chúng ta từ lâu đã nhận ra rằng chúng ta không giúp ích gì cho mọi người nếu chúng ta củng cố ảo tưởng của họ — đặc biệt nếu ảo tưởng đó liên quan đến điều gì đó thực sự quan trọng.

Thực tại là con đường chắc chắn nhất dẫn đến sự tỉnh táo và một sự tái thiết thánh thiện. Nếu điều đó đúng trong lĩnh vực giới tính và bản sắc, thì nó cũng đúng trong các vấn đề đại kết và trong giáo hội học.

Đó là lý do tại sao rất nhiều người cảm thấy bất an nghiêm trọng về cách trong đó Đức Giáo Hoàng chào đón nữ tổng giám mục Tin Lành Anh giáo của Canterbury, Sarah Mullally.

Thông điệp Apostolicae Curae đã làm rõ lý do tại sao chức thánh của Anh giáo là vô hiệu và luôn luôn như vậy, đồng thời thừa nhận rằng đây thực chất là ý định ban đầu và có chủ đích của nghi thức phong chức Anh giáo và của giáo lý chính trị hóa của thế kỷ 16 và 17.

Việc những người Anh giáo sau đó đã thay đổi quan điểm và tìm kiếm một mức độ hợp pháp từ Giáo hội Mẹ mà họ đang ly khai không làm thay đổi lịch sử hay tư cách của họ.

Việc những khát vọng trong trí tưởng tượng giáo hội của họ có thể thay đổi bản chất của thực tại là vô ích đối với những người Anh giáo.

Hành trình của Sarah Mullally

Chúng ta sẽ quay lại vấn đề đó sau, nhưng trước tiên, có lẽ nên dành chút thời gian để tìm hiểu về tính cách của nữ tổng giám mục Anh giáo đầu tiên.

Sarah Mullally đã trải qua một hành trình. Đây không chỉ là hành trình từ một y tá trở thành một nữ giáo sĩ. Đó là hành trình từ sự rõ ràng, bảo thủ của phái Tin Lành đến chủ nghĩa tự do tiến bộ, hợp thời.

Về mặt thần học, người ta có thể nói rằng bà đã chuyển từ nền chính thống Kinh Thánh Thệ phản sang phạm trù tự nhiên thần thuyết trị liệu.

Trong một bài đánh giá gần đây về cuốn tiểu sử của Sarah Mullally do Andrew Atherstone viết, George Conger, một nhà bình luận nổi tiếng của Giáo hội Giám chức, đã chỉ ra hành trình này từ lòng trung thành bảo thủ đến xu hướng chính trị tiến bộ trong cuộc đời của Mullally.

Một sự kiện lịch sử là những người Tin Lành bảo thủ đã bị giới cầm quyền Anh giáo ở Anh xa lánh.

Họ bị coi là một sự xấu hổ về mặt thần học, văn hóa và chính trị đối với giới cầm quyền, và cánh cửa thăng tiến luôn đóng chặt trước mặt họ.

Để đạt được trách nhiệm lớn hơn hoặc được thăng chức, người ta phải cho phép thần học của mình phát triển hoặc biến đổi thành một chủ nghĩa bất khả tri tinh tế hơn về mặt chính trị với lương tâm xã hội — và có lẽ hơn cả lương tâm xã hội, một khuynh hướng chính trị xã hội chủ nghĩa.

George Conger chỉ ra rằng đây chính là con đường mà Sarah Mullally đã đi, dẫn đến việc bà được thăng tiến với tốc độ đáng kinh ngạc.

Bà bắt đầu là một tín hữu Tin Lành bảo thủ trung thành, một người ủng hộ và quảng bá cho Hội Liên hiệp Ki-tô giáo và văn hóa của nó.

Tôi cho rằng chúng ta có thể tranh luận về việc liệu bà có cố tình từ bỏ giáo lý chính thống của mình để thỏa mãn tham vọng thế tục hay không, nhưng chúng ta phải thừa nhận rằng chúng ta không biết câu trả lời cho điều đó. Đơn giản là câu chuyện cuộc đời bà đặt ra câu hỏi này.

Tuy nhiên, chúng ta biết rằng bà rất tham vọng trong lĩnh vực điều dưỡng, vươn lên đứng đầu bộ máy hành chính giám sát ngành điều dưỡng ở Anh, và vì vậy có lẽ không quá lời khi tự hỏi liệu khả năng tham vọng của bà có làm vẩn đục lòng trung thành Tin Lành của bà đến mức sẵn sàng bán rẻ niềm tin của mình để được thăng tiến nhanh chóng trong Giáo hội Anh giáo hay không.

Dù nguyên nhân là gì, thì chắc chắn đó là điều đã xảy ra.

Phá thai và đồng tính luyến ái

Trong hành trình đó, bà đã bước vào hai lĩnh vực đạo đức thần học gây tranh cãi, đặt bà ở cực điểm của chủ nghĩa dị giáo tiến bộ.

Bà ủng hộ phá thai như một sự lựa chọn đạo đức, điều này là một phần trong việc hợp thức hóa chương trình nghị sự duy nữ và bác bỏ tính thánh thiêng của sự sống trong tử cung như Giáo hội vẫn luôn dạy. Bà cũng ủng hộ việc chúc phúc cho hôn nhân đồng tính, trái ngược với những gì Giáo hội vẫn luôn dạy về hôn nhân, tình dục và bản sắc.

Giáo Hội Công Giáo nổi tiếng về sự rõ ràng trong cả vấn đề phá thai và bản chất của hôn nhân.

Và việc chào đón các giáo sĩ từ các giáo phái khác, những người hiện thân các quan điểm dị giáo, như thể sự rõ ràng đó không quan trọng, đã gây bất lợi cho chính Giáo hội.

Như Edward Pentin của tờ Register đã lưu ý, trong sự chào đón nồng nhiệt dành cho Mullally, các quan chức Vatican đã thể hiện sự lịch sự “vượt xa lòng hiếu khách ngoại giao và bao gồm những cử chỉ mang ý nghĩa giáo hội sâu sắc”. Những hoạt động này bao gồm buổi diện kiến riêng với Đức Giáo Hoàng Leo XIV và cơ hội, lần đầu tiên dành cho một tổng giám mục Canterbury đến thăm, để ban phước lành trong Nhà nguyện Clementine thuộc Vương cung thánh đường Thánh Phêrô – “Chính nơi đó,” Pentin giải thích, “là nơi Thánh Phêrô tử đạo và do đó là nơi mà sự kế thừa tông đồ được tập trung về mặt hình ảnh và tinh thần.”

Vì vậy, khi chào đón Sarah Mullally đến Vatican với sự nhiệt thành như vậy, hàng giáo phẩm Công Giáo đã cho thấy sự thiếu nhạy cảm của chính họ đối với phán xét của chính họ về tính hợp lệ của các chức sắc Anh giáo và đối với sự hỗn loạn về đạo đức mà Sarah Mullally đại diện.

Điều này không chỉ gây tổn hại cho các tín hữu Công Giáo và các nhà thần học Công Giáo, mà còn, nói một cách bản thân, cho những người trở lại từ Anh giáo, những người đã chọn trở thành Công Giáo, một phần để hàn gắn sự chia rẽ của Giáo hội trong việc theo đuổi đức tin của họ - và họ đã làm như vậy chính vì họ tin chắc về sự thiếu liêm chính của các chức sắc Anh giáo và mối nguy hiểm của sự dị giáo về đạo đức của nó.

Nói lên sự thật

Đồng thời, xét về tính liêm chính trị liệu, người ta luôn chấp nhận rằng việc khẳng định một người trong ảo tưởng tự gây hại của họ mà không có bất cứ nỗ lực can thiệp trị liệu nào là sự phản bội trách nhiệm đối với người bị ảo tưởng.

Có thể có nhiều chỗ để thảo luận và phân định về cách tốt nhất trong đó thực tại trở nên dễ tiếp cận với những người bị lầm lạc, nhưng chỉ chấp nhận sự lầm lạc mà không có bất cứ sự khiêu khích, bất cứ sự định phẩm, hay bất cứ sự khó chịu nào, thì không phải là lòng tốt hay tình yêu thương.

Và theo một nghĩa nào đó, điều đó có lẽ tóm tắt động lực của sự đón nhận hỗn loạn này. Nó không phải là việc đặt tình yêu đối lập với sự thật mà là cám dỗ muôn thuở của việc tỏ ra tử tế hơn là trung thực.

Nếu quan điểm chiến thuật của Giáo Hội Công Giáo cho rằng việc tỏ ra tử tế hiệu quả và trung thành hơn việc trung thực, thì lập luận đó có thể được đưa ra. Nhưng điều đó chưa bao giờ đúng trong quá khứ. Giáo Hội Công Giáo luôn ưu tiên nói lên sự thật và chấp nhận rằng phải trả giá để sửa chữa sự hỗn loạn, bất trung và nổi loạn.

Khi một người sám hối đến với bí tích hòa giải, điều kiện tiên quyết là họ phải sẵn sàng nhận ra sự thật về bản thân để tìm ra con đường tiến lên phía trước. Ở bình diện đại kết và định chế, dường như thật kỳ lạ khi một quy tắc áp dụng rõ ràng cho sự sám hối cá nhân lại bị đình chỉ hoặc thậm chí đảo ngược ở bình diện định chế hoặc tập thể.

Giáo hội Anh giáo trong các văn bản của mình vẫn bác bỏ Thánh lễ, vẫn bác bỏ thẩm quyền của Giám mục Roma, và vẫn bác bỏ luyện ngục và một số công đồng đại kết không được nêu tên.

Xét về lịch sử, nó chịu trách nhiệm cho sự phá hủy văn hóa Công Giáo ở Anh và việc nhà nước chiếm đoạt tất cả các nguồn lực thuộc về Giáo hội vào thời kỳ đỉnh cao của Giáo hội ở Anh.

Sẽ thật bất lịch sự nếu nhắc đến điều này trong mỗi chuyến thăm đại kết, nhưng vẫn thật khó chịu khi giả vờ rằng sự đối kháng mạnh mẽ đã sinh ra Giáo hội Anh không nên được thừa nhận, nếu không muốn nói là không nên ăn năn, dưới một hình thức đương thời nào đó. Một trong những nhiệm vụ đại kết chắc chắn là tìm cách giải thoát chúng ta khỏi lịch sử, khỏi những sai lầm ý thức hệ bị chính trị hóa, khỏi sự đối kháng sai lầm giữa các cộng đồng giáo hội khác nhau, nhưng đức tin của chúng ta rất rõ ràng về cách thức đạt được điều đó.

Chúa Giê-su nói rằng Người là chân lý, và bằng cách trung thành với Người và chân lý, chúng ta khám phá ra rằng chân lý sẽ giải phóng chúng ta.

Cách thức chuyến thăm của tổng giám mục Canterbury diễn ra không phản ánh đúng sự thật của tình hình, và do đó sẽ không có gì được thực hiện để giải thoát chúng ta khỏi gánh nặng ly giáo đen tối của một quá khứ chưa được giải quyết.

Con đường đến sự hiệp nhất

Đó có thể được coi là nhiệm vụ đầu tiên của tiến trình đại kết và thậm chí là trách nhiệm của Đức Thượng phụ phương Tây trong bóng tối của một di sản lịch sử đau thương, bạo lực và hỗn loạn.

Nếu đại kết muốn có bất kỳ tính liêm chính nào, nó không thể được xây dựng trên những cử chỉ che khuất thực tại hoặc làm giảm nhẹ mâu thuẫn, mà chỉ trên sự phục tùng chung đối với chân lý mà chính Chúa Kitô hiện thân. Bất cứ điều gì khác đều có nguy cơ trở thành một vở kịch của tình cảm hơn là một công việc hòa giải.

Con đường dẫn đến sự thống nhất không nằm ở việc cẩn thận tránh né khó khăn, mà nằm ở lòng can đảm để gọi tên nó, để ăn năn về nó, và để cho sự thật làm đúng nhiệm vụ của nó là giải phóng chúng ta.

Cho đến khi điều đó xảy ra, những cuộc gặp gỡ như vậy, dù có thiện chí đến đâu, cũng sẽ vẫn lơ lửng giữa vẻ bề ngoài và thực tại, mang lại hình thức thống nhất mà không có thực chất, và để lại những vết thương sâu xa hơn của lịch sử chưa được chữa lành.

___________________________________________________________

(*) Gavin Ashenden là biên tập viên cộng tác tại The Catholic Herald, cựu linh mục của cố Nữ hoàng Anh, và cựu Giám mục Anh giáo. Hiện là một giáo dân Công Giáo và nhà biện hộ, ông thường xuyên bình luận cho GB News, BBC, và là người đứng sau New English Catholic trên Substack.
 
Đức tin, chính trị và sự bùng phát những người Công Giáo MAGA
J.B. Đặng Minh An dịch
18:22 02/05/2026


Cha Dwight Longenecker là cha sở Nhà thờ Đức Mẹ Mân Côi ở Greenville, Nam Carolina, tuyên úy tại Kings College, Cambridge. Cha Dwight đã viết mười sáu cuốn sách và vô số bài báo cho các trang web, tạp chí và báo ở Hoa Kỳ và Anh.

Trên tờ Catholic Herald, ngài vừa có bài viết nhan đề “Faith, politics and the rise of MAGA Catholics”, nghĩa là “Đức tin, chính trị và sự trỗi dậy của những người Công Giáo MAGA”

Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.

Sáng nay, khi lướt mạng xã hội, tôi bị thu hút bởi một hình ảnh kép: một chiếc máy bay chiến đấu trông rất dữ dằn với biểu tượng lớn của Đức Mẹ Đồng Trinh Maria, Nữ Vương Hòa Bình, được in nổi bật trên đó, bên cạnh là hình ảnh của Ông Donald Trump do trí tuệ nhân tạo, gọi tắt là AI, tạo ra. Tổng thống Trump tỏa ra một thứ vinh quang cứu thế nào đó trước lá cờ Mỹ tung bay và khẩu hiệu “Cảm ơn Chúa vì Tổng thống Trump”. Người đăng bài có tên tài khoản là “Đức Mẹ Guadalupe”. Phía trên hình ảnh kép mà tài khoản “Đức Mẹ Guadalupe” đăng tải là dòng chữ: “Chúa phù hộ nước Mỹ và Tổng thống Trump. Cảm ơn Chúa Giêsu vì đã phái Tổng thống Trump đến để chống lại một vị giáo hoàng bội giáo, là người đã sai lầm về giáo lý của Giáo hội.”

Sự công kích dữ dội nhắm vào Đức Giáo Hoàng Lêô từ những người Công Giáo cánh hữu ở Mỹ thật đáng kinh ngạc. Sau khi Tổng thống Trump công khai vu cáo và mạ lị Đức Giáo Hoàng vì những bình luận của ngài liên quan đến cuộc chiến ở Iran và sự ủng hộ của ngài dành cho người nghèo và người nhập cư, các bài đăng trên mạng xã hội từ những người ủng hộ Tổng thống Trump đã vu cáo Đức Giáo Hoàng Lêô là người đồng tính, tay sai của “Mafia đồng tính”, con rối của bộ máy chính trị cánh tả Obama/Axelrod, một người theo chủ nghĩa xã hội, một người cộng sản và là người kế nhiệm được chọn lựa của Đức Thánh Cha Phanxicô, là người đã bảo vệ những kẻ phạm tội tình dục theo chủ nghĩa Mác. Sự cuồng tín đáng sợ của những người Công Giáo ủng hộ Tổng thống Trump cuồng nhiệt thật khó hiểu, nhưng khi nhìn vào lịch sử và bối cảnh rộng hơn, điều đó không có gì đáng ngạc nhiên.

Để hiểu rõ hơn bối cảnh, cần phải nắm bắt nền chính trị Mỹ từ thời kỳ hậu chiến trở đi. Trong hai đảng chính trị – Cộng hòa và Dân chủ – đảng Dân chủ, trong thời kỳ đầu, tự xưng là đảng của người nghèo, những người bị tước đoạt quyền lợi, những người nhập cư và giai cấp công nhân. Họ đứng về phía người dân thường: các công đoàn, quyền bình đẳng, phúc lợi xã hội và chống lại giới thượng lưu giàu có ở Bờ Đông. Do đó, đảng Dân chủ cũng có được phiếu bầu của người Công Giáo. Đảng Cộng hòa đại diện cho người giàu, chủ sở hữu tài sản, tầng lớp trung lưu da trắng theo đạo Tin lành, phần lớn những người có trình độ đại học và giới tinh hoa cầm quyền.

Nhưng từ những năm 1960 trở đi, mọi thứ đã đảo ngược hoàn toàn. Việc bảo vệ người nghèo và đấu tranh cho quyền bình đẳng trở nên thịnh hành, và những quyền bình đẳng đó không chỉ dành cho người Mỹ gốc Phi. Những người theo chủ nghĩa nữ quyền và người đồng tính cũng đòi hỏi quyền bình đẳng. Khi giới trí thức, ngành công nghiệp giải trí và các nhân vật truyền thông cùng tham gia, Đảng Dân chủ trở thành đảng của một tầng lớp tinh hoa mới – tầng lớp tinh hoa chính trị mị dân. Sự ủng hộ dành cho người nghèo, các dân tộc thiểu số, giai cấp công nhân và người nhập cư trước đây đã phát triển thành sự ủng hộ cho một loạt các nhóm người bị thiệt thòi và cả những người không hẳn là thiệt thòi nhưng được cho là bị thiệt thòi như những người phụ nữ vì một lý do nào đó muốn phá thai.

Khi Đảng Dân chủ chuyển hướng từ giai cấp công nhân sang tầng lớp tinh hoa mới này, cơ sở cử tri truyền thống của họ bắt đầu thay đổi. Những người Dân chủ, đặc biệt là người Công Giáo, thuộc tầng lớp lao động bình thường nhận ra rằng các giá trị thông thường của họ – cả về kinh tế và đạo đức – phù hợp hơn với Đảng Cộng hòa. Sự chuyển dịch này một phần được thúc đẩy bởi “Đa số đạo đức” trong những năm 1970, tham gia vào cuộc chiến văn hóa về đạo đức tình dục và phá thai, và thông qua đó người Tin lành và người Công Giáo bắt đầu coi nhau là đồng minh chứ không phải kẻ thù.

Trong một cuộc phỏng vấn trên truyền hình với Ông Donald Trump nhiều thập niên trước khi ông theo đuổi tham vọng chính trị, người phỏng vấn đang đi bộ trên một con phố ở thành phố New York và hỏi Tổng thống Trump liệu ông có bao giờ cân nhắc đến chính trị hay không. Thương gia Trump trả lời một cách tiên tri: “Chắc chắn rồi, và nếu tôi làm vậy, tôi sẽ thắng.”

“Ai sẽ bỏ phiếu cho ông?” người phỏng vấn hỏi.

Vừa chỉ tay về phía các công nhân xây dựng tại một trong những dự án của mình, thương gia Donald Trump nói: “Những người ở trên kia kìa”.

Mọi người đều vẫy tay chào và gọi tên ông ta.

Sau thời kỳ thống trị của gia đình Bush, một thế lực quý tộc vùng Bờ Đông, đối với Đảng Cộng hòa, tỷ phú Donald Trump nổi lên. Từng là một đảng viên Dân chủ, ông hiểu rõ sự thay đổi văn hóa đã diễn ra. Những người lao động, những người dân thường, đa số thầm lặng giờ đây là đảng viên Cộng hòa chứ không phải đảng viên Dân chủ. Ông tự khắc họa mình là một người bình thường đã thành đạt. Ông khôn ngoan, nói năng – và hành động – không giống như gia đình Bush, mà giống như những người công nhân xây dựng.

Ông ta có thô lỗ và ăn nói tục tĩu không? Họ cũng vậy. Ông ta có thích phụ nữ đẹp không? Ông ta cũng giống họ. Ông ta có giỏi làm ăn và kiếm tiền không? Họ ước gì mình cũng làm được. Ông ta có trốn thuế, không tin tưởng chính phủ và nghi ngờ giới cầm quyền tham nhũng không? Họ cũng có cùng quan điểm. Khi ông ta bị giới cầm quyền tham nhũng và gian xảo đó bức hại, ông ta trở thành người tử đạo của họ. Khi ông ta sống sót sau một vụ ám sát, điều đó càng khẳng định thêm vị thế của ông ta.

Sự ái mộ dành cho Ông Donald Trump khiến chính ông cũng phải ngạc nhiên.

“Tôi có những người ủng hộ trung thành nhất,” Trump nói vào Tháng Giêng năm 2016 tại Iowa. “Tôi có thể đứng giữa Fifth Avenue và bắn chết ai đó, và tôi sẽ không mất bất kỳ cử tri nào, được chứ?”

Giờ hãy cùng bàn đến vấn đề tôn giáo. Nhiều người Mỹ thuộc tầng lớp lao động và trung lưu này là tín hữu Kitô giáo – cả Công Giáo và Tin Lành. Họ không thích ngôn từ hay đạo đức của Tổng thống Trump, nhưng họ vẫn chọn ông ta thay vì ứng cử viên khác, bởi vì lúc này đảng Dân chủ đã vững chắc ủng hộ quyền phá thai, nữ quyền, hoạt động vì quyền LGBTQ+, ý thức hệ về người chuyển giới và biên giới mở.

Những người Công Giáo từng bỏ phiếu cho đảng Dân chủ vì cho rằng đó là “đảng của người nghèo” đã do dự khi “người nghèo” dường như bao gồm một phạm vi rộng lớn các tầng lớp bị xã hội ruồng bỏ. Trong nỗ lực thể hiện sự khoan dung, đảng Dân chủ dường như, theo quan điểm của những cử tri này, đang dung túng cho những thành phần tồi tệ nhất của tầng lớp dưới đáy xã hội – những người nghèo khó, nghiện ngập và vô gia cư. Người Công Giáo có thể muốn giúp đỡ người nghèo, nhưng đối với nhiều người, điều này là một bước đi quá xa.

Ông Donald Trump nhậm chức với lời hứa sẽ dọn dẹp các thành phố, trục xuất những người nhập cư phạm tội, hỗ trợ gia đình, “thanh lọc bộ máy chính trị” ở Washington và “Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại”.

Khi ông hành động cùng với Israel đối với Iran, những người ủng hộ ông đã reo hò – kể cả người Công Giáo. Nhiều người coi người Hồi giáo là mối đe dọa và xem các hành động của Iran, cả trên trường quốc tế và trong nước, là lý do chính đáng để Mỹ sử dụng vũ lực.

Đối với những người Công Giáo cánh hữu ở Mỹ, còn có thêm một yếu tố nữa: Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Nhiều người Công Giáo bảo thủ tin rằng Đức Phanxicô không thích nước Mỹ, không hiểu những người Công Giáo truyền thống và cũng không muốn hiểu. Họ coi ngài là người ủng hộ thần học giải phóng và thù địch với những mối quan tâm của họ. Nếu Đức Phanxicô không thích họ, họ cũng có thái độ tương tự.

Giờ đây, khi Đức Giáo Hoàng Lêô đã lên ngôi Giáo hoàng, những người Công Giáo này lại tự thuyết phục mình rằng ngài là kết quả của một cuộc bầu cử giáo hoàng do Đức Giáo Hoàng Phanxicô và các đồng minh của ngài – các Hồng Y Cupich, Tobin và McElroy – dàn dựng.

Quá nhiều người tự xưng là người Công Giáo, nhưng lại nói: “Vị Giáo hoàng này không phải là Giáo hoàng của tôi”.

Thay vào đó, Tổng thống Trump là người hùng của họ, thậm chí là một đấng tiên tri nào đó được Chúa phái đến cứu họ, và khẩu hiệu chiến đấu của họ là: “Cảm ơn Chúa Giêsu vì đã phái Tổng thống Trump đến để chống lại một vị giáo hoàng bội giáo.”

Tôi nhận ra mình chẳng thể làm gì nhiều để giải quyết tình huống quá sức bi thảm này.

Tuy nhiên, tôi nghĩ có năm bước mà người Công Giáo Mỹ bình thường nên thực hiện. Thứ nhất, chúng ta nên chú ý đến lời của Thánh Phaolô: “Trước hết, tôi khuyên ai nấy dâng lời cầu xin, khẩn nguyện, nài van, tạ ơn cho tất cả mọi người, cho vua chúa và tất cả những người cầm quyền, để chúng ta được an cư lạc nghiệp mà sống thật đạo đức và nghiêm chỉnh” (1 Tm 2:1-2). Xét thấy những lời này được viết trong thời trị vì của Nero, thì yêu cầu này không phải là quá đáng.

Thứ hai, chúng ta nên thừa nhận rằng việc lên tiếng về các vấn đề đạo đức cũng như giáo lý là vai trò của Đức Giáo Hoàng và việc ngài bình luận về những vấn đề liên quan đến nhân loại là điều hoàn toàn trong thẩm quyền của vị mục tử toàn thể Hội Thánh.

Thứ ba, chúng ta nên dành cho Đức Thánh Cha sự tôn trọng bằng cách tìm hiểu xem ngài thực sự đã nói gì, thay vì dựa vào những tiêu đề gây hoang mang từ các nguồn tin tức và mạng xã hội mang tính thiên vị.

Thứ tư, chúng ta nên hiểu biết hơn về giáo huấn xã hội của Công Giáo, nhận ra rằng giáo huấn này đưa ra một đường lối rộng hơn đối với các vấn đề thế giới, vừa cân bằng vừa hoàn toàn mang tính Công Giáo.

Cuối cùng, tất cả chúng ta nên cố gắng hơn nữa để nhìn nhận vấn đề từ góc độ khác. Chúng ta có thể bất đồng quan điểm với các anh chị em Công Giáo khác về các vấn đề chính trị, nhưng nếu chúng ta thừa nhận rằng họ giữ vững lập trường của mình với thiện chí chân thành, họ có thể đáp lại bằng sự tôn trọng tương tự và thừa nhận rằng chúng ta cũng hy vọng, cầu nguyện và nỗ lực vì điều tốt đẹp nhất. Trong sự tôn trọng lẫn nhau này, sự hiệp nhất cốt lõi của đức tin Công Giáo sẽ được nuôi dưỡng và phát triển thịnh vượng.


Source:Catholic Herald
 
Đức Hồng Y Pizzaballa nói Giêrusalem phải đáp trả chiến tranh bằng sự hàn gắn
Đặng Tự Do
18:23 02/05/2026


Đức Hồng Y Pierbattista Pizzaballa cho biết Giêrusalem không chỉ được kêu gọi để chịu đựng những vết thương chiến tranh, mà còn trở thành công cụ hàn gắn cho một thế giới tan vỡ, khi Đức Thượng phụ Latinh của Giêrusalem ban hành một thư mục vụ mới về ơn gọi của Giáo hội tại Thánh Địa. Bức thư, được công bố vào ngày 27 tháng 4, suy ngẫm về cuộc xung đột đã bao trùm khu vực kể từ các cuộc tấn công của Hamas vào ngày 7 tháng 10 và cuộc chiến ở Gaza, mà Đức Hồng Y Pizzaballa mô tả là một bước ngoặt đã khép lại một kỷ nguyên và mở ra một kỷ nguyên khác “theo cách tồi tệ nhất có thể”.

Lập luận của Đức Thượng phụ không chủ yếu mang tính chính trị theo nghĩa hẹp. Thay vào đó, ngài coi cuộc khủng hoảng như một thử thách đối với sự hiện diện của Kitô giáo trong một thế giới ngày càng bị định hình bởi bạo lực, sự chia rẽ và sự ngờ vực. Ngài nói rằng Giêrusalem cần phải đại diện cho sự cùng tồn tại và các mối quan hệ, cả về dân sự lẫn tôn giáo, và do đó cần phải kiên nhẫn hàn gắn những vết thương mà người khác đã gây ra.

Đức Hồng Y Pizzaballa chia bức thư của mình thành ba phần chính: thứ nhất, đánh giá tình trạng hiện tại của Thánh Địa; thứ hai, suy tư thần học về sứ mệnh của Giáo hội Giêrusalem; và thứ ba, những hàm ý thực tiễn của sứ mệnh đó đối với các giáo xứ, gia đình, trường học và các tổ chức. Kết quả là một sự xem xét sâu sắc, không hẳn là một sự can thiệp ngoại giao, về hình thức chứng nhân Kitô giáo nên như thế nào ở một nơi mà bạo lực đã làm xói mòn cả đời sống công cộng và lòng tin của con người.

Ngài lập luận rằng cuộc chiến hiện tại không thể được hiểu là một cuộc xung đột cục bộ riêng lẻ. Theo quan điểm của ngài, nó cho thấy sự đổ vỡ sâu sắc hơn trong trật tự quốc tế rộng lớn hơn, bao gồm cả sự suy yếu của các quy tắc, hiệp ước và cấu trúc đa phương từng được tường trình có khả năng kiềm chế bạo lực. Thay vào đó, ngài cho rằng, đã xuất hiện một niềm tin mới vào sức mạnh vũ lực, với chiến tranh một lần nữa được coi là một công cụ chấp nhận được và thậm chí được ngưỡng mộ trong đời sống chính trị.

Đức Hồng Y Pizzaballa lưu ý rằng cuộc xung đột cũng được tiến hành thông qua lời nói và hình ảnh, đến mức ngày càng khó phân biệt sự thật với tuyên truyền. Ngài cũng viết về những hậu quả ở cấp địa phương: các mối quan hệ tan vỡ vì hận thù và nghi ngờ, các cộng đồng thu mình vào những vùng đất biệt lập, và sự phân mảnh dựa trên bản sắc bị gia tăng bởi mạng xã hội.

Theo ngài, điều đặc biệt nghiêm trọng là những tổn hại gây ra cho chính đời sống tôn giáo. Ngài cảnh báo rằng các thánh địa có nguy cơ trở thành chiến trường của bản sắc thay vì nơi cầu nguyện, trong khi các kinh sách thiêng liêng bị viện dẫn để biện minh cho bạo lực, xâm lược và khủng bố. Ngài nói rằng việc lạm dụng danh Chúa như vậy có thể là tội lỗi nghiêm trọng nhất của thời đại hiện nay.

Bức thư cũng đáng chú ý bởi tính tự kiểm điểm. Đức Hồng Y Pizzaballa nói rằng Giáo hội ở Giêrusalem đã cố gắng nói chuyện một cách trung thực và mạnh dạn giữa sự hỗn loạn, nhưng ngài công khai đặt câu hỏi liệu điều đó đã đủ hay chưa. Ngài tự hỏi liệu, vào những thời điểm áp lực lớn nhất, sự thận trọng và sự tồn tại của thể chế có phải trả giá bằng một lời chứng mang tính tiên tri hơn hay không. Ngài nói rằng đó là một câu hỏi làm ngài trăn trở mỗi ngày.

Thay vì đưa ra những lời an ủi dễ dãi, Đức Thượng phụ đặt câu hỏi liệu Giáo hội đã hoàn toàn sống đúng với sứ mệnh của mình trong thời kỳ đầy sợ hãi và bạo lực hay chưa. Tuy nhiên, hình ảnh chủ đạo vẫn tràn đầy hy vọng: Giêrusalem, không chỉ đơn thuần là một thành phố đang chịu áp lực, mà còn là một dấu hiệu tinh thần của sự hòa giải trong một thế giới đang đánh mất niềm tin vào hòa bình.

Bức thư của Đức Hồng Y Pizzaballa vừa mang âm hưởng than thở vừa là lời kêu gọi. Nó thừa nhận mức độ hỗn loạn sâu sắc trong khu vực, nhưng không cho phép các tín hữu Kitô giáo chỉ hài lòng với việc tồn tại mà thôi. Nhiệm vụ của Giáo hội tại Thánh Địa, như ngài trình bày, không chỉ là tồn tại giữa đống đổ nát của lịch sử, mà còn là làm chứng cho một trật tự hoàn toàn khác: một trật tự mà trong đó sự thật được nói ra không sợ hãi, lời cầu nguyện không bị lợi dụng cho lòng thù hận, và Giêrusalem một lần nữa trở thành nơi mà những vết thương của thế giới có thể bắt đầu được chữa lành.


Source:Catholic Herald
 
Thông qua Đức Hồng Y Tagle, Vatican gửi thông điệp hy vọng giữa căng thẳng vùng Vịnh
Vũ Văn An
19:19 02/05/2026

Antoine Mekary | ALETEIA


Daniel Esparza, trong bài báo đăng ngày 05/02/2026 trên tạp chí Aleteia, cho hay: Đức Hồng Y Tagle kêu gọi các Kitô hữu ở bán đảo Ả Rập hãy kiên định trong đức tin khi xung đột leo thang, đồng thời bảo đảm lời cầu nguyện và tình liên đới.

Thực vậy, Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle đã gửi một thông điệp ủng hộ tới các tín hữu Công Giáo ở bán đảo Ả Rập khi căng thẳng gia tăng trên khắp vùng Vịnh, khuyến khích họ giữ vững đức tin và hy vọng.

Bức thư, đề ngày 6 tháng 3 và gửi cho Giám mục Paolo Martinelli, được đưa ra trong bối cảnh bất ổn nghiêm trọng ảnh hưởng đến các cộng đồng địa phương. Viết trong vai trò là Phó tổng trưởng Bộ Truyền giáo, vị Hồng Y người Philippines bày tỏ “sự tham gia sâu sắc và mối quan ngại lớn” về tình hình đang diễn ra.

Năm 2011, Đại diện Tông tòa Ả Rập được chia thành hai: Tông Tòa Bắc Ả Rập (Bahrain, Qatar, Kuwait, Ả Rập Xê Út, với nơi cư trú của Giám mục tại Awali, Bahrain) và Tông Tòa Nam Ả Rập (Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Oman và Yemen, với nơi cư trú của Giám mục tại Abu Dhabi, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất).

Tại khu vực Trung Đông - Bắc Phi, Kitô hữu được cho là chỉ chiếm 3% dân số. Nhiều Kitô hữu ở vùng Vịnh là lao động nhập cư.

Đức Hồng Y Tagle yêu cầu sự gần gũi của ngài được chia sẻ với “mọi linh mục, mọi tu sĩ và tất cả các tín hữu” của tòa giám mục, thừa nhận áp lực của việc sống và làm chứng cho Tin Mừng trong điều kiện bất ổn. “Đức tin của cộng đồng các bạn tỏa sáng như một ngọn đèn sống động”, ngài viết, nhấn mạnh sức mạnh nâng đỡ của niềm tin trong thời kỳ khủng hoảng.

Một thử thách và một chứng từ

Đức Hồng Y nhấn mạnh những thách thức mà những người có cuộc sống bị xáo trộn bởi nỗi sợ hãi, sự bất an và hậu quả thực tiễn của xung đột phải đối diện. Ngài cũng lưu ý đến áp lực lên các cộng đồng buộc phải áp dụng các biện pháp phòng ngừa, đồng thời khẳng định rằng “sự hiệp thông huynh đệ trong Chúa Kitô vẫn là… nguồn nuôi dưỡng và an ủi cho dân Chúa”.

Thông điệp này mô tả thời điểm hiện tại vừa là một thử thách vừa là một chứng từ. Ngài gợi ý rằng các Kitô hữu trong khu vực đang làm chứng một cách thầm lặng nhưng hữu hình thông qua sự kiên trì. Ngài khuyến khích các tín hữu hãy tìm sức mạnh từ niềm tin rằng “Chúa không bỏ rơi dân Người”, ngay cả trong những thời khắc đen tối nhất.

Đức Hồng Y cũng đặt tình hình trong một bối cảnh tâm linh rộng lớn hơn, cầu khẩn sự chuyển cầu của Thánh Phanxicô Assisi trong năm thánh của ngài, và phó thác lời cầu nguyện cho hòa bình cho Đức Trinh Nữ Maria dưới tước hiệu Nữ Vương Hòa Bình. Lời kêu gọi của ngài bao gồm lời kêu gọi chấm dứt bạo lực và khôi phục sự ổn định trước khi cuộc khủng hoảng leo thang hơn nữa.

Thông điệp đề cập đến những cảnh báo gần đây của Đức Giáo Hoàng Leo XIV về những nguy hiểm của việc leo thang, nhấn mạnh mối quan ngại ở Vatican về tác động nhân đạo và tâm linh của cuộc xung đột. Đức Hồng Y Tagle kết luận bằng cách tái khẳng định tình liên đới và cam kết tiếp tục cầu nguyện cho Giáo hội ở Ả Rập, nhấn mạnh sự hiệp nhất bất chấp khoảng cách trong thời điểm bất ổn gia tăng.

Những người Kitô hữu ở Trung Đông là ai?

Hồi tháng 3, năm 2026, Aleteia đã đăng tải bài báo của Matthew Green nói về các Ki-tô hữu Trung Đông. Bài báo viết:

Những người Kitô hữu ở phần lớn Trung Đông từ lâu đã phải đối diện với sự đàn áp, và Iran là một trong những thủ phạm tồi tệ nhất. Thời gian sẽ cho thấy cuộc chiến hiện tại sẽ ảnh hưởng đến tình hình như thế nào.

Những người Kitô hữu ở Trung Đông từ lâu đã ở trong tình thế bấp bênh. Cuộc xung đột hiện tại giữa Israel và Hoa Kỳ một mặt, và Iran mặt khác, có khả năng sẽ làm cho tình hình của họ trở nên khó khăn hơn trong ngắn hạn, cả bên trong Iran và trên toàn khu vực.

Dưới đây là cái nhìn về những người Kitô hữu này là ai và họ sống ở đâu.

Ở khu vực Trung Đông - Bắc Phi, người Kitô hữu được cho là chỉ chiếm 3% dân số. Nhiều người Kitô hữu ở vùng Vịnh là lao động nhập cư. Tại Iran, người Kitô giáo chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ và bị đàn áp trong dân số (dưới 1%), dưới sự lãnh đạo của một Hồng Y. Bên cạnh sự đàn áp của chính quyền Hồi giáo, họ hiện đang có nguy cơ trở thành nạn nhân ngoài ý muốn của các cuộc tấn công nhằm vào chế độ Iran.

Theo các tổ chức tập trung vào vấn đề đàn áp tôn giáo, trong đó có Open Doors, chính phủ Hồi giáo gần đây đã cáo buộc một số người Kitô giáo Iran - đặc biệt là những người trở lại đạo - là gián điệp phương Tây. Trừ khi một chính phủ thân thiện hơn với Kitô giáo và phương Tây lên nắm quyền, dựa trên thực tế, dường như tình hình của họ sẽ chỉ trở nên tồi tệ hơn.

Một cuộc xung đột đang lan rộng

Tuy nhiên, vấn đề đối với người Kitô giáo ở Trung Đông không dừng lại ở đó. Iran đã trả đũa các cuộc tấn công của Mỹ và Israel bằng cách tấn công các căn cứ quân sự và đại sứ quán của Israel, Mỹ và Anh trên khắp khu vực. Đồng thời, nước này cũng tấn công các mục tiêu dân sự, chẳng hạn như sân bay và khách sạn, ở nhiều quốc gia khác nhau quanh Vịnh Ba Tư và Bán đảo Ả Rập.

Các quốc gia bị ảnh hưởng bao gồm Syria, Iraq, Kuwait, Jordan, Ả Rập Xê Út, Síp, Qatar, Azerbaijan và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất - và danh sách này đang ngày càng tăng. Chiến tranh đã và đang tàn phá cả Lebanon nữa, với việc Israel tấn công Hezbollah ở miền nam nước này; nhìn chung, người Kitô giáo chiếm khoảng 40% dân số Lebanon.

Ở tất cả các quốc gia này, ngoại trừ Síp, người Kitô giáo là thiểu số và thường xuyên phải đối diện với nhiều khó khăn — dù là bị bức hại trực tiếp, bị hạn chế tự do tôn giáo, hay bị ảnh hưởng bởi các cuộc xung đột khu vực rộng lớn hơn.

Mặc dù bản thân người Kitô giáo không phải là mục tiêu của các cuộc tấn công này, nhưng họ cũng bị ảnh hưởng như phần còn lại của dân chúng bởi bạo lực. Có thể hiểu được, nhiều người trong số họ có thể phải chạy trốn để tìm kiếm sự an toàn ở nơi khác, giống như một số lượng lớn người Kitô giáo trước đây, bị đe dọa bởi cả sự bức hại trong nước và các cuộc xung đột rộng lớn hơn. Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nhận xét vào năm 2024 rằng Trung Đông “đang bị tước đoạt các Kitô hữu”.

Phản ứng của các nhà lãnh đạo Giáo hội địa phương đối với tình hình

Vị Hồng Y của Iran đã biến mất khỏi tầm mắt công chúng kể từ khi bắt đầu cuộc xung đột mới nhất, mặc dù các tu sĩ dòng Phanxicô khác đã xác nhận rằng họ đã có một số liên lạc riêng với ngài. Năm ngoái, sau cuộc chiến 12 ngày với Israel, ngài đã nói chuyện với Aleteia.

“Trong thời đại vũ trang quá mức và ngoại giao suy yếu, Giáo hội phải thể hiện điều mà Đức Giáo Hoàng Leo XIV gọi là ‘một nền hòa bình không vũ trang và giải trừ vũ khí’”, ngài nói. “Đây không phải là một nền hòa bình dùng vũ lực hay chinh phục – mà là một nền hòa bình xoa dịu và mời gọi.”

“Ngoài việc giải trừ vũ khí,” ngài nói thêm, “Giáo hội phải giúp vun đắp sự bình an nội tâm – thông qua cầu nguyện, lòng thương xót và đối thoại. Chúng ta được kêu gọi thúc đẩy sự hòa giải, công lý và tình yêu thương, xây dựng một tương lai nơi phẩm giá và sự tha thứ ngự trị.”

“Trong bóng tối của chiến tranh, khi bạo lực dường như chiếm ưu thế, Chúa Kitô nhắc nhở chúng ta rằng sự vĩ đại thực sự nằm ở việc phục vụ người khác và hy sinh.”

Giám mục Aldo Berardi, Đại diện Tông tòa Bắc Ả Rập, đặt trụ sở tại Awali, Bahrain. Trong một cuộc phỏng vấn với Vatican News, ngài nói: “Khu vực này vốn đã rất phức tạp do địa chính trị và những hệ lụy kinh tế của nó, và giờ đây, với sự can thiệp của Israel và Mỹ, nó đã thả lỏng – tôi sẽ không nói là địa ngục – nhưng là điều gì đó mà chúng ta không ngờ tới.” Ngài giải thích rằng mặc dù các nhà thờ và tín hữu ở đó không phải là mục tiêu trực tiếp của các cuộc tấn công của Iran vào đất nước, “mảnh vỡ và các vụ nổ có thể làm hư hại các tòa nhà và trên hết là làm bị thương người dân.”

Ngài nói thêm: “Ở khu vực này của thế giới, những bất bình đã ăn sâu và kéo dài hàng thế kỷ. Vì vậy, khi bạo lực lớn tích tụ, khi phẩm giá và lòng tự trọng của các dân tộc bị xâm phạm, và khi các cuộc tấn công được thực hiện một cách bạo lực, thì phản ứng cũng bạo lực không kém.”

“Chúng ta phải cầu nguyện để hòa bình được lập lại và chúng ta không bị cuốn vào vòng xoáy này. [...] Có nguy cơ toàn bộ khu vực sẽ bùng nổ.”

Kêu gọi Đức Mẹ Ả Rập và Nữ Vương Hòa Bình

Về phần mình, Giám mục Paolo Martinelli, Đại diện Tông tòa của Nam Ả Rập, cũng đã lên tiếng. Nhắc lại thông điệp của Đức Giáo Hoàng Leo gửi đến khu vực, ngài nói với Vatican News rằng điều quan trọng là “phải bắt đầu lại bằng ngoại giao và đối thoại, để chúng ta có thể loại bỏ tất cả những trở ngại trước mắt nhằm thúc đẩy hòa bình và hòa giải giữa các dân tộc.”

Ngài cũng nhấn mạnh rằng “Điều rất quan trọng đối với chúng ta là phải luôn ghi nhớ cuộc sống thường nhật của người dân, hạnh phúc của những người khao khát một cuộc sống hòa bình dựa trên công lý.”

Trong một cuộc phỏng vấn với Vatican News, Đức Tổng Giám Mục Eugene Nugent, Sứ thần Tòa Thánh tại Kuwait, Bahrain và Qatar, đã mô tả tình hình “đáng buồn và ngày càng tồi tệ” ở đó, nơi tên lửa và máy bay không người lái của Iran đã tấn công sân bay và đại sứ quán Mỹ. Ngài nói: “Chúng tôi vẫn giữ liên lạc với chính quyền và các đại sứ, ít nhất là để khuyến khích họ sử dụng mọi biện pháp có thể để chấm dứt cuộc chiến này. Đáng buồn thay, một khi chiến tranh bắt đầu, không ai biết khi nào nó sẽ kết thúc.”

“Chúng tôi đã sống trong khu vực này hàng thế kỷ. Mỗi quốc gia đều có bổn phận tìm kiếm hòa bình và hòa hợp. Chúng tôi cầu nguyện rất nhiều cho điều này.” Các tín hữu Công Giáo ở đó hướng về “Đức Mẹ Ả Rập”, người mà họ hết lòng sùng kính. “Trong thời điểm đầy kịch tính này, chúng tôi cầu nguyện rất nhiều với Đức Trinh Nữ, Nữ Vương Hòa Bình. Chính nhờ sự cầu bầu của Mẹ với Con trai Mẹ mà chiến tranh sẽ chấm dứt.”

Bách hại Kitô hữu ở Iran

Open Doors là một tổ chức liên giáo phái và phi giáo phái theo dõi tình trạng bách hại Kitô hữu trên toàn thế giới. Tổ chức này xếp Iran ở vị trí thứ mười trong Danh sách Theo dõi Thế giới với mức độ bách hại “cực đoan” (vị trí đầu tiên thuộc về Triều Tiên). Tuy nhiên, trang web này lưu ý rằng tình hình có thể đã trở nên tồi tệ hơn kể từ khi Israel và Hoa Kỳ phát động chiến tranh chống lại Iran vào ngày 28 tháng 2.

Như cả Open Doors và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đều lưu ý, việc cải đạo từ Hồi giáo sang Kitô giáo là bất hợp pháp và những người cải đạo bị bách hại và bỏ tù nghiêm trọng. Họ cũng thường bị coi là có cảm tình với “phương Tây” hoặc là đặc vụ của “tuyên truyền chủ nghĩa Phục quốc Do Thái”. Điều này đặt họ vào vị thế nguy hiểm trong thời điểm xung đột giữa Iran và các cường quốc phương Tây. Gần đây, Kitô hữu cũng bị cáo buộc làm gián điệp. Open Doors cáo buộc rằng, ở mức độ nhẹ nhất, Kitô hữu bị đối xử như công dân hạng hai. Nhiều người chọn cách chạy trốn khỏi đất nước.

Thực tế có bao nhiêu người theo Ki-tô giáo ở Iran?

Iran có dân số hơn 80 triệu người, đại đa số là người Hồi giáo, chủ yếu là phái Shi'a. Chưa đến 1% dân số theo các tôn giáo khác, chủ yếu là Baha'ism, Ki-tô giáo và Zoroastrianism.

Trong số những người theo Ki-tô giáo, đa số là người Chính thống Armenia. Chỉ có khoảng 2,000 đến 6,000 người Công Giáo La Tinh ở Iran, với một Hồng Y Công Giáo La Tinh, tổng giám mục Tehran-Isfahan: một tu sĩ dòng Phanxicô người Bỉ 63 tuổi tên là Dominique Mathieu. Quốc gia này cũng có một tổng giám mục Công Giáo Chaldean, Imad Khoshaba Gargees.

Mặc dù người theo Ki-tô giáo, Do Thái giáo và Zoroastrianism được công nhận là các nhóm thiểu số chính thức theo hiến pháp năm 1979 của Iran, kết quả của cuộc cách mạng Hồi giáo, nhưng quyền tự do tôn giáo của các nhóm thiểu số kể từ đó đã bị hạn chế nghiêm trọng, cả chính thức và không chính thức.

Thật vậy, như Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã lưu ý trong báo cáo năm 2023 về tự do tôn giáo, nhiều người theo đạo Ki-tô giáo hoạt động bí mật, vì vậy tổng số người theo Ki-tô giáo không được biết rõ. Báo cáo đưa ra các ước tính dao động từ dưới 200,000 đến hơn 1,000,000 người. Các nguồn khác lại cho rằng con số này nằm trong khoảng từ 1 đến 3 triệu người.

Trên thực tế, một số nguồn (chủ yếu là Thệ phản và Thệ phản Tin Lành) cho rằng Iran có “một trong những phong trào Ki-tô giáo phát triển nhanh nhất thế giới”. Tuy nhiên, rất ít bằng chứng dễ dàng tìm thấy để xác nhận điều này.

Dù số lượng của họ là bao nhiêu, chúng ta cùng cầu nguyện cho hòa bình và tự do tôn giáo ở Iran và khắp khu vực.
 
VietCatholic TV
Kyiv nổ tung 4 Sukhoi Nga cách xa 1750km. Đòn kết liễu Iran. Cựu Giám đốc FBI dọa ám sát TT Trump?
VietCatholic Media
02:42 02/05/2026


1. Quân đội Ukraine xác nhận đã tấn công một phi trường của Nga cách đó gần 1.700 km, làm hư hại 4 máy bay chiến đấu.

Máy bay điều khiển từ xa của Ukraine đã tấn công bốn máy bay chiến đấu của Nga, bao gồm hai chiếc Su-57, một chiếc Su-34 và một máy bay khác không rõ loại, tại phi trường Shagol ở Chelyabinsk, Nga. Chỉ huy Lực lượng Hệ thống Điều khiển từ xa Robert “Magyar” Brovdi cho biết như trên hôm Thứ Sáu, 01 Tháng Năm.

Trước đó, Bộ Tổng tham mưu Ukraine báo cáo rằng hai máy bay chiến đấu – một chiếc Su-57 và một chiếc Su-34 – đã bị phá hủy trong cuộc tấn công vào phi trường. Thông tin cập nhật từ Lực lượng Hệ thống Điều khiển từ xa cho thấy thiệt hại còn nghiêm trọng hơn. Thiếu Tá Brovdi khẳng định 4 chiếc chứ không chỉ có 2 như báo cáo trước đó.

Hình ảnh vệ tinh do Brovdi công bố cho thấy tàn tích của một phương tiện dùng để bảo dưỡng máy bay Nga. Vị chỉ huy này cho biết thêm rằng các máy bay chiến đấu bị hư hại đã được chuyển đến các nhà chứa máy bay để giấu kín sau vụ tấn công.

Theo Bộ Tổng tham mưu, các máy bay bị hư hại nằm cách biên giới Ukraine khoảng 1.700 km.

[Kyiv Independent: Ukraine strikes Russian airfield nearly 1,700 kilometers away, damages 4 fighter jets, military confirms]

2. Cuộc tấn công “đòn kết liễu” nhằm vào Iran có thể diễn ra như thế nào khi vũ khí mới được hé lộ?

Iran đã cảnh báo về việc trả đũa trên quy mô lớn đối với các cuộc tấn công của Mỹ sau khi có thông tin cho rằng Washington đang cân nhắc một “đòn kết liễu” nhằm vào Cộng hòa Hồi giáo.

Theo các báo cáo, quân đội Mỹ đã trình bày với Tổng thống Trump những phương án mới nhằm chống lại Iran trong bối cảnh các cuộc đàm phán nhằm giải phóng eo biển Hormuz, nơi Tehran đang kiểm soát, bị đình trệ.

Các cuộc tấn công phối hợp giữa Mỹ và Israel vào Iran bắt đầu vào ngày 28 tháng 2. Ngày 8 tháng 4, một thỏa thuận ngừng bắn được công bố thông qua sự trung gian của Pakistan, nhưng các cuộc đàm phán vài ngày sau đó tại Islamabad đã không đạt được một thỏa thuận đột phá. Trong khi thỏa thuận ngừng bắn mong manh mà Tổng thống Trump tuyên bố vẫn còn hiệu lực, Tư lệnh Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran, Chuẩn tướng Ahmad Vahidi, cho biết bất kỳ cuộc tấn công nào nữa của Mỹ vào Iran sẽ dẫn đến “các cuộc tấn công kéo dài và gây tổn thất nặng nề” vào các vị trí của Mỹ trong khu vực.

Không một 'vua Ả Rập' nào sẽ được an toàn

Theo truyền thông địa phương đưa tin hôm Thứ Sáu, 01 Tháng Năm, ông nói: “Chúng tôi đã thấy những gì xảy ra với các căn cứ khu vực của các ông rồi. Chúng tôi sẽ thấy điều tương tự xảy ra với các tàu chiến của các ông.”

Ông Mahmoud Nabavian, một thành viên của ủy ban an ninh quốc gia và chính sách đối ngoại của quốc hội, cho biết hôm thứ Sáu rằng các nhà lãnh đạo Ả Rập trong khu vực cũng sẽ gặp rủi ro nếu Mỹ phát động các cuộc tấn công.

Theo hãng tin độc lập Iran International, ông nói: “Không một vị vua nào của các nước Ả Rập hay cung điện nào của họ trong khu vực sẽ được an toàn, và tất cả sẽ bị đày xuống địa ngục”, đồng thời cảnh báo các quốc gia không được phép sử dụng các căn cứ quân sự chống lại Cộng hòa Hồi giáo Iran.

Một giáo sĩ nổi tiếng, Mohammad Saeedi, cũng bày tỏ nghi ngờ về khả năng của Mỹ trong việc bảo đảm an ninh cho các tài sản của mình trong khu vực, nói rằng hôm thứ Sáu: “Mỹ thậm chí không thể bảo đảm an ninh cho chính các căn cứ của mình”. Ông nói thêm rằng việc triển khai quân sự của Mỹ góp phần gây bất ổn hơn là ổn định.

Michael Clarke, Giáo sư thỉnh giảng về Nghiên cứu Quốc phòng tại King's College Luân Đôn nói với Sky News: “Mục tiêu của một đợt tấn công ngắn và mạnh mẽ là để chứng minh khả năng quân sự của Mỹ trước khi Mỹ đồng ý thỏa hiệp với chính phủ Iran.”

Theo Axios đưa tin, dẫn nguồn tin giấu tên, Tư lệnh CENTCOM của Mỹ, Đô đốc Brad Cooper và Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, Tướng Dan Caine, đã báo cáo với Tổng thống Trump về các phương án, trong đó có một đợt tấn công “ngắn gọn và mạnh mẽ” vào cơ sở hạ tầng của Iran.

Fox News đưa tin rằng các mục tiêu được đánh giá bao gồm “các tài sản quân sự còn lại, giới lãnh đạo và cơ sở hạ tầng” của Iran. Một kế hoạch khác tập trung vào việc chiếm giữ một phần eo biển Hormuz để mở lại cho hoạt động vận chuyển thương mại, một động thái có thể huy động lực lượng mặt đất.

Tờ Iran International cũng đưa tin rằng phương án được đưa ra cho Tổng thống Trump là triển khai lực lượng bộ binh Mỹ đến các hòn đảo nhỏ xung quanh eo biển Hormuz. Một phương án khác liên quan đến việc cử lực lượng đặc nhiệm vào khu vực Isfahan để thu giữ uranium được làm giàu cao của Iran, mà chính quyền Trump tuyên bố có thể được sử dụng để phát triển thành vũ khí hạt nhân. Tehran khẳng định chương trình hạt nhân của họ nhằm mục đích hòa bình.

Giáo sư Clarke cho biết chính quyền Trump khẳng định họ có thể kiểm soát eo biển, nhưng bất kỳ binh lính nào đóng quân trên các hòn đảo như Qeshm hay Abu Musa đều sẽ bị lộ diện và có nguy cơ cao bị tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa hoặc hỏa tiễn của Iran.

Tuy nhiên, điều này có thể không mang lại lợi ích gì vì Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo, gọi tắt là IRGC vẫn có thể tiến hành các cuộc tấn công vào tàu thuyền từ bờ biển Iran.

“Việc triển khai quân có thể chỉ giúp cho các cuộc phản công diễn ra nhanh hơn một chút. Quân đội đóng tại Isfahan sẽ ít bị tấn công hơn so với các đơn vị đóng trên các hòn đảo trong eo biển, nhưng sẽ nhanh chóng bị quân đội Iran tấn công trên bộ”, Clark nói. “Việc khai quật địa điểm để thu hồi uranium sẽ mất nhiều tuần, trong thời gian đó Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo, gọi tắt là IRGC và quân đội Iran có thể tấn công lực lượng Mỹ.”

Vuk Vuksanovic, một cộng tác viên tại viện nghiên cứu LSE IDEAS thuộc Trường Kinh tế Luân Đôn, nói với Newsweek rằng bất kỳ nỗ lực nào nhằm chiếm giữ một phần eo biển Hormuz hoặc truy tìm uranium làm giàu của Iran đều sẽ biến lực lượng Mỹ thành mục tiêu tấn công.

Điều này đặc biệt đúng nếu Mỹ đổ bộ lên một trong những hòn đảo gần eo biển, nơi có thể bị tấn công từ đất liền bằng máy bay điều khiển từ xa và hỏa tiễn.

Ông nói: “Iran vẫn có lợi thế về địa lý, có lợi cho bên phòng thủ. Cuộc tấn công của lực lượng đặc nhiệm nhằm chiếm giữ kho dự trữ uranium của Iran sẽ là một chiến dịch vô cùng nguy hiểm, vì người Iran rất có thể đã cất giữ uranium trong các cơ sở được phòng thủ kiên cố, đặc biệt là sau các cuộc tấn công của Mỹ vào các cơ sở hạt nhân của Iran năm 2025.”

Trong khi Mỹ có thể quyết định tiếp tục tấn công vào cơ sở hạ tầng của Iran và bất kỳ mục tiêu quân sự nào mà họ có thể xác định một cách đáng tin cậy, Vuksanovic nói thêm rằng cuộc xung đột “đã dạy chúng ta rằng người Iran sẽ không nhượng bộ vì họ coi cuộc xung đột này là vấn đề sống còn, và khả năng chịu đựng của họ cao hơn so với Mỹ”.

Hỏa tiễn siêu thanh Dark Eagle

Fox News cũng đưa tin rằng Ngũ Giác Đài đang xem xét triển khai các hệ thống vũ khí tiên tiến, bao gồm cả một loại hỏa tiễn siêu thanh mới có tên gọi “Đại Bàng Đen”. Nguồn tin này cho biết hệ thống này có thể tấn công các mục tiêu cách xa tới 2.000 dặm, có khả năng tiêu diệt các bệ phóng hỏa tiễn đạn đạo còn lại của Iran.

Hệ thống được gọi là Vũ khí siêu thanh tầm xa (Long-Range Hypersonic Weapon) vẫn chưa được tuyên bố hoạt động đầy đủ, nhưng có thể đánh dấu lần đầu tiên Mỹ triển khai vũ khí siêu thanh trong một cuộc xung đột thực tế, theo báo cáo của Army Recognition.

Theo Bloomberg, CENTCOM đã gửi yêu cầu chính thức về việc triển khai, mặc dù chưa có quyết định cuối cùng nào được đưa ra.

Theo Bloomberg, dẫn lời một nguồn tin giấu tên am hiểu vấn đề, lực lượng Iran đã di dời các bệ phóng hỏa tiễn đạn đạo của họ ra khỏi tầm bắn của hỏa tiễn tấn công chính xác, gọi tắt là PRM có tầm bắn 300 dặm, dẫn đến yêu cầu từ CENTCOM.

Hỏa tiễn này sử dụng một phương tiện lượn siêu thanh có thể di chuyển với tốc độ gấp hơn năm lần tốc độ âm thanh—đồng thời thực hiện các thao tác cơ động giữa không trung, khiến việc đánh chặn trở nên khó khăn.

Fox News cũng đưa tin rằng máy bay ném bom B-1B Lancer của Mỹ, có thể mang theo tới 5.000 pound vũ khí siêu thanh, đã được tăng cường hoạt động ở Trung Đông.

Không có dấu hiệu nào cho thấy Iran nhượng bộ.

Đáp lại các mối đe dọa mới nổi, lãnh đạo tối cao Iran Mojtaba Khamenei tuyên bố rằng Tehran sẽ tiếp tục kiểm soát hoạt động vận chuyển hàng hải qua eo biển Hormuz và duy trì năng lực hạt nhân và hỏa tiễn của mình.

Trong phân tích mới nhất, Viện Nghiên cứu Chiến tranh cho biết chính quyền Tehran khó có thể đưa ra bất kỳ nhượng bộ đáng kể nào trong đề xuất tiếp theo gửi tới Hoa Kỳ.

Viện nghiên cứu này cũng cho biết hôm thứ Năm rằng Iran đang cố gắng gieo rắc sự chia rẽ giữa các quốc gia vùng Vịnh và Mỹ để gây áp lực buộc các nước vùng Vịnh trục xuất quân đội Mỹ khỏi lãnh thổ của họ.

[Newsweek: What ‘Final Blow’ Attack on Iran Might Look Like as New Weapon Teased?]

3. Bản cáo trạng ‘86 47’ của James Comey dường như là tin xấu đối với nhiều người — bao gồm cả Tổng thống Trump.

Bản cáo trạng thứ hai của chính quyền Trump đối với cựu Giám đốc FBI James Comey dường như đang đứng trên một con dốc rất trơn trượt.

Cáo buộc hình sự đối với Comey là đăng tải hình ảnh những vỏ sò được sắp xếp thành chữ “86 47”. Thuật ngữ “86” là tiếng lóng trong giới giang hồ ở Mỹ thường được dùng để chỉ việc trừ khử hoặc loại bỏ một thứ gì đó, và Ông Donald Trump là tổng thống thứ 47. Chính quyền đã lập luận ngay từ đầu rằng đó là một lời đe dọa giết chết Tổng thống Trump.

Tuy nhiên, theo logic đó, nhiều người Mỹ, bao gồm cả một số đồng minh nổi bật của Tổng thống Trump, có thể bị buộc tội hoặc ít nhất là bị điều tra.

Thật trớ trêu khi Bộ Tư pháp của chính quyền Trump hiện đang điều tra và đưa ra cáo trạng về những nội dung nghe có vẻ đe dọa một cách mơ hồ, trong khi chính Tổng thống Trump lại có lịch sử lâu dài sử dụng những lời lẽ như vậy.

Về mặt lý thuyết, hoàn toàn có thể có một số bằng chứng buộc tội cho thấy Comey hiểu rằng chức vụ của ông ta là một mối đe dọa thực sự (là điều mà Bộ Tư pháp phải chứng minh). Bản cáo trạng dài ba trang của Bộ Tư pháp không đi sâu vào chi tiết.

Hồi tháng 5, khi chính quyền lần đầu tiên nêu vấn đề này, Comey nói rằng ông không nhận ra con số “86” có thể mang hàm ý bạo lực và đã nhanh chóng xóa bài đăng.

Nhưng nguyên tắc “dao cạo Occam” dường như chỉ ra rằng đây là một vụ án được xây dựng khá yếu. Trước đây, Tổng thống Trump đã nói rõ rằng ông muốn truy tố Comey và, khi cáo trạng đầu tiên chống lại cựu giám đốc FBI không thành công, tổng thống và các quan chức khác trong chính quyền đã nhanh chóng tuyên bố bài đăng về các vỏ sò là một lời đe dọa trước khi bất kỳ cuộc điều tra nào thực sự được tiến hành. Thêm vào đó, đây không phải là vụ án yếu kém đầu tiên chống lại kẻ thù của Tổng thống Trump.

Ngay cả một số học giả pháp lý bảo thủ và đồng minh của Tổng thống Trump cũng khá hoài nghi về những cáo buộc chống lại Comey.

Một phần vấn đề của chính phủ có thể là chứng minh rằng đây không phải là hành vi truy tố có chọn lọc. Nhiều người khác đã sử dụng cụm từ “86” mà không bị hiểu là lời đe dọa.

Có lẽ ví dụ nổi bật nhất là việc Jack Posobiec, một người có ảnh hưởng ủng hộ Tổng thống Trump, đăng tải dòng chữ “86 46” vào năm 2022. Đó là dòng chữ giống hệt như Comey đã đăng, chỉ khác là thay Tổng thống Biden (là tổng thống thứ 46) bằng Tổng thống Trump. (Posobiec tuyên bố bài đăng của Comey là lời kêu gọi ám sát, nhưng bài đăng về Tổng thống Biden của ông ta vẫn còn tồn tại đến ngày nay.)

[CNN: James Comey’s ‘86 47’ indictment would seem to be bad news for lots of people — including Trump]

4. Robot rà phá bom mìn của Ukraine có thể giúp Mỹ mở cửa eo biển Hormuz như thế nào?

Eo biển Hormuz gần như hoàn toàn bị đóng cửa đối với giao thông đường thủy kể từ khi Iran thả thủy lôi qua eo biển này vào tháng 3. Cho đến khi các chất nổ được gỡ bỏ, 20% lượng năng lượng của thế giới thường đi qua eo biển này có thể bị đình trệ. Các chuyên gia cho rằng quá trình này có thể mất nhiều tháng, vì Mỹ không sở hữu các công cụ nội địa cần thiết để mở lại eo biển.

Mặt khác, Ukraine lại có nhiều kinh nghiệm hơn bất kỳ quốc gia nào khác trong các hoạt động rà phá bom mìn gần đây. Kể từ năm 2022, Nga đã thả hàng ngàn quả mìn xuống Hắc Hải, báo trước hành động phong tỏa eo biển Hormuz của Iran bằng cách sử dụng chất nổ dưới nước để ngăn chặn các tàu thuyền cập cảng Hắc Hải của Ukraine.

Ban đầu, Ukraine dựa vào các thợ lặn để rà phá bom mìn, nhưng trong hơn bốn năm, nước này đã phát triển các giải pháp tiên tiến như TLK-150 - một máy bay điều khiển từ xa dưới nước dài 2,4 mét, nặng khoảng 22,7 kg, được sử dụng để lập bản đồ các bãi mìn nằm dưới mặt Hắc Hải.

Tổng thống Zelenskiy cho biết ông đã đề nghị với Tổng thống Trump là Ukraine sẵn sàng giúp rà phá thủy lôi. Tuy nhiên, lời đề nghị này đã bị từ chối.

Cựu Bộ Trưởng Ngoại Giao Ukraine Dmytro Kuleba giải thích:

“Trump đã từ chối lời đề nghị của Tổng thống Zelenskiy vì một lý do rất đơn giản. Ông ấy không muốn mắc nợ Ukraine vì ông ấy có kế hoạch khác. Và nếu bạn mắc nợ ai đó, thì điều đó có nghĩa là bạn phải trả lại. Và ông ấy không muốn tự ràng buộc mình bằng loại cam kết đó. Thứ hai, tôi nghĩ Trump thậm chí sẽ coi đó là một sự sỉ nhục nếu phải thừa nhận rằng ông ấy không thể giải quyết vấn đề Iran mà không có sự hỗ trợ của Ukraine. Ngoài ra, vấn đề cái tôi cũng đóng một vai trò ở đây.”

Khi được hỏi về “kế hoạch khác” của Tổng thống Trump, Kuleba nói “Tôi tin rằng lập trường của ông ấy rất rõ ràng và nhất quán. Ông ấy muốn tìm cách gây áp lực buộc Ukraine nhượng lãnh thổ cho Nga bằng việc rút quân khỏi phần còn lại của Donbas mà Ukraine đang kiểm soát, như một cách để thiết lập lệnh ngừng bắn ở Ukraine. Và ông ấy sẽ tiếp tục thúc đẩy kịch bản này.”

[CBSNews: How Ukraine's demining robots could help U.S. open the Strait of Hormuz]

5. Kyiv sẽ mua 8.000 máy bay điều khiển từ xa đánh chặn Octopus cho quân đội Ukraine.

Hôm Thứ Sáu, 01 Tháng Năm, Bộ trưởng Quốc phòng Mykhailo Fedorov cho biết Bộ Quốc Phòng Ukraine đang mua 8.000 máy bay điều khiển từ xa đánh chặn Octopus cho quân đội nước này.

Octopus là một loại máy bay đánh chặn tự hành do Ukraine sản xuất, được thiết kế để bắn hạ các máy bay điều khiển từ xa tấn công kiểu Shahed. Ukraine bắt đầu sản xuất hàng loạt máy bay điều khiển từ xa Octopus vào mùa thu năm 2025.

Theo Bộ Trưởng Fedorov, việc mua 8.000 hỏa tiễn đánh chặn Octopus nhằm mục đích tăng cường khả năng phòng không và gia tăng số lượng mục tiêu địch bị tiêu diệt.

Ông nhấn mạnh rằng các hệ thống đã được thử nghiệm trong chiến đấu đã chứng minh “hiệu quả ổn định” trong việc đánh chặn các mục tiêu trên không trong nhiều điều kiện khác nhau. Máy bay điều khiển từ xa Octopus có thể hoạt động thành công cả ngày lẫn đêm, ở độ cao thấp và dưới ảnh hưởng của các hệ thống tác chiến điện tử, gọi tắt là EW.

Ông cho biết thêm: 29 công ty Ukraine có giấy phép cần thiết đã hợp tác với chính phủ Anh trong nỗ lực sản xuất. Bốn nhà sản xuất đã ký hợp đồng với nhà nước để cung cấp máy bay điều khiển từ xa.

Ông khẳng định điều này sẽ cho phép “mở rộng quy mô nhanh chóng công nghệ”.

“Bộ Quốc phòng bảo đảm một chu trình mở rộng hoàn chỉnh — từ chuyển giao công nghệ đến mua sắm và giao hàng cho quân đội,” Bộ trưởng Fedorov nói.

“Điều này cho phép chúng tôi nhanh chóng tăng cường sản xuất và đáp ứng nhu cầu của mặt trận. Đồng thời, nó thể hiện sự phát triển của tổ hợp công nghiệp quốc phòng Ukraine và là một ví dụ về quan hệ đối tác công tư hiệu quả, nơi các công nghệ chiến đấu được nhanh chóng mở rộng quy mô để sản xuất hàng loạt.”

Kyiv đã nhanh chóng phát triển năng lực máy bay điều khiển từ xa của mình kể từ năm 2022, từ việc cải tiến máy bay thương mại đến sản xuất máy bay điều khiển từ xa tấn công và hệ thống trinh sát trên quy mô lớn. Ukraine cũng đã hợp tác với các đối tác nước ngoài để thúc đẩy phát triển quốc phòng và năng lực sản xuất.

Ukraine và Anh đã ký một thỏa thuận cấp phép sản xuất máy bay điều khiển từ xa đánh chặn Octopus vào tháng 11 năm 2025.

Octopus chỉ là một trong số nhiều máy bay điều khiển từ xa đánh chặn đang được phát triển. Fedorov đưa tin vào ngày 23 tháng 4 rằng Ukraine là quốc gia đầu tiên mở rộng quy mô sử dụng máy bay điều khiển từ xa đánh chặn điều khiển từ xa có khả năng tấn công tầm xa.

[Kyiv Independent: Kyiv to buy 8,000 Octopus interceptor drones for Ukrainian military]

6. Estonia muốn huy động lực lượng NATO tham gia chống lại các mối đe dọa từ quân Nga.

Theo đài truyền hình công cộng ERR của Estonia đưa tin ngày 1 tháng 5, chính phủ nước này đã ủng hộ một dự luật cho phép lực lượng của các đồng minh NATO đóng quân tại nước này tham gia chống lại các mối đe dọa hỗn hợp.

Dự luật này, hiện vẫn cần sự chấp thuận của quốc hội, sẽ mở rộng vai trò thực thi pháp luật của quân đội Estonia trong việc đối phó với các mối đe dọa như “người ngoài hành tinh tí hon màu xanh lá cây”.

Thuật ngữ này lần đầu tiên được sử dụng để chỉ các binh lính Nga được triển khai trong thời kỳ xâm lược Crimea và sự bùng nổ cuộc chiến tranh xâm lược Ukraine của Mạc Tư Khoa năm 2014.

Estonia, một quốc gia thành viên NATO và Liên Hiệp Âu Châu giáp biên giới với Nga, đã phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất từ chiến tranh hỗn hợp của Mạc Tư Khoa, đối mặt với các cuộc tấn công mạng và các cuộc xâm nhập bằng máy bay chiến đấu.

Hồi tháng 10 năm ngoái, Tallinn cáo buộc Mạc Tư Khoa có những hành động khiêu khích khi một nhóm binh lính không phù hiệu được phát hiện gần biên giới Estonia, khiến chính quyền Estonia phải tạm thời hạn chế giao thông.

Dự luật mới, do Bộ Quốc phòng Estonia soạn thảo, cũng sẽ mở rộng vai trò của quân đội trong việc giải quyết áp lực di cư tại biên giới phía đông của Liên Hiệp Âu Châu.

Trước đây, Belarus từng bị cáo buộc gây ra cuộc khủng hoảng di cư bằng cách hướng dòng người di cư đến Ba Lan và các quốc gia Baltic.

Theo dự thảo luật, quân đội NATO dưới sự chỉ huy của quân đội Estonia có thể được triển khai để chống lại các mối đe dọa hỗn hợp trên bộ và trên biển, ngay cả khi không có mối đe dọa quân sự trực tiếp nào.

Khoảng 2.000 binh sĩ liên quân do Anh dẫn đầu đóng quân thường trực tại căn cứ quân sự Tapa, cách Tallinn khoảng 70 km về phía đông.

Hồi tháng 4, Tổng thống Volodymyr Zelenskiy cảnh báo rằng Nga có thể huy động lực lượng trong tương lai gần để phát động một cuộc tấn công chống lại một trong các quốc gia Baltic.

Các quan chức Estonia đã bác bỏ cảnh báo này, khẳng định không có mối đe dọa nào sắp xảy ra đối với đất nước.

[Kyiv Independent: Estonia wants to involve NATO forces in countering 'little green men' threats]

7. Chế độ Iran đang thay đổi — và người lên nắm quyền là một vấn đề đối với Tổng thống Trump.

Trong bối cảnh Tổng thống Trump tuyên bố có dấu hiệu rối loạn trong giới lãnh đạo thời chiến của Iran, một nhân vật chủ chốt dường như đang tích lũy ảnh hưởng đáng kể, là điều có thể định hình vị thế của Cộng hòa Hồi giáo trên chiến trường và bàn đàm phán.

Và có lẽ ông ta không phải là kiểu nhân vật mà Tòa Bạch Ốc muốn thấy ở vị trí lãnh đạo.

Trong khi Ayatollah Mojtaba Khamenei đảm nhận chức vụ lãnh đạo tối cao sau vụ ám sát cha mình và Chủ tịch Quốc hội Mohammed Bagher Ghalibaf thu hút sự chú ý trong các cuộc đàm phán, sự trỗi dậy của Chuẩn tướng Ahmad Vahidi có thể chứng tỏ là sự kiện có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong số nhiều thay đổi đang diễn ra trong cơ cấu quyền lực nội bộ phức tạp của Iran.

Vahidi được bổ nhiệm làm nhà lãnh đạo Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo, gọi tắt là IRGC sau khi người tiền nhiệm của ông, Mohammad Pakpour, bị ám sát trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh do Mỹ và Israel phát động chống lại Iran hai tháng trước. Vị trí này khiến ông trở thành mục tiêu hàng đầu, bởi Pakpour chỉ mới đảm nhiệm vai trò này sau khi cựu chỉ huy IRGC Hossein Salami bị Israel sát hại trong Chiến tranh 12 ngày hồi tháng 6 năm ngoái.

Nhưng lý lịch của Vahidi lại rất đặc biệt. Ngoài việc từng giữ chức phó tư lệnh Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo, gọi tắt là IRGC, bộ trưởng nội vụ dưới thời cựu Tổng thống Ebrahim Raisi và bộ trưởng quốc phòng dưới thời cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad, Vahidi còn là người sáng lập kiêm chỉ huy trưởng Lực lượng Quds tinh nhuệ, sau này do Thiếu tướng Soleimani lãnh đạo cho đến khi ông thiệt mạng trong một cuộc tấn công của Mỹ năm 2020 theo lệnh của Tổng thống Trump.

Ngày nay, khi Cộng hòa Hồi giáo Iran đang đối mặt với thử thách nghiêm trọng nhất kể từ cuộc chiến tranh Iran-Iraq những năm 1980, thời điểm mà Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo, gọi tắt là IRGC và Lực lượng Quds được hình thành, “Ahmad Vahidi mới là người nắm quyền quyết định”, Kamran Bokhari, một nhà dự báo chiến lược và nghiên cứu viên cao cấp tại Hội đồng Chính sách Trung Đông, người đã viết nhiều về sự phát triển nội bộ của giới lãnh đạo Iran, nói với Newsweek.

[Newsweek: Iran’s Regime Is Changing—And the Man Taking Over Is a Problem for Trump]

8. Chủ tịch Quốc hội Iran chế giễu khả năng phong tỏa biên giới nước này của Mỹ.

Mohammad Bagher Ghalibaf, Chủ tịch Quốc hội Iran, đã chỉ trích khả năng phong tỏa biên giới Iran rộng lớn của Hoa Kỳ - và cũng mỉa mai sự hiểu biết về hệ thống đo đạc của Bộ trưởng Chiến tranh Pete Hegseth.

“Nếu xây hai bức tường, một từ New York đến bờ Tây và một từ Los Angeles đến bờ Đông, tổng chiều dài sẽ là 7.755 km, vẫn còn ngắn hơn khoảng 1.000 km so với tổng chiều dài biên giới của Iran. Chúc may mắn khi phong tỏa một quốc gia có đường biên giới như vậy,” Ghalibaf nói, kèm theo biểu tượng mặt cười để nhấn mạnh.

Ghalibaf sau đó đã thêm một lời nhắn vào cuối tin nhắn của mình: “Tái bút gửi Pete Hegseth: 1 km = 0,62 dặm”

Trong phiên điều trần tại Thượng viện hôm thứ Năm, nhiều đảng viên Dân chủ đã chỉ ra rằng eo biển Hormuz không được mở và điều đó đang gây ra khó khăn kinh tế cho người dân Mỹ. Ông Hegseth đáp lại rằng việc phong tỏa có nghĩa là “chúng ta kiểm soát eo biển”.

Trong khi đó, Tổng thống Iran cho rằng các cuộc tấn công trước đây trong quá trình đàm phán đã dẫn đến “sự mất lòng tin hoàn toàn đối với Hoa Kỳ”.

Theo chính phủ Iran, các cuộc tấn công của Mỹ và Israel được phát động trước đó trong các cuộc đàm phán với Iran đã dẫn đến việc mất hoàn toàn lòng tin vào Hoa Kỳ.

Theo một tuyên bố, trong cuộc điện đàm với tổng thống Belarus Alexander Lukashenko, một đồng minh thân cận của Vladimir Putin, ông Pezeshkian “nhấn mạnh rằng giải quyết tranh chấp thông qua đối thoại và ngoại giao luôn là phương hướng của Iran”.

“Tuy nhiên, trong quá trình đàm phán, Mỹ và chế độ Zionist đã hai lần tấn công Iran, và những hành động như vậy có thể lặp lại, dẫn đến việc Iran hoàn toàn mất lòng tin vào Hoa Kỳ.”

Cả các cuộc tấn công của Mỹ và Israel được phát động vào ngày 28 tháng 2, và các cuộc tấn công phối hợp được thực hiện vào tháng 6 năm 2025, khi chính quyền Trump tuyên bố đã “xóa sổ” chương trình hạt nhân của Iran, đều diễn ra trong bối cảnh các cuộc đàm phán đang diễn ra giữa Washington và Tehran.

Ông Pezeshkian cũng cho rằng các quan chức Mỹ nên ngừng “những tuyên bố và hành động khiêu khích nhằm xây dựng lòng tin” và “thể hiện sự nghiêm chỉnh trong việc theo đuổi các cuộc đàm phán để chấm dứt chiến tranh một cách dứt điểm”.

Một phái đoàn của Mỹ do Phó Tổng thống J.D. Vance dẫn đầu được dự đoán rộng rãi sẽ bay đến Islamabad để tiến hành vòng đàm phán trực tiếp thứ hai với các quan chức Iran vào cuối tuần trước, nhưng Tổng thống Trump đã đột ngột hủy chuyến đi, nói rằng ông không muốn lãng phí thời gian và các quan chức Iran có thể gọi điện nếu họ muốn nói chuyện.

Tổng thống Trump bày tỏ sự lạc quan rằng cuộc phong tỏa quân sự đang diễn ra của Mỹ đối với các cảng và tàu thuyền của Iran sẽ gây đủ áp lực lên Iran để buộc nước này chấp nhận một thỏa thuận hòa bình theo các điều khoản của ông.

[CBSNews: Iranian speaker mocks U.S. ability to block country's borders]

9. Vance phản bác thông tin cho rằng ông đã đặt câu hỏi về việc Ngũ Giác Đài có đang xuyên tạc số liệu về kho hỏa tiễn của Mỹ hay không.

Trong một cuộc phỏng vấn với Fox News hôm Thứ Năm, 30 Tháng Tư, Phó Tổng thống JD Vance đã bác bỏ một báo cáo trên tờ The Atlantic cho rằng ông đặt câu hỏi liệu Ngũ Giác Đài có đang xuyên tạc số lượng kho hỏa tiễn của Mỹ hay không.

Vance cho biết bài báo “đã gán cho tôi những quan điểm và những điều mà tôi bị cáo buộc đã nói, trong khi tôi hoàn toàn chắc chắn rằng mình chưa từng nói những điều đó.”

Ông nói thêm: “Không ai thực sự biết tôi nghĩ gì, không ai thân cận với tôi đã nói chuyện với phóng viên đó, bởi vì nếu họ làm vậy thì câu chuyện đã hoàn toàn khác.”

Vance thừa nhận rằng “dĩ nhiên, tôi lo ngại về sự sẵn sàng của chúng ta”, nhưng nói rằng đó là nhiệm vụ của ông ấy.

“Dĩ nhiên, việc đặt ra những câu hỏi này là nhiệm vụ của tôi,” ông nói. “Dĩ nhiên, việc bảo đảm chúng ta nắm bắt được mọi vấn đề cũng là nhiệm vụ của tôi.”

[CBSNews: Vance pushes back on report he questioned if Pentagon is misrepresenting U.S. missile stockpiles]

10. Tổng thống Trump một lần nữa khẳng định Iran “rất muốn đạt được thỏa thuận”.

Phát biểu với các phóng viên hôm thứ Năm, Tổng thống Trump bác bỏ ý kiến cho rằng các cuộc đàm phán với Iran đã bị đình trệ, nói rằng, “Không ai biết các cuộc đàm phán đang ở đâu ngoài tôi và một vài người khác. Họ rất muốn đạt được một thỏa thuận.”

Tổng thống Trump bác bỏ ý kiến cho rằng Ngoại trưởng Marco Rubio không tham gia vào các cuộc đàm phán với Iran, nói với các phóng viên rằng ông ấy “tham gia rất tích cực”.

Tổng thống Trump nhắc lại rằng Mỹ kiên quyết yêu cầu Iran từ bỏ uranium đã được làm giàu.

“Chúng tôi muốn lấy bụi phóng xạ,” ông ta nói. “Cần phải có máy xúc và mọi thứ để lấy được nó. Nhưng chúng tôi muốn có nó. Chúng tôi sẽ lấy bằng mọi cách. Chúng tôi sẽ lấy được nó. Hoặc là chúng tôi sẽ lấy nó. Hoặc là họ sẽ cho chúng tôi, hoặc là chúng tôi sẽ lấy nó.”

Khi được hỏi về giá xăng mà trong tuần này đã đạt mức cao nhất trong vài năm qua, Tổng thống Trump khẳng định: “Giá xăng sẽ giảm. Ngay khi chiến tranh kết thúc, nó sẽ giảm mạnh.”

Bất chấp tuyên bố của Tổng thống Trump rằng Iran “rất muốn đạt được thỏa thuận”, Tổng thống Iran hôm Thứ Sáu, 01 Tháng Năm, tuyên bố rằng cuộc phong tỏa hải quân của Mỹ đối với các cảng của nước ông và các tàu có liên hệ với Iran “chắc chắn sẽ thất bại”, thách thức những tuyên bố lặp đi lặp lại của Tổng thống Trump rằng áp lực kinh tế từ cuộc phong tỏa sẽ buộc Tehran phải chấp nhận một thỏa thuận chấm dứt chiến tranh theo các điều khoản của ông.

Tổng thống Masoud Pezeshkian tuyên bố: “Mọi nỗ lực áp đặt lệnh phong tỏa hoặc hạn chế hàng hải đều trái với luật pháp quốc tế… và chắc chắn sẽ thất bại”, đồng thời cảnh báo rằng lệnh phong tỏa bắt đầu từ ngày 13 tháng 4 sẽ “gây xáo trộn cho sự ổn định lâu dài ở Vịnh Ba Tư”.

Trong khi đó, một tuyên bố trên Đài truyền hình quốc gia Iran của nhà lãnh đạo tối cao mới của Iran, người chưa từng xuất hiện hay lên tiếng trực tiếp kể từ khi lên nắm quyền thay thế cha mình, cho biết hôm thứ Năm rằng Cộng hòa Hồi giáo sẽ bảo vệ “năng lực hạt nhân và hỏa tiễn” của mình như một tài sản quốc gia, trong bối cảnh Tổng thống Trump đang cố gắng buộc nước này từ bỏ vật liệu và chương trình hạt nhân như một phần của thỏa thuận chấm dứt chiến tranh.

Tuyên bố được tường trình của Ayatollah Mojtaba Khamenei đã được một người dẫn chương trình đọc to trên truyền hình nhà nước Iran. Ông chưa xuất hiện trước công chúng kể từ khi lên nắm quyền sau cuộc không kích của Mỹ hoặc Israel ngày 28 tháng 2 khiến người tiền nhiệm 86 tuổi và cha ông, Ali Khamenei, thiệt mạng. Các quan chức Mỹ cho biết Mojtaba Khamenei bị thương nặng và có thể bị mất khả năng hoạt động trong cùng cuộc không kích đó.

“Những người Iran đáng kính trong và ngoài nước đều coi tất cả các năng lực dựa trên bản sắc, tinh thần, nhân lực, khoa học, công nghiệp và công nghệ của Iran - từ công nghệ nano và công nghệ sinh học đến năng lực hạt nhân và hỏa tiễn - là tài sản quốc gia, và sẽ bảo vệ chúng giống như cách họ bảo vệ vùng biển, đất liền và không phận của đất nước”, tuyên bố cho biết.

[CBSNews: Trump again insists Iran “wants to make a deal badly”]

11. Tổng thống Trump đe dọa tăng thuế nhập khẩu xe hơi từ Liên Hiệp Âu Châu lên 25%.

Tổng thống Trump hôm thứ Sáu tuyên bố sẽ tăng thuế đối với xe hơi và phụ tùng xe hơi từ Liên minh Âu Châu vì khối 27 quốc gia này không thực hiện đúng cam kết trong thỏa thuận thương mại đạt được hồi mùa hè năm ngoái.

“Tôi vui mừng thông báo rằng, dựa trên thực tế Liên minh Âu Châu không tuân thủ Thỏa thuận Thương mại mà chúng ta đã hoàn toàn đồng ý, tuần tới tôi sẽ tăng thuế quan đối với xe hơi và xe tải nhập khẩu vào Hoa Kỳ từ Liên minh Âu Châu”, Tổng thống Trump nói. “Thuế quan sẽ được tăng lên 25%.”

Thuế quan đối với xe hơi và phụ tùng xe hơi Âu Châu hiện được ấn định ở mức 15% theo Thỏa thuận Turnberry, một thỏa thuận mà Liên Hiệp Âu Châu và Mỹ đạt được hồi tháng 7 năm ngoái tại khu nghỉ dưỡng của Tổng thống Trump ở Scotland. Thỏa thuận này yêu cầu Liên Hiệp Âu Châu giảm thuế suất đối với hàng hóa công nghiệp của Mỹ, mua 750 tỷ đô la năng lượng và đầu tư 600 tỷ đô la để đổi lấy mức thuế quan thấp hơn từ phía Mỹ.

Lời đe dọa của Tổng thống Trump được đưa ra một tuần sau khi quan chức thương mại hàng đầu của Liên Hiệp Âu Châu, Maroš Šefčovič, đến Washington để gặp gỡ các quan chức chính quyền Trump và ra về với sự yên tâm rằng thỏa thuận giữa hai nước vẫn vững chắc.

Vào thời điểm đó, ông Šefčovič nói rằng ông “đã được Đại sứ Jamieson Greer và tất cả những người đối thoại với tôi trấn an rằng một thỏa thuận là một thỏa thuận có lợi cho cả hai bên. … Và đối với chúng tôi, các điều khoản của thỏa thuận và tất cả các điều khoản và điều kiện trong đó là hoàn toàn cơ bản để được thực hiện và hoàn thành.”

Những nhận xét đó được đưa ra bất chấp căng thẳng thương mại dai dẳng giữa hai bên. Liên Hiệp Âu Châu không hài lòng về việc quá nhiều sản phẩm bị ảnh hưởng bởi thuế quan thép và nhôm của Mỹ, trong khi Mỹ thất vọng về tốc độ thực hiện chậm chạp của Liên Hiệp Âu Châu đối với thỏa thuận đạt được vào cuối tháng 7.

Mặc dù Nghị viện Âu Châu đã thông qua luật vào tháng 3 nhằm giảm thuế quan đối với hàng hóa của Mỹ, khối này vẫn cần phải đàm phán thỏa thuận với các thủ đô thành viên và Ủy ban Âu Châu.

“Hành vi của Tổng thống Trump là không thể chấp nhận được; chúng tôi tại Liên Hiệp Âu Châu, tại Nghị viện Âu Châu, đang tôn trọng thỏa thuận Scotland. Chúng tôi hiện đang soạn thảo luật; chúng tôi có lập trường nghị viện và đặt mục tiêu hoàn thiện điều này vào tháng Sáu. Tuy nhiên, Mỹ đã nhiều lần vi phạm thỏa thuận, ví dụ như với hơn 400 sản phẩm chứa thép và nhôm, hiện đang chịu mức thuế trung bình 26% “, ông Bernd Lange, một thành viên đảng Dân chủ Xã hội Đức và chủ tịch Ủy ban Thương mại Quốc tế tại Nghị viện Âu Châu, cho biết trong một tuyên bố hôm thứ Sáu.

Ông nói tiếp: “Động thái mới nhất này cho thấy phía Mỹ không đáng tin cậy đến mức nào. Chúng ta đã chứng kiến những cuộc tấn công tùy tiện này từ phía Mỹ trong trường hợp Greenland; đây không phải là cách đối xử với các đối tác thân thiết. Giờ đây, chúng ta chỉ có thể đáp trả một cách rõ ràng và kiên quyết nhất, dựa trên sức mạnh lập trường của mình.”

Lange than thở rằng thep quan sát của ông, cứ sau mỗi cú điện thoại từ Putin, Tổng thống Trump lại gây ra một điều gì đó khó khăn cho Liên Hiệp Âu Châu hay cho Ukraine, và trong nhiều trường hợp là cho cả hai.

Thuế quan của Mỹ đối với xe hơi và phụ tùng xe hơi của Liên Hiệp Âu Châu được ban hành theo Điều 232, tập trung vào các ngành công nghiệp cụ thể. Quyền hạn này không bị ảnh hưởng bởi phán quyết của Tòa án Tối cao hồi tháng Hai bác bỏ một số mức thuế quan của Tổng thống Trump, vốn trao cho chính quyền sự linh hoạt rộng rãi để nhanh chóng tăng thuế đối với lĩnh vực này.

Các loại thuế nhập khẩu xe hơi đó đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy Liên Hiệp Âu Châu ngồi vào bàn đàm phán mùa hè năm ngoái, gây áp lực lên ngành công nghiệp xe hơi hàng đầu của Đức, bao gồm các thương hiệu lớn như Volkswagen, BMW và Audi.

[Politico: Trump threatens to raise tariffs on EU automobiles to 25 percent]

12. Tổng Tư Lệnh Ukraine, Đại Tướng Oleksandr Syrskyi, ra lệnh áp dụng quy tắc luân chuyển mới cho binh lính tiền tuyến trong bối cảnh điều kiện của bộ binh Ukraine đang được xem xét kỹ lưỡng.

Tổng tư lệnh quân đội Ukraine, Oleksandr Syrskyi, đã ra lệnh luân chuyển bắt buộc binh lính tại các vị trí tiền tuyến, do tình trạng thiếu nhân lực và điều kiện chiến trường khắc nghiệt khiến binh lính phải đóng quân tại một vị trí trong hơn 100 ngày liên tục.

Tướng Syrskyi cho biết vào ngày 30 tháng 4 rằng các chỉ huy phải bảo đảm điều kiện để các quân nhân có thể duy trì vị trí của mình trong tối đa hai tháng, và sau đó sẽ có một đợt luân chuyển bắt buộc được thực hiện trong tháng tiếp theo.

“Việc luân chuyển binh lính của chúng ta cần được lên kế hoạch kịp thời, có tính đến tình hình, bản chất của cuộc chiến và lực lượng cũng như nguồn lực hiện có,” vị tướng nói.

Thông báo này được đưa ra trong bối cảnh tình trạng của bộ binh Ukraine đang được xem xét chặt chẽ hơn, sau các báo cáo từ Lữ đoàn Cơ giới số 14, nơi binh lính bị bỏ mặc trong tình trạng suy dinh dưỡng, thiếu lương thực và các nhu yếu phẩm cần thiết.

Kể từ đầu năm 2025, việc bầu trời phía trên các vị trí tiền tuyến ngày càng bị bao phủ bởi máy bay điều khiển từ xa của đối phương đã khiến việc di chuyển ra vào khu vực đường ranh giới trở nên nguy hiểm hơn mỗi tháng và gần như bất khả thi bằng phương tiện cơ giới.

Trên chiến tuyến, bộ binh thường phải đi bộ hơn 15 km (9 dặm) đến và đi từ các vị trí tiền tuyến, một hành trình tiềm ẩn nguy cơ bị tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa, hỏa lực pháo binh hoặc giẫm phải mìn được triển khai từ xa.

Những điều kiện này, kết hợp với tình trạng thiếu hụt trầm trọng lính bộ binh thay thế cho các lữ đoàn chiến đấu, đã dẫn đến việc ngày càng có nhiều báo cáo trong năm qua về việc binh sĩ bộ binh phải ở lại vị trí của mình gần cả năm, và trong một số trường hợp cực đoan, thậm chí hơn một năm.

Những trường hợp này thường được các lữ đoàn Ukraine nêu bật như một cách để tôn vinh sự kiên cường và chủ nghĩa anh hùng của các chiến sĩ, nhưng khi làm như vậy, họ đã góp phần làm gia tăng mối lo ngại trong xã hội Ukraine về việc huy động vào bộ binh.

Ngoài giới hạn hai tháng, Syrskyi còn ra lệnh rằng những binh lính trở về sau thời gian dài phục vụ ở tiền tuyến phải được khám sức khỏe ngay lập tức khi luân chuyển và luôn được cung cấp các nhu yếu phẩm cần thiết trong suốt thời gian đóng quân.

Vị tướng này không nêu rõ thêm bất kỳ biện pháp nào để tăng cường bổ sung cho các lữ đoàn tiền tuyến tiêu chuẩn, một điều kiện tiên quyết quan trọng để giải quyết vấn đề triển khai kéo dài mà không có sự luân chuyển.

[Kyiv Independent: Syrskyi orders new rotation rules for front-line troops as Ukrainian infantry conditions face scrutiny]

13. Nhà lãnh đạo Liên Hiệp Quốc cảnh báo về “nguy cơ suy thoái kinh tế toàn cầu” nếu chiến tranh không sớm kết thúc.

Nhà lãnh đạo Liên Hiệp Quốc hôm thứ Năm cảnh báo về “nguy cơ suy thoái toàn cầu” nếu cuộc chiến giữa Mỹ và Iran không sớm kết thúc, đồng thời kêu gọi cả hai bên mở lại eo biển Hormuz và “cho phép nền kinh tế toàn cầu được thở lại”.

Phát biểu với các nhà báo tại New York, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres cho biết, bất chấp “thỏa thuận ngừng bắn mong manh” giữa Mỹ và Iran, hậu quả của cuộc đối đầu đang diễn ra giữa hai bên ở eo biển Hormuz “ngày càng trở nên tồi tệ hơn theo từng giờ”.

“Cũng như mọi cuộc xung đột khác, toàn thể nhân loại đều phải trả giá,” ông nói. “Nỗi đau sẽ còn kéo dài rất lâu nữa.”

Kể từ khi Mỹ và Iran ký kết thỏa thuận ngừng bắn, mà sau đó Tổng thống Trump tuyên bố sẽ gia hạn vô thời hạn để tạo điều kiện cho ngoại giao, eo biển Hormuz – tuyến đường thủy quan trọng cho việc vận chuyển nguồn cung năng lượng toàn cầu – đã trở thành tâm điểm căng thẳng giữa hai nước.

Iran đã cản trở việc tiếp cận eo biển, trong khi Mỹ phong tỏa các cảng và tàu thuyền của Iran, và cả hai bên đều đã bắt giữ các tàu bị cáo buộc vi phạm các lệnh cấm vận tương ứng. Tình trạng bế tắc này đã khiến giá năng lượng toàn cầu tăng vọt, đẩy lạm phát lên cao.

Trong bài phát biểu của mình, ông Guterres đã đưa ra ba kịch bản. Ông nói rằng nếu eo biển được mở ngay lập tức - “kịch bản tốt nhất” - thì thế giới vẫn sẽ chứng kiến tăng trưởng kinh tế suy giảm, lạm phát gia tăng và “tình trạng khó khăn kinh tế trầm trọng hơn”.

Ông cho biết, nếu tình trạng hạn chế vận chuyển hàng hóa qua eo biển “kéo dài đến giữa năm”, 32 triệu người sẽ rơi vào cảnh nghèo đói và 45 triệu người “bị đói cùng cực”.

Ông Guterres cho rằng nếu chiến tranh kéo dài đến năm 2026, nó sẽ gây ra “sự đau khổ vô cùng lớn”, và thế giới sẽ “đối mặt với nguy cơ suy thoái kinh tế toàn cầu”.

Ông nói: “Hậu quả không tích lũy mà là theo cấp số nhân”, đồng thời kêu gọi cả Mỹ và Iran “hãy để cho tất cả các tàu thuyền đi qua” và “hãy để nền kinh tế toàn cầu được thở lại”.

[CBSNews: Head of U.N. warns of “specter of global recession” if war doesn't end soon]
 
Căng thẳng: TT Zelenskiy hết kiên nhẫn với TT Trump. 7 tỷ đô la của Putin đang chìm trong biển lửa
VietCatholic Media
17:52 02/05/2026


1. Lý do Tổng thống Zelenskiy hết kiên nhẫn với Tổng thống Trump — và điều đó có ý nghĩa gì đối với quan hệ Mỹ-Ukraine.

Chỉ trong vòng hai tháng, Tổng thống Volodymyr Zelenskiy đã chuyển từ vị trí là nhà lãnh đạo thế giới đầu tiên ủng hộ chiến dịch quân sự của Mỹ ở Trung Đông sang công khai chỉ trích chính sách đối ngoại của Washington.

Sự thay đổi đáng chú ý về giọng điệu diễn ra vào thời điểm Ukraine và Mỹ một lần nữa rơi vào bế tắc khó khăn trong quan hệ song phương, khi Washington đang mải mê với cuộc chiến chống Iran và tiến trình ngoại giao mong manh xung quanh một giải pháp khả thi.

Theo ba nguồn tin thân cận với vấn đề này, những thông điệp công khai của Washington, sự không chắc chắn về nguồn cung vũ khí và những gì các quan chức Ukraine mô tả là những lời hứa bị phản bội đang làm gia tăng sự thất vọng ở Kyiv.

“Rõ ràng là chúng ta đang đối phó với những người gây ra những tình huống khó khăn không tạo ra được bầu không khí tích cực,” một quan chức cao cấp của Ukraine nói với tờ Kyiv Independent.

Mặc dù các quan chức không gọi tình hình là một sự đổ vỡ hoàn toàn, nhưng sự thiếu tin tưởng ngày càng khó che giấu.

Những nỗ lực hợp tác của Tổng thống Zelenskiy

Trong tiếng Ukraine có một cụm từ thường được dịch là “tinh thần thép”, và nhiều người ở Kyiv sử dụng cụm từ này khi mô tả đường lối của Tổng thống Zelenskiy trong việc đối phó với Tổng thống Trump. Trong nhiều tháng, đường lối đó đồng nghĩa với sự kiềm chế.

Đứng sát cánh cùng Tổng thống Trump vào tháng 12, sau các cuộc đàm phán nhằm khôi phục lại quan hệ với Nga, Tổng thống Zelenskiy chỉ nở một nụ cười gượng gạo khi tổng thống Mỹ tuyên bố rằng “Nga muốn thấy Ukraine thành công”.

“Nghe có vẻ hơi kỳ lạ, nhưng Putin đã rất rộng lượng trong thái độ của mình đối với việc Ukraine giành được độc lập,” Tổng thống Trump nói, bất chấp việc Nga tiếp tục các cuộc tấn công quy mô lớn nhắm vào cơ sở hạ tầng dân sự trong nỗ lực làm tê liệt Ukraine.

Khoảnh khắc đó sau này đã trở thành một minh họa hữu ích cho thấy Kyiv đã cẩn trọng như thế nào trong việc quản lý mối quan hệ với Tổng thống Trump — kìm nén sự thất vọng trước công chúng trong khi chỉ phản kháng khi cần thiết.

Nhưng những tháng gần đây đã cho thấy một sự thay đổi đáng chú ý. Trong một trong những phát biểu gần đây nhất, Tổng thống Zelenskiy đã trực tiếp chỉ trích hai đặc phái viên Mỹ tham gia vào tiến trình hòa bình Ukraine, nói rằng đường lối của họ thể hiện sự thiếu tôn trọng đối với Kyiv.

“Đến Mạc Tư Khoa mà không đến Kyiv là thiếu tôn trọng, điều đó thật thiếu tôn trọng,” ông nói vào ngày 20 tháng 4.

Tổng thống Zelenskiy cũng chỉ trích Phó Tổng thống Mỹ J.D. Vance vì đã ca ngợi việc ngừng viện trợ quân sự của Mỹ cho Ukraine, cho rằng lập trường này có lợi cho Nga và làm suy yếu Hoa Kỳ.

Việc ông quyết định không bình luận công khai sau vụ xả súng tại bữa tiệc tối của các phóng viên Tòa Bạch Ốc giờ đây dường như đã trở thành một khuôn mẫu.

Oleksandr Merezhko, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại của Quốc Hội Ukraine, cho biết “Dĩ nhiên, chúng tôi lên án bạo lực. Nhưng sẽ là không phù hợp nếu họ không đưa ra bất kỳ tuyên bố nào ngay cả khi chúng tôi đang phải hứng chịu những cuộc tấn công dữ dội.” Tuy nhiên, ông khẳng định đây không phải là một chiến lược đối đầu có chủ đích. “Từ nội bộ, chúng tôi không có cảm nhận rằng những lời chỉ trích đã gia tăng”.

Thay vào đó, ông giải thích, chính mối quan hệ đã thay đổi - và thông điệp của Ukraine chỉ đơn giản là điều chỉnh cho phù hợp với thực tế đó. “Có rất nhiều thông tin được truyền tải đến công chúng. Phản hồi được đưa ra dựa trên tình hình thực tế.” Merezhko cho biết Tổng thống Zelenskiy đang cố gắng duy trì một sự cân bằng khó khăn.

“Tôi thấy rằng tổng thống đã chọn đúng hướng đi ở một khía cạnh nào đó,” ông nói. “Ông ấy đối xử với Tổng thống Trump rất tôn trọng, nhưng nếu không đồng ý với điều gì đó, ông ấy sẽ nói thẳng thắn.” Việc cân bằng đó ngày càng trở nên khó khăn hơn.

Chiến tranh Iran và hậu quả của nó

Tổng thống Zelenskiy là một trong những nhà lãnh đạo đầu tiên công khai ủng hộ chiến dịch của Mỹ và Israel chống lại Iran, lập luận rằng Tehran từ lâu đã can thiệp vào cuộc chiến của Nga. “ Chính quyền Iran đã mang đến quá nhiều điều xấu xa cho Ukraine,” ông nói.

Kyiv hy vọng rằng việc ủng hộ chiến dịch của Washington sẽ củng cố tầm quan trọng chiến lược của Ukraine trong mắt Tổng thống Trump. Tuy nhiên, Mỹ lại càng tỏ ra thù địch hơn với Kyiv.

Do chiến dịch quân sự không mang lại sự thay đổi chế độ đáng kể và Washington chuyển sang tập trung vào việc kiểm soát leo thang xung đột, vấn đề Ukraine đã bị gạt ra khỏi chương trình nghị sự.

Đồng thời, Nga cũng được hưởng lợi từ những hậu quả đó. Vào giữa tháng 4, Washington đã ban hành lệnh miễn trừ trừng phạt thứ hai đối với dầu mỏ của Nga, cho phép bán hàng hạn chế trong bối cảnh lo ngại toàn cầu về tình trạng thiếu hụt do chiến tranh và gián đoạn liên quan đến việc phong tỏa eo biển Hormuz gây ra.

Đối với Kyiv, động thái này giống như một sự phản bội. Chỉ hai ngày trước đó, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent đã công khai tuyên bố một cách quyết liệt rằng chính quyền Mỹ “sẽ không gia hạn giấy phép khai thác dầu mỏ của Nga”.

Tờ Kyiv Independent đã tìm hiểu được rằng ngay cả các quan chức cao cấp của Mỹ cũng tin tưởng một cách riêng tư rằng việc miễn trừ là không cần thiết và sẽ có ít tác động thực sự đến thị trường — điều này càng khiến Kyiv khó hiểu hơn về sự thay đổi quyết định của Bessent.

Việc gia hạn cũng diễn ra ngay sau một cú điện thoại của Putin trong bối cảnh chuyến thăm của Đặc phái viên Nga Kirill Dmitriev tới Hoa Kỳ, nơi ông được tường trình đã vận động để được miễn trừ. Một quan chức Ukraine mô tả động thái này là điều “gửi đi những tín hiệu xấu”.

Một người khác quen thuộc với các cuộc đàm phán cho biết ban đầu Ukraine đã được bảo đảm rằng việc miễn trừ sẽ chỉ là tạm thời và nhằm mục đích ổn định giá cả, khiến Kyiv không công khai leo thang vấn đề này.

Nguồn tin cho biết, Ukraine “đã hành động một cách đúng đắn” và tin tưởng vào những lời bảo đảm ngoại giao đó. Trong chuyến thăm Washington sau đó, nơi các quan chức cao cấp của Ukraine gặp gỡ các đối tác Mỹ, Kyiv một lần nữa được thông báo rằng việc miễn trừ sẽ không được gia hạn.

“Không có cơ sở nào để tin rằng bất cứ điều gì đã xảy ra sai sót,” nguồn tin cho biết, đồng thời nói thêm rằng khi việc gia hạn vẫn diễn ra, logic chính trị đã thay đổi.

“Như thế, tay chúng tôi được cởi trói,” Merezhko nói. “Nếu một bên không giữ lời hứa, bên kia có thể đáp trả tương ứng.”

Sự thay đổi đó nhanh chóng trở nên rõ rệt. Đại sứ Ukraine tại Mỹ, Olha Stefanishyna, đã công khai chỉ trích quyết định này, nói rằng Kyiv “kêu gọi chính quyền Mỹ khôi phục các lệnh trừng phạt đối với dầu mỏ và các sản phẩm dầu khí của Nga.”

Tuyên bố của bà là một trong những dấu hiệu công khai rõ ràng nhất cho thấy các quan chức Ukraine đang ngày càng sẵn sàng thách thức Washington một cách công khai. “Việc miễn trừ chỉ là phần nổi của tảng băng chìm,” một nguồn tin cho biết. Các quan chức cho rằng vấn đề cốt lõi không phải là dầu mỏ mà là lòng tin.

Vũ khí, NATO và sự thất vọng ngày càng tăng

Hợp tác quân sự đã trở thành một nguồn lo lắng âm thầm khác. Khác với chính quyền Tổng thống Biden, Tòa Bạch Ốc của Tổng thống Trump đã không trực tiếp viện trợ quân sự cho Ukraine. Thay vào đó, viện trợ ngày càng được thực hiện thông qua các cơ chế bán vũ khí và mua sắm có sự tham gia của các đồng minh NATO.

Một số nguồn tin cho rằng Washington đang sử dụng việc bán vũ khí cho Ukraine như một đòn bẩy trong các cuộc đàm phán rộng hơn với các chính phủ Âu Châu. Một quan chức quốc phòng Mỹ đã bác bỏ tuyên bố đó. “Chúng tôi bảo đảm rằng lực lượng Mỹ và các đồng minh, đối tác của chúng tôi có đủ những gì họ cần để chiến đấu và giành chiến thắng”, quan chức này nói với tờ Kyiv Independent.

Tuy nhiên, sự thất vọng đang ngày càng gia tăng khắp Âu Châu. Một nguồn tin quen thuộc với các cuộc thảo luận cho biết có “sự thất vọng đáng kể đối với chính quyền Trump”, và điều đó đang ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng của Ukraine trong việc bảo đảm nguồn vũ khí cần thiết khẩn cấp.

Một số chính phủ tham gia vào các nỗ lực mua sắm muốn giữ kín sự hỗ trợ của họ vì lý do nhạy cảm chính trị. “Rất khó để điều chuyển số tiền này, ngay cả để mua hỏa tiễn cho hệ thống Patriot,” nguồn tin cho biết.

Hệ thống phòng không đã trở thành một trong những nút thắt quân sự cấp bách nhất của Ukraine. Được sản xuất tại Mỹ, chúng vẫn là hệ thống phòng thủ hiệu quả nhất của nước này chống lại các cuộc tấn công bằng hỏa tiễn đạn đạo của Nga - những mối đe dọa mà ít hệ thống nào khác có thể ngăn chặn một cách đáng tin cậy.

Tình trạng thiếu hụt trở nên nghiêm trọng đến mức Tổng thống Zelenskiy đã chỉ thị cho tư lệnh Không quân Ukraine liên hệ trực tiếp với các đối tác trước đây đã cam kết cung cấp hỏa tiễn Patriot và các hệ thống phòng không khác.

Một số quan chức cũng cho rằng vị thế của Tổng thư ký NATO Mark Rutte đang suy yếu dưới thời Tổng thống Trump, đặc biệt là sau những căng thẳng liên quan đến điều mà Washington cho là sự can thiệp không đầy đủ của NATO trong cuộc chiến với Iran.

Ông Rutte đóng vai trò trung tâm trong việc đàm phán Danh sách các nhu cầu ưu tiên cho Ukraine, gọi tắt là PURL, được NATO và Mỹ ký kết vào tháng 7, tạo ra khuôn khổ cho các đồng minh mua sắm thiết bị quân sự khẩn cấp cho Ukraine. Cơ chế đó giờ đây có vẻ không còn chắc chắn nữa.

Thỏa thuận máy bay điều khiển từ xa chưa bao giờ thành hiện thực

Sự thất vọng ngày càng gia tăng khi Ukraine đề xuất hợp tác về máy bay điều khiển từ xa với Washington - một thỏa thuận mà Kyiv cho rằng Mỹ phần lớn đã phớt lờ.

Theo một nguồn tin thân cận với các cuộc thảo luận về máy bay điều khiển từ xa, Ukraine đã nhiều lần đề xuất sáng kiến này từ năm ngoái, kể cả trực tiếp với Tổng thống Trump và nhóm của ông.

Đề xuất này tập trung vào việc chia sẻ công nghệ máy bay điều khiển từ xa đã được thử nghiệm trong chiến đấu của Ukraine, đặc biệt là các hệ thống được thiết kế để chống lại máy bay điều khiển từ xa tấn công kiểu Shahed do Iran sản xuất — chính xác là loại mối đe dọa mà lực lượng Mỹ hiện đang phải đối mặt ở Trung Đông.

Kyiv đã dành nhiều năm để xây dựng chuyên môn này dưới áp lực thời chiến. Hệ thống phòng không Ukraine đã phát triển một số chiến lược thực tiễn nhất thế giới trong việc đánh chặn các cuộc tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa quy mô lớn.

Theo nguồn tin, sau khi chiến tranh Iran leo thang, các quan chức Mỹ dường như nhận ra rằng họ đã “bỏ lỡ một cơ hội tốt”.

Kyiv đã nhắc lại đề xuất, nhưng vẫn không nhận được câu trả lời.

“Tổng thống Trump đã chỉ thị cho người của mình điều tra vụ việc… nhưng không có kết quả gì cả,” người này cho biết.

Đối với các quan chức Ukraine, đề xuất này cũng là một phần trong nỗ lực rộng lớn hơn nhằm tiếp xúc với Tổng thống Trump thông qua điều mà họ tin là ngôn ngữ chính trị ưa thích của ông: đàm phán thỏa hiệp.

Nhưng ngay cả điều đó cũng không thể thay đổi thái độ công khai của ông. “Người cuối cùng chúng ta cần giúp đỡ là Tổng thống Zelenskiy,” Tổng thống Trump nói vào ngày 13 tháng 3. “Chúng ta không cần sự giúp đỡ của Ukraine. Chúng ta hiểu biết về máy bay điều khiển từ xa hơn bất kỳ ai.” Đối với nhiều người ở Kyiv, nhận xét đó đã tóm gọn vấn đề lớn hơn.

Điều gì sẽ xảy ra tiếp theo

Bất chấp sự thất vọng hiện rõ, các quan chức Ukraine khẳng định họ chưa từ bỏ hy vọng vào Washington. Trong thâm tâm, họ vẫn hy vọng rằng sau khi chiến tranh Iran kết thúc, Hoa Kỳ sẽ can thiệp nghiêm chỉnh hơn vào vấn đề Ukraine.

“Chúng tôi nghĩ rằng họ sẽ hoạt động tích cực hơn khi cuộc bầu cử đến gần… và một khi tình hình với Iran bắt đầu ổn định hơn một chút,” một quan chức cao cấp của Ukraine cho biết.

Một quan chức Tòa Bạch Ốc nói với tờ Kyiv Independent rằng chính quyền vẫn cam kết chấm dứt cuộc xâm lược Ukraine của Nga, nhưng lại nhắc lại lời giải thích của chính Tổng thống Trump: hiện tại, “Mỹ đang bận rộn với Iran”.

Đối với Kyiv, câu trả lời đó không thỏa đáng nhưng lại quen thuộc. Ông Merezhko cho biết chiến lược của Ukraine vẫn không thay đổi - tiếp tục hợp tác, giữ thái độ tôn trọng và tiếp tục thúc đẩy.

“Chúng tôi cố gắng tiếp tục đối xử với Tổng thống Trump một cách tôn trọng vì ông ấy là lãnh đạo của quốc gia dân chủ lớn nhất, cũng là đối tác của chúng tôi,” ông nói.

“Washington vẫn tiếp tục hỗ trợ chúng tôi, mặc dù không nhiều như chúng tôi mong muốn.”

Ông thừa nhận chiến lược đó đã trở nên vô cùng mệt mỏi. “Tôi hiểu rằng đôi khi điều đó rất khó khăn. Nhưng chúng ta phải thể hiện sự kiên trì,” Merezhko nói.

“ Tổng thống Trump coi trọng sự kiên trì, vì vậy chúng ta phải tiếp tục làm việc cho dù khó khăn đến đâu.”

[Kyiv Independent: How Zelensky ran out of patience with Trump — and what it means for US-Ukraine relations]

2. Tổng thống Trump đe dọa Sánchez và Meloni bằng việc rút quân Mỹ.

Tổng thống Donald Trump hôm thứ Năm tuyên bố ông “có thể” sẽ rút quân Mỹ khỏi Tây Ban Nha và Ý, trong một động thái công kích mới nhằm vào Thủ tướng Tây Ban Nha Pedro Sánchez và lãnh đạo Ý Giorgia Meloni.

Phát biểu với các phóng viên tại Phòng Bầu dục, nhà lãnh đạo Mỹ cho biết Ý “không hề giúp đỡ chúng tôi” và cáo buộc Tây Ban Nha “hoàn toàn tồi tệ”. Cả Tây Ban Nha và Ý đều từ chối cho phép máy bay quân sự Mỹ tham gia chiến tranh Iran sử dụng căn cứ của họ.

Những phát ngôn này được đưa ra sau những lời đe dọa tương tự nhắm vào Thủ tướng Đức Friedrich Merz hồi đầu tuần này. Cả ba đồng minh NATO ở Âu Châu đều chỉ trích cuộc chiến của Mỹ và Israel chống lại Iran.

Sánchez tự coi mình là đối trọng của Tổng thống Trump ở Âu Châu, trong khi Meloni - một trong những đồng minh kiên định nhất của Tổng thống Trump ở Âu Châu sau khi ông tái đắc cử vào năm 2024 - gần đây đã dần xa lánh tổng thống Mỹ, nhằm cứu vãn chức thủ tướng của mình trước cuộc bầu cử quốc gia dự kiến vào năm 2027. Merz cho rằng Mỹ đang bị Iran “làm nhục” trong cuộc xung đột ở Trung Đông.

Bộ trưởng Quốc phòng Ý Guido Crosetto đã phản hồi những bình luận này, nói với hãng thông tấn ANSA rằng ông “không hiểu lý do” cho việc quân đội Mỹ có thể rút khỏi Ý.

Hoa Kỳ có khoảng 12.000 binh sĩ đóng quân tại Ý, chỉ có Đức là có số lượng cao hơn ở Âu Châu với hơn 36.000 người. Tây Ban Nha có khoảng 3.800 binh sĩ, theo một báo cáo tổng quan do Ngũ Giác Đài công bố vào tháng 12.

Ông Merz từ lâu đã phải giữ thăng bằng để duy trì mối quan hệ tốt đẹp với Tổng thống Trump, và Berlin, không giống như Rôma và Madrid, cho phép Mỹ sử dụng căn cứ không quân Ramstein để phối hợp các hoạt động quân sự chống lại Iran.

Việc Mỹ rút quân khỏi Đức sẽ tiêu tốn hàng tỷ đô la và mất nhiều năm, đồng thời làm suy yếu lợi thế chiến lược quan trọng trong cuộc xung đột với Iran và khả năng triển khai sức mạnh quân sự trên toàn cầu của nước này.

Các quan chức quốc phòng nói với POLITICO rằng hiện chưa có kế hoạch rút quân ngay lập tức, nhưng họ xem xét nghiêm chỉnh những bình luận của Tổng thống Trump.

[Politico: Trump threatens Sánchez and Meloni with US troops withdrawal]

3. Máy bay điều khiển từ xa của Ukraine tấn công nhà máy lọc dầu Tuapse của Nga lần thứ tư, khiến các bể chứa dầu bốc cháy lần nữa, quân đội xác nhận.

Vào đêm 1 tháng 5, máy bay điều khiển từ xa của Ukraine đã tấn công một nhà máy lọc dầu ở Tuapse, tỉnh Krasnodar, đánh dấu cuộc tấn công thứ tư vào địa điểm này trong vòng một tháng. Phát ngôn nhân Bộ Quốc phòng Ukraine, Chuẩn tướng Oleksii Hromov, cho biết như trên hôm Thứ Bẩy, 02 Tháng Năm.

Vụ tấn công vào cơ sở dầu mỏ ngày 1 tháng 5 được thực hiện bởi Trung tâm Tác chiến Đặc biệt “Alpha” thuộc Cơ quan An ninh Ukraine, phối hợp với tình báo quân sự, gọi tắt là HUR và Lực lượng Hệ thống Điều khiển từ xa.

Theo SBU, vụ tấn công đã gây ra hỏa hoạn trong các bể chứa dầu, tạo ra một cột khói đen bốc lên trên nhà máy lọc dầu.

Bộ Tổng tham mưu Ukraine cho biết mức độ thiệt hại vẫn đang được đánh giá.

Cư dân địa phương nói với kênh Telegram Shot của Nga rằng các đơn vị phòng không đã hoạt động trên không phận Tuapse, và ít nhất 10 máy bay điều khiển từ xa đã bị bắn hạ. Nhiều vụ nổ và tiếng súng đã được báo cáo, và các biện pháp hạn chế đã được áp dụng tại các phi trường trong khu vực.

Trụ sở chỉ huy tác chiến vùng Krasnodar Krai sau đó báo cáo rằng một vụ tấn công bằng máy bay điều khiển từ xa đã gây ra hỏa hoạn tại nhà ga hàng hải ở Tuapse.

Bộ Quốc phòng Nga tuyên bố đã bắn hạ tổng cộng 141 máy bay điều khiển từ xa trên khắp cả nước trong đêm qua.

Trước đó, Ukraine đã xác nhận các cuộc tấn công vào Tuapse vào ngày 16, 20 và 28 tháng 4. Sau cuộc tấn công thứ ba, tình trạng khẩn cấp đã được ban bố tại khu vực này.

[Kyiv Independent: Ukrainian drones hammer Russia's Tuapse oil refinery for 4th time, tanks ablaze again, military confirms]

4. Bộ trưởng Quốc phòng Israel coi cuộc chiến chống lại Hezbollah ở miền nam Li Băng là một chiến thắng

Vào thời điểm cuộc chiến chống Iran ngày càng bị coi là thất bại, Bộ trưởng Quốc phòng Do Thái Israel Katz đã đề cao cuộc chiến chống lại Hezbollah ở miền nam Li Băng như một chiến thắng của Lực Lượng Phòng Vệ Israel.

Thất bại của cuộc tấn công chung giữa Mỹ và Israel nhằm vào Iran trong việc “chặt đầu chế độ” đã dẫn đến những rạn nứt trong bối cảnh chính trị nội bộ của cả hai nước. Tại Mỹ, các nhà lập pháp đã phản đối cuộc chiến chống Iran thông qua Đạo luật Quyền lực Chiến tranh, là điều mà “chính quyền Trump không chuẩn bị sẵn sàng”.

Đồng thời, Iran cũng coi những mâu thuẫn chính trị trong nội bộ Mỹ là một “thành tựu mang tính biểu tượng”, điều này sẽ làm tăng thêm lợi thế của nước này trong việc đàm phán một thỏa thuận hạt nhân.

[Al Jazeera English: The war against Hezbollah in southern Lebanon is an opportunity for Israel to achieve a symbolic victory]

5. Chính quyền Trump sẽ cắt giảm 5.000 binh sĩ Mỹ tại Đức.

Các quan chức quốc phòng cao cấp cho biết hôm thứ Sáu rằng Ngũ Giác Đài đang lên kế hoạch rút khoảng 5.000 binh sĩ Mỹ khỏi Đức.

Các quan chức cho rằng động thái này là tín hiệu thể hiện sự bất mãn của Tổng thống Trump đối với mức độ hỗ trợ mà các đồng minh Âu Châu đã cung cấp trong cuộc chiến Mỹ-Iran. Tổng thống Trump đã công khai chỉ trích Thủ tướng Đức Friedrich Merz và các nhà lãnh đạo của các quốc gia thành viên NATO khác vì không trực tiếp tham gia vào chiến dịch quân sự của Mỹ chống lại Iran.

Quân đội Mỹ hiện diện rất đông đảo tại Đức từ sau Thế chiến II và Chiến tranh Lạnh. Theo số liệu của Bộ Quốc phòng, tính đến tháng 12 năm ngoái, hơn 36.000 binh sĩ tại ngũ đóng quân tại các căn cứ trên khắp nước Đức, cùng với gần 1.500 lính dự bị và 11.500 nhân viên dân sự.

Nhật Bản là quốc gia nước ngoài duy nhất có số lượng binh lính Mỹ hiện diện lớn hơn Nhật Bản.

Đức cũng là nơi đặt trụ sở của Bộ Tư lệnh Âu Châu và Bộ Tư lệnh Phi Châu của Mỹ, và căn cứ không quân Ramstein của nước này là một trung tâm quan trọng cho các hoạt động của Mỹ.

Một số binh sĩ Mỹ đang được rút khỏi Âu Châu có thể sẽ quay trở lại Mỹ và sau đó được triển khai ra nước ngoài, các quan chức quốc phòng cho biết, mô tả đây là nỗ lực tập trung vào các ưu tiên của Ngũ Giác Đài tại lãnh thổ Mỹ và khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.

Các quan chức cho biết việc rút quân sẽ không ảnh hưởng đến việc vận chuyển hoặc chăm sóc binh lính bị thương tại Trung tâm Y tế Khu vực Landstuhl ở Đức. Landstuhl là bệnh viện lớn nhất của Mỹ ở nước ngoài và đã chăm sóc các binh sĩ Mỹ bị thương do các cuộc tấn công của Iran.

Các quan chức quốc phòng cho biết việc rút quân sẽ ảnh hưởng đến một lữ đoàn chiến đấu ở Đức, sau khi số lượng các lữ đoàn này ở Âu Châu tăng lên sau cuộc xâm lược Ukraine của Nga. Một tiểu đoàn hỏa lực tầm xa dự kiến triển khai đến Đức vào cuối năm nay cũng sẽ được điều chuyển đến đơn vị khác.

Phát ngôn nhân chính của Ngũ Giác Đài, Sean Parnell, cho biết việc rút quân sẽ diễn ra trong vòng sáu đến mười hai tháng tới.

Ông Parnell cho biết trong một tuyên bố: “Quyết định này được đưa ra sau khi xem xét kỹ lưỡng bố trí lực lượng của Bộ tại Âu Châu và nhằm đáp ứng các yêu cầu và điều kiện thực tế tại chiến trường.”

Tổng thống Trump đã ám chỉ hồi đầu tuần này rằng ông đang cân nhắc việc giảm quân số tại Đức. Ông ngày càng tỏ ra thất vọng với bà Merz trong những ngày gần đây, sau khi Thủ tướng Đức tuyên bố hồi đầu tuần rằng “người Mỹ rõ ràng không có chiến lược” nào đối với Iran và cho rằng Mỹ đang bị các nhà đàm phán Iran “làm nhục”.

Tổng thống Mỹ sau đó đã viết trong hai bài đăng trên Truth Social rằng Merz “không biết mình đang nói gì” và đang “can thiệp vào những người đang nỗ lực loại bỏ mối đe dọa hạt nhân từ Iran”. Merz cho biết hôm thứ Tư rằng ông vẫn giữ mối quan hệ tốt với Tổng thống Trump.

Những tranh cãi qua lại đã phơi bày những bất đồng rộng hơn giữa Tổng thống Trump và nhiều đồng minh NATO, những nước đã tránh trực tiếp tham gia cuộc chiến của Mỹ với Iran và đang phải vật lộn với giá năng lượng tăng cao do nguồn cung nhiên liệu bị gián đoạn. Tổng thống đã đe dọa rút khỏi NATO, chỉ trích liên minh này là “hổ giấy” vì không tham gia chiến tranh. Một đạo luật năm 2023 ngăn cản tổng thống rút Mỹ khỏi NATO mà không có sự chấp thuận của Quốc hội.

Tổng thống Trump đã chỉ trích NATO trong nhiều năm, cáo buộc các thành viên liên minh không chi đủ cho quân đội và quá phụ thuộc vào Hoa Kỳ. Trong những năm gần đây, ông cũng lập luận rằng các nước Âu Châu nên gánh vác nhiều trách nhiệm hơn trong việc hỗ trợ Ukraine khi nước này đối phó với cuộc xâm lược của Nga kéo dài hơn bốn năm vào tháng Hai.

Vào cuối nhiệm kỳ đầu tiên, tổng thống đã đề xuất rút hàng ngàn binh lính khỏi Đức, một động thái đã bị cựu Tổng thống Joe Biden hủy bỏ.

[CBSNews: Trump administration to cut 5,000 U.S. troops from Germany]

6. Thượng Nghị Sĩ Schumer bác bỏ quan điểm của Tổng thống Trump rằng xung đột với Iran đã chấm dứt: “Đó là chuyện nhảm nhí”.

Lãnh đạo phe thiểu số tại Thượng viện Chuck Schumer đã phản bác lại tuyên bố của Tổng thống Trump trước Quốc hội hôm thứ Sáu rằng “các hành động thù địch” với Iran đã “chấm dứt”.

“Đó là chuyện vớ vẩn,” Thượng nghị sĩ đảng Dân chủ New York nói. “Đây là một cuộc chiến bất hợp pháp và mỗi ngày đảng Cộng hòa tiếp tục dung túng và cho phép nó tiếp diễn là một ngày mạng sống bị đe dọa, hỗn loạn bùng nổ và giá cả tăng cao, biết bao những thứ tồi tệ trong khi người dân Mỹ phải gánh chịu hậu quả.”

Một đạo luật liên bang năm 1973 yêu cầu tổng thống phải chấm dứt các hành động quân sự chưa được Quốc hội cho phép trong vòng 60 ngày. Thứ Sáu đánh dấu ngày thứ 60 kể từ khi Tổng thống Trump chính thức thông báo với các nhà lập pháp về cuộc chiến tranh với Iran, thiết lập một thời hạn quan trọng.

Tuy nhiên, lập trường của chính quyền Trump là thời hạn 60 ngày không sắp hết vì Mỹ và Iran đã đạt được thỏa thuận ngừng bắn từ đầu tháng Tư. Kể từ đó, hai bên không giao tranh trực tiếp, mặc dù Mỹ đã tìm cách phong tỏa các cảng của Iran và Iran đã ngăn chặn tàu thuyền đi qua eo biển Hormuz. Tổng thống Trump đã ám chỉ rằng các cuộc tấn công quân sự có thể sẽ tiếp tục nếu Iran không đạt được thỏa thuận.

Một số thành viên đảng Cộng hòa cho rằng họ muốn chính quyền Trump hoặc là chấm dứt các hoạt động tại Iran sau 60 ngày hoặc là xin phép chính thức từ Quốc hội. Họ nghĩ như thế là điều tốt cho Tổng thống Trump. Nếu ông tiếp tục mà không xin phép Quốc Hội, sau này kiện tụng rất là lôi thôi.

[CBSNews: Schumer rejects Trump's view that hostilities with Iran are over: “That's bulls***”]

7. Trong khi Tổng thống Trump tập trung vào Iran, Âu Châu và Ukraine tăng cường quan hệ.

Tổng thống Trump phần lớn đã không còn chú trọng đến cuộc chiến đang diễn ra ở Ukraine nữa — và Âu Châu cũng không còn chờ đợi ông ấy tập trung trở lại vào vấn đề này. Trước thái độ đứng hẳn về phía Nga của Tổng thống Trump, nhiều người Ukraine và Âu Châu coi việc Tổng thống Trump không còn chú trọng đến cuộc chiến đang diễn ra ở Ukraine là một niềm vui hơn là một nỗi buồn.

Gần hai tháng kể từ khi cuộc chiến với Iran bắt đầu, sự quan tâm của Tổng thống Trump đối với Trung Đông đã biến Ukraine thành vấn đề thứ yếu trong Tòa Bạch Ốc.

“Mọi thứ dường như đang bế tắc và cần động lực mới để hợp tác cùng nhau,” một quan chức Âu Châu cho biết, giống như những người khác được phỏng vấn cho báo cáo này, ông được yêu cầu giấu tên để có thể nói chuyện thẳng thắn.

Nhưng 24 giờ qua đã xác nhận rằng đây ngày càng là suy nghĩ viển vông — rằng, vào thời điểm này, Tổng thống Trump quan tâm đến việc chỉ trích và thậm chí trừng phạt các cường quốc Âu Châu hơn là hợp tác cùng nhau. Hôm thứ Tư, Tổng thống Trump đã công kích Thủ tướng Đức trên mạng xã hội, gây sốc cho Ngũ Giác Đài bằng cách đe dọa giảm sự hiện diện của quân đội Mỹ tại ba quốc gia Âu Châu và có cuộc điện đàm dài với Putin, trong đó hai bên đồng ý về một lệnh ngừng bắn ngắn hạn để Putin tổ chức diễn binh Ngày Chiến Thắng mùng 9 Tháng Năm. Lệnh ngừng bắn được áp đặt lên Ukraine mà không tham khảo ý kiến của Ukraine.

Ở một thời điểm khác, bất kỳ sự kiện nào trong số đó cũng có thể dẫn đến các cuộc họp khẩn cấp tại khắp các thủ đô Âu Châu. Nhưng ít người ở Âu Châu cảm thấy như thể bầu trời đang sụp đổ — bởi vì, trên nhiều phương diện, nó đã sụp đổ rồi, và các nhà lãnh đạo khác đã bắt đầu thích nghi, bao gồm cả việc có thể thành lập một Liên minh Quốc phòng Âu Châu.

“Trong khi tổng thống và nhóm của ông đang nỗ lực hướng tới một thỏa thuận bảo đảm Iran không bao giờ có thể sở hữu vũ khí hạt nhân, họ cũng tiếp tục đạt được tiến triển trong việc chấm dứt chiến tranh giữa Nga và Ukraine”, phát ngôn nhân của Tòa Bạch Ốc, cho biết trong một tuyên bố. “Tổng thống vẫn lạc quan rằng cuối cùng sẽ có một thỏa thuận hòa bình giữa Ukraine và Nga để chấm dứt cuộc chiến tranh vô nghĩa này.”

Nhưng rõ ràng là vấn đề Ukraine đã bị giảm nhẹ tầm quan trọng ở Tòa Bạch Ốc.

Trước cuộc điện đàm giữa Tổng thống Trump và Putin, một quan chức cao cấp của Tòa Bạch Ốc cho biết họ không nhớ lần cuối cùng nghe ai đó nói về cuộc xung đột Nga-Ukraine là khi nào.

“Iran chắc chắn đã trở thành trọng tâm chính,” một quan chức cao cấp cho biết, người này yêu cầu giấu tên để có thể thảo luận về những vấn đề mà họ không được phép công khai.

Quan chức này tiếp tục cho biết, hai đặc phái viên hàng đầu của tổng thống tham gia đối thoại với Nga và Ukraine, Steve Witkoff và Jared Kushner, “chủ yếu tập trung vào vấn đề Iran”, mặc dù họ thừa nhận rằng một số cuộc liên lạc với các đối tác Nga và Ukraine vẫn tiếp tục diễn ra.

Đối với người Âu Châu, việc Tổng thống Trump chuyển hướng sự chú ý và những lời chỉ trích gay gắt đã giúp họ nhận ra rõ hơn sự cần thiết cấp bách phải có thêm quyền tự chủ và độc lập khỏi Washington. Đồng thời, cuộc chiến ở Iran đã củng cố niềm tin của Ukraine, làm rõ hơn khả năng quân sự ngày càng phát triển của nước này đối với các đồng minh ở Âu Châu và trên toàn thế giới.

“Tất cả đều đang dần hiện rõ,” một quan chức Âu Châu khác cho biết. “Tác động của cuộc chiến ở Iran và việc phong tỏa eo biển Hormuz hiện nay là rất lớn và tiêu cực đối với Ukraine và Âu Châu. Nếu có điều gì đó tích cực, thì đó chính là quyết tâm của Âu Châu trong việc sát cánh cùng Ukraine.”

Trong khi cuộc chiến với Iran và cuộc khủng hoảng nguồn cung năng lượng sau đó là một lợi thế cho Putin, Ukraine đã mở ra một nguồn thu mới bằng cách ký kết các thỏa thuận với các đồng minh Âu Châu và vùng Vịnh đang rất cần công nghệ phòng thủ máy bay điều khiển từ xa của nước này. Một quan chức Âu Châu cho biết: “Các quốc gia đã bắt đầu nhận ra rằng họ cần Ukraine cũng như cần chúng ta. Cả kinh nghiệm chiến đấu và công nghệ của họ.”

Liên minh Âu Châu, đang tìm cách đẩy nhanh quá trình gia nhập của Ukraine dưới một hình thức nào đó, cuối cùng đã phê duyệt khoản vay 90 tỷ euro cho Ukraine sau khi cựu Thủ tướng Hung Gia Lợi Viktor Orbán thất bại trong cuộc tranh cử, sau khi ông này ngăn chặn việc phê duyệt. Các nhà sản xuất vũ khí Âu Châu đang gấp rút tăng cường năng lực sản xuất trong bối cảnh ngày càng có nhiều câu hỏi về việc liệu Mỹ có giao vũ khí mà NATO đã mua để sử dụng tại Ukraine theo sáng kiến PURL hay không, khi mà cuộc chiến với Iran đã làm giảm kho dự trữ vũ khí của Mỹ.

“Mỹ đã bảo đảm với chúng tôi rằng vũ khí đã được thanh toán theo chương trình PURL sẽ được giao,” một quan chức Âu Châu thứ ba cho biết. “Nhưng tôi nghi ngờ về các gói hàng tiếp theo do nhu cầu của Mỹ.”

Ngay cả Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskiy, người đã tích cực tìm kiếm sự ủng hộ của Tổng thống Trump trong suốt năm qua, dường như cũng đang dần từ bỏ việc thuyết phục Mỹ tiếp tục can thiệp, và thay vào đó đang lên kế hoạch chiến lược để hoạt động mà không cần đến sự can thiệp đó.

Ông ấy thận trọng hơn về sự can thiệp của Mỹ trong tương lai và hiện đang hướng tới Thổ Nhĩ Kỳ để đăng cai vòng đàm phán tiếp theo với Nga. Tại Ukraine, niềm tin vào sự hỗ trợ của Mỹ trong tương lai đã giảm nhanh chóng. Theo một cuộc thăm dò quốc gia mới của Viện Xã hội học Quốc tế Kyiv, chỉ có 40% người dân tin rằng Mỹ sẽ cung cấp sự hỗ trợ cần thiết, giảm 17 điểm phần trăm so với cuộc khảo sát hồi tháng Giêng. Và số người nói rằng họ tin tưởng vào những bảo đảm an ninh tiềm năng trong tương lai từ Mỹ đã giảm từ 39% xuống còn 27% trong cùng kỳ.

Tuần này, Tổng thống Zelenskiy đã chỉ trích Phó Tổng thống JD Vance vì phát ngôn hồi đầu tháng rằng việc ngừng viện trợ quốc phòng của Mỹ cho Ukraine và buộc người Âu Châu phải trả tiền là “một trong những điều tôi tự hào nhất”.

“Nếu JD Vance tự hào rằng ông ta không giúp đỡ chúng ta, điều đó có nghĩa là ông ta đang giúp đỡ người Nga, và tôi không chắc điều đó có làm tăng sức mạnh cho Hoa Kỳ hay không,” Tổng thống Zelenskiy nói trong một cuộc phỏng vấn với Newsmax. “Nga là kẻ thù. Họ sẽ luôn là kẻ thù của Hoa Kỳ.”

Michael Clarke, Giáo sư thỉnh giảng về Nghiên cứu Quốc phòng tại King's College Luân Đôn nói với Sky News rằng “chính sách nghiêng về phía Nga và bỏ rơi Ukraine của Mỹ là một 'shanda', một điều đáng xấu hổ. Đó cũng là một sai lầm chiến lược nghiêm trọng.”

Trong phần lớn năm đầu tiên Tổng thống Trump trở lại nắm quyền, các nhà lãnh đạo Âu Châu đã tìm cách xoa dịu Tổng thống Trump bằng những lời tâng bốc, chấp nhận mức thuế quan cao hơn và cam kết tăng chi tiêu quốc phòng. Tất cả những điều đó được coi là cái giá đáng phải trả để ngăn tổng thống quay lưng lại với Ukraine, cắt đứt việc chia sẻ thông tin tình báo hoặc mua bán vũ khí và tìm kiếm một thỏa thuận kinh tế song phương mới với Mạc Tư Khoa.

Nhưng những khác biệt giữa chính quyền Trump và các đồng minh Âu Châu đang bắt đầu trở nên không thể dung hòa. Tổng thống Trump đã chuyển từ việc đe dọa chiếm Greenland từ Đan Mạch hồi đầu năm nay sang việc chỉ trích và thậm chí muốn trừng phạt các đồng minh NATO cụ thể vì từ chối tham gia chiến tranh ở Iran - một cuộc chiến đã đẩy cuộc chiến ở Ukraine và vấn đề an ninh Âu Châu rộng lớn hơn, mang tính sống còn, xuống hàng thứ yếu tại Tòa Bạch Ốc.

Đã có những tín hiệu khác cho thấy sự chú ý của chính quyền đang chuyển hướng ra ngoài vấn đề Ukraine.

Đại sứ lâm thời của Mỹ tại Ukraine, Julie Davis, thông báo bà sẽ rời nhiệm sở trong những tuần tới do những bất đồng được tường trình với tổng thống. Và tuần này, các đảng viên Cộng hòa đã gây áp lực lên Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth trong một cuộc họp kín và công khai về lý do tại sao Ngũ Giác Đài vẫn chưa giải ngân 400 triệu đô la viện trợ cho Ukraine mà Quốc hội đã phê duyệt từ nhiều tháng trước (Hegseth thông báo hôm thứ Tư rằng số tiền cuối cùng đã được giải ngân).

Cựu lãnh đạo phe Cộng hòa tại Thượng viện, Mitch McConnell của bang Kentucky, đã chỉ trích mạnh mẽ chính quyền Trump trong một bài bình luận trên tờ Washington Post, không chỉ đặt câu hỏi về việc trì hoãn khoản tài trợ ít ỏi. “Việc do dự không cung cấp cho Ukraine những gì họ cần làm suy yếu khả năng phòng thủ trước sự xâm lược và cản trở triển vọng ngoại giao”, McConnell viết, đồng thời đặt câu hỏi tại sao các quan chức vẫn chưa đến Ukraine để quan sát những tiến bộ của nước này trong công nghệ chiến trường. “Nếu chúng ta thực sự nghiêm chỉnh về “sự thống trị bằng máy bay điều khiển từ xa”, chúng ta không nên cản trở mối quan hệ với các chuyên gia hàng đầu thế giới về máy bay điều khiển từ xa.”

Trên khắp Âu Châu, các đồng minh lâu năm đang cân nhắc về các liên minh mới. Ủy viên Quốc phòng Liên Hiệp Âu Châu Andrius Kubilius tuần này đã nhắc lại lời kêu gọi các quốc gia ngoài Liên Hiệp Âu Châu như Anh, Na Uy và Ukraine tham gia Liên minh Quốc phòng Âu Châu mới để tích hợp tốt hơn các năng lực quốc phòng bên ngoài Liên Hiệp Âu Châu, điều mà ông cho rằng sẽ tạo nên “một sự bảo đảm an ninh vững chắc cho Ukraine sau khi một nền hòa bình công bằng được thiết lập”.

Và 27 quốc gia thành viên Liên Hiệp Âu Châu đang chuẩn bị gặp gỡ 20 quốc gia láng giềng khác tại Armenia dưới sự bảo trợ của Cộng đồng Chính trị Âu Châu, lần đầu tiên đã mời một nhà lãnh đạo không thuộc Âu Châu tham gia — không phải tổng thống Hoa Kỳ mà là Thủ tướng Canada Mark Carney, người mà lời kêu gọi tha thiết từ Davos về sự cần thiết phải chấp nhận thực tế địa chính trị mới có thể đã thúc đẩy một nỗ lực rộng lớn hơn trên toàn lục địa nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào — và những điểm yếu — trước Washington.

Việc Tổng thống Trump ưu tiên Iran hơn Ukraine đang “khiến người Âu Châu phải chuẩn bị khẩn trương hơn cho an ninh tập thể bên ngoài cam kết Điều V của Hoa Kỳ”, Ian Bremmer, chủ tịch của Eurasia Group, cho biết.

Cựu Tổng thư ký NATO Anders Fogh Rasmussen, trong một cuộc phỏng vấn tuần trước, đã kêu gọi “một trụ cột quốc phòng mạnh mẽ của Âu Châu” trước thực tế mới.

“Từ nhỏ, tôi đã ngưỡng mộ Hoa Kỳ. Tôi coi Hoa Kỳ là người dẫn đầu tự nhiên của thế giới tự do,” Rasmussen nói trong một cuộc phỏng vấn trên Euro News. “Thật khó để đi đến kết luận rằng chúng ta phải giảm bớt sự phụ thuộc vào Hoa Kỳ, nhưng đó là thực trạng hiện nay.”

Nhưng các quan chức Âu Châu thừa nhận rằng việc tách khỏi Mỹ sau nhiều thập niên phụ thuộc là một quá trình chậm chạp. Và một số người vẫn tin rằng Tổng thống Trump phải là chất xúc tác để chấm dứt chiến tranh ở Ukraine.

“Tuy nhiên, sự can thiệp liên tục của Mỹ là cần thiết vì họ có đòn bẩy rất lớn,” một quan chức Âu Châu cho biết. “Sẽ rất tuyệt nếu thấy các nhà đàm phán Mỹ đến thăm Kyiv. Ít nhất, Mỹ nên tiếp tục hỗ trợ quân sự và tình báo cho Ukraine. Nhưng tôi nghĩ người Âu Châu có thể đảm nhận vai trò lớn hơn và mang lại động lực mới cho các cuộc đàm phán, với điều kiện người Mỹ tiếp tục hỗ trợ Ukraine và giúp bảo đảm bất cứ điều gì được thỏa thuận. Xét cho cùng, Tổng thống Trump muốn cuộc chiến này kết thúc.”

[Politico: As Trump focuses on Iran, Europe and Ukraine strengthen ties]

8. Vụ án cố ý sát hại hai người đàn ông Do Thái ở Luân Đôn.

Một người đàn ông 45 tuổi đã bị buộc tội âm mưu giết người sau khi hai người đàn ông gốc Do Thái bị đâm hôm thứ Tư tại thủ đô Luân Đôn của Anh.

Essa Suleiman phải đối mặt với hai cáo buộc cố ý giết người và một cáo buộc tàng trữ hung khí nơi công cộng sau vụ đâm hai người đàn ông Do Thái là Shloime Rand, 34 tuổi, và Moshe Shine, 76 tuổi. Vụ tấn công xảy ra ở Golders Green, tây bắc Luân Đôn.

Cả hai đều được đưa đến bệnh viện, sau đó Rand được xuất viện.

Suleiman cũng bị buộc tội âm mưu giết người liên quan đến một vụ việc riêng biệt xảy ra cùng ngày ở trung tâm Luân Đôn. Anh ta hiện vẫn đang bị cảnh sát giam giữ và đã ra hầu tòa tại Tòa án Sơ thẩm Westminster hôm Thứ Sáu, 01 Tháng Năm.

Helen Flanagan, nhà lãnh đạo bộ phận chống khủng bố của Sở Cảnh sát Thủ đô Luân Đôn, cho biết: “Chúng tôi vẫn luôn hướng về các nạn nhân và các viên chức chuyên trách tiếp tục hỗ trợ họ trong quá trình hồi phục.”

“Chúng tôi quyết tâm đòi lại công lý cho các nạn nhân và giờ đây khi một người đã bị buộc tội, tôi kêu gọi mọi người tránh mọi suy đoán thêm về vụ án này để công lý được thực thi.”

Suleiman, một công dân Anh sinh ra ở Somalia và đến Anh vào những năm 1990, đã được đưa vào chương trình chống chủ nghĩa cực đoan Prevent của chính phủ vào năm 2020 — nhưng vụ việc đã bị khép lại trong cùng năm đó.

Cáo buộc này được đưa ra sau khi mức độ đe dọa khủng bố của Anh được nâng lên vào tối thứ Năm từ “đáng kể” lên “nghiêm trọng”, có nghĩa là các cơ quan an ninh đánh giá một cuộc tấn công là “rất có khả năng” xảy ra trong vòng sáu tháng tới. Trong khi đó, chính phủ, dưới áp lực sau một loạt các vụ tấn công nhằm vào người Do Thái ở Anh, đã cam kết chi thêm 25 triệu bảng Anh cho các cuộc tuần tra của cảnh sát và an ninh cho các cộng đồng Do Thái.

Ủy viên cảnh sát trưởng thành phố Luân Đôn, Mark Rowley, trả lời phỏng vấn đài Times Radio hôm thứ Sáu rằng nước Anh đang “đối mặt với một đại dịch bài Do Thái ngày càng gia tăng” và các sĩ quan của ông đang “giải quyết các triệu chứng của căn bệnh đó”.

[Politico: Attempted murder charge after Jewish men stabbed in London]

9. Tổng thống Trump nói ông nghĩ rằng cuộc chiến sẽ khiến thị trường chứng khoán giảm 25%.

Phát biểu trước những người cao tuổi tại khu The Villages ở Florida, tổng thống nói rằng trước khi chiến tranh bắt đầu, ông nghĩ giá xăng sẽ cao hơn hiện nay. Ông thừa nhận giá xăng hiện tại không thấp, nhưng nói rằng ông nghĩ giá sẽ còn cao hơn nữa.

“Tôi nghĩ giá dầu sẽ cao hơn nhiều so với thực tế,” ông nói.

Tổng thống Trump cũng cho rằng thị trường chứng khoán sẽ giảm 25%.

“Tôi nghĩ thị trường chứng khoán sẽ giảm 25%,” ông nói.

Ông an ủi những người đang phải bươn chải với những khó khăn trong cuộc sống khi nói về những thành tựu quân sự của Hoa Kỳ trước Iran: “Chúng ta đang giành được những chiến thắng vang dội.”

[CBSNews: Trump says he thought the war would tank the stock market by 25%]

10. Ngoại trưởng Iran cáo buộc Mỹ nói dối về chi phí chiến tranh.

Ngoại trưởng Iran Araghchi tuyên bố “Ngũ Giác Đài đang nói dối” về chi phí kinh tế của cuộc chiến, được chính quyền Trump phát động vào ngày 28 tháng 2 cùng với Netanyahu.

“Canh bạc của Netanyahu đã trực tiếp khiến nước Mỹ thiệt hại 100 tỷ đô la cho đến nay, gấp bốn lần con số được tuyên bố,” Araghchi nói.

“Chi phí gián tiếp mà người đóng thuế Mỹ phải gánh chịu cao hơn NHIỀU. Hóa đơn hàng tháng cho mỗi gia cư Mỹ là 500 đô la và đang tăng nhanh. Chính sách ‘Ưu tiên Israel’ luôn đồng nghĩa với ‘Nước Mỹ cuối cùng’.”

Trong khi đó, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Iran, Esmaeil Baghaei, đã chỉ trích Mỹ về cuộc chiến “xâm lược” của họ, và thách thức chính luận điệu của Washington rằng các cuộc tấn công vào Iran là trường hợp “tự vệ”.

Baghaei đã nêu bật một tài liệu của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ biện minh cho cuộc chiến, trong đó nêu rõ: “Hoa Kỳ tham gia vào cuộc xung đột này theo yêu cầu và để tự vệ tập thể cho đồng minh Israel của mình, cũng như để thực hiện quyền tự vệ vốn có của chính Hoa Kỳ”.

“Tự vệ chống lại cái gì?” Baghaei hỏi.

“Liệu có bất kỳ cuộc ‘tấn công vũ trang’ nào từ phía Iran để biện minh cho hành động ‘tự vệ’ hay không? Chắc chắn là không!”

“Vì vậy, đây hoàn toàn KHÔNG phải là 'tự vệ' — mà là một hành động GÂY HẤN chống lại quốc gia Iran.”

[Al Jazeera English: Iran’s FM claims US lying about war cost]

NewsUKMor03May2026
 
Đức Tin Và Chính Trị - Cộng Hoà và Dân Chủ - Lược Sử Chính Trị Hoa Kỳ thời hậu chiến
VietCatholic Media
17:57 02/05/2026

Cha Dwight Longenecker là cha sở Nhà thờ Đức Mẹ Mân Côi ở Greenville, Nam Carolina, tuyên úy tại Kings College, Cambridge. Cha Dwight đã viết mười sáu cuốn sách và vô số bài báo cho các trang web, tạp chí và báo ở Hoa Kỳ và Anh.

Trên tờ Catholic Herald, ngài vừa có bài viết nhan đề “Faith, politics and the rise of MAGA Catholics”, nghĩa là “Đức tin, chính trị và sự trỗi dậy của những người Công Giáo MAGA”

Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.

Sáng nay, khi lướt mạng xã hội, tôi bị thu hút bởi một hình ảnh kép: một chiếc máy bay chiến đấu trông rất dữ dằn với biểu tượng lớn của Đức Mẹ Đồng Trinh Maria, Nữ Vương Hòa Bình, được in nổi bật trên đó, bên cạnh là hình ảnh của Ông Donald Trump do trí tuệ nhân tạo, gọi tắt là AI, tạo ra. Tổng thống Trump tỏa ra một thứ vinh quang cứu thế nào đó trước lá cờ Mỹ tung bay và khẩu hiệu “Cảm ơn Chúa vì Tổng thống Trump”. Người đăng bài có tên tài khoản là “Đức Mẹ Guadalupe”. Phía trên hình ảnh kép mà tài khoản “Đức Mẹ Guadalupe” đăng tải là dòng chữ: “Chúa phù hộ nước Mỹ và Tổng thống Trump. Cảm ơn Chúa Giêsu vì đã phái Tổng thống Trump đến để chống lại một vị giáo hoàng bội giáo, là người đã sai lầm về giáo lý của Giáo hội.”

Sự công kích dữ dội nhắm vào Đức Giáo Hoàng Lêô từ những người Công Giáo cánh hữu ở Mỹ thật đáng kinh ngạc. Sau khi Tổng thống Trump công khai vu cáo và mạ lị Đức Giáo Hoàng vì những bình luận của ngài liên quan đến cuộc chiến ở Iran và sự ủng hộ của ngài dành cho người nghèo và người nhập cư, các bài đăng trên mạng xã hội từ những người ủng hộ Tổng thống Trump đã vu cáo Đức Giáo Hoàng Lêô là người đồng tính, tay sai của “Mafia đồng tính”, con rối của bộ máy chính trị cánh tả Obama/Axelrod, một người theo chủ nghĩa xã hội, một người cộng sản và là người kế nhiệm được chọn lựa của Đức Thánh Cha Phanxicô, là người đã bảo vệ những kẻ phạm tội tình dục theo chủ nghĩa Mác. Sự cuồng tín đáng sợ của những người Công Giáo ủng hộ Tổng thống Trump cuồng nhiệt thật khó hiểu, nhưng khi nhìn vào lịch sử và bối cảnh rộng hơn, điều đó không có gì đáng ngạc nhiên.

Để hiểu rõ hơn bối cảnh, cần phải nắm bắt nền chính trị Mỹ từ thời kỳ hậu chiến trở đi. Trong hai đảng chính trị – Cộng hòa và Dân chủ – đảng Dân chủ, trong thời kỳ đầu, tự xưng là đảng của người nghèo, những người bị tước đoạt quyền lợi, những người nhập cư và giai cấp công nhân. Họ đứng về phía người dân thường: các công đoàn, quyền bình đẳng, phúc lợi xã hội và chống lại giới thượng lưu giàu có ở Bờ Đông. Do đó, đảng Dân chủ cũng có được phiếu bầu của người Công Giáo. Đảng Cộng hòa đại diện cho người giàu, chủ sở hữu tài sản, tầng lớp trung lưu da trắng theo đạo Tin lành, phần lớn những người có trình độ đại học và giới tinh hoa cầm quyền.

Nhưng từ những năm 1960 trở đi, mọi thứ đã đảo ngược hoàn toàn. Việc bảo vệ người nghèo và đấu tranh cho quyền bình đẳng trở nên thịnh hành, và những quyền bình đẳng đó không chỉ dành cho người Mỹ gốc Phi. Những người theo chủ nghĩa nữ quyền và người đồng tính cũng đòi hỏi quyền bình đẳng. Khi giới trí thức, ngành công nghiệp giải trí và các nhân vật truyền thông cùng tham gia, Đảng Dân chủ trở thành đảng của một tầng lớp tinh hoa mới – tầng lớp tinh hoa chính trị mị dân. Sự ủng hộ dành cho người nghèo, các dân tộc thiểu số, giai cấp công nhân và người nhập cư trước đây đã phát triển thành sự ủng hộ cho một loạt các nhóm người bị thiệt thòi và cả những người không hẳn là thiệt thòi nhưng được cho là bị thiệt thòi như những người phụ nữ vì một lý do nào đó muốn phá thai.

Khi Đảng Dân chủ chuyển hướng từ giai cấp công nhân sang tầng lớp tinh hoa mới này, cơ sở cử tri truyền thống của họ bắt đầu thay đổi. Những người Dân chủ, đặc biệt là người Công Giáo, thuộc tầng lớp lao động bình thường nhận ra rằng các giá trị thông thường của họ – cả về kinh tế và đạo đức – phù hợp hơn với Đảng Cộng hòa. Sự chuyển dịch này một phần được thúc đẩy bởi “Đa số đạo đức” trong những năm 1970, tham gia vào cuộc chiến văn hóa về đạo đức tình dục và phá thai, và thông qua đó người Tin lành và người Công Giáo bắt đầu coi nhau là đồng minh chứ không phải kẻ thù.

Trong một cuộc phỏng vấn trên truyền hình với Ông Donald Trump nhiều thập niên trước khi ông theo đuổi tham vọng chính trị, người phỏng vấn đang đi bộ trên một con phố ở thành phố New York và hỏi Tổng thống Trump liệu ông có bao giờ cân nhắc đến chính trị hay không. Thương gia Trump trả lời một cách tiên tri: “Chắc chắn rồi, và nếu tôi làm vậy, tôi sẽ thắng.”

“Ai sẽ bỏ phiếu cho ông?” người phỏng vấn hỏi.

Vừa chỉ tay về phía các công nhân xây dựng tại một trong những dự án của mình, thương gia Donald Trump nói: “Những người ở trên kia kìa”.

Mọi người đều vẫy tay chào và gọi tên ông ta.

Sau thời kỳ thống trị của gia đình Bush, một thế lực quý tộc vùng Bờ Đông, đối với Đảng Cộng hòa, tỷ phú Donald Trump nổi lên. Từng là một đảng viên Dân chủ, ông hiểu rõ sự thay đổi văn hóa đã diễn ra. Những người lao động, những người dân thường, đa số thầm lặng giờ đây là đảng viên Cộng hòa chứ không phải đảng viên Dân chủ. Ông tự khắc họa mình là một người bình thường đã thành đạt. Ông khôn ngoan, nói năng – và hành động – không giống như gia đình Bush, mà giống như những người công nhân xây dựng.

Ông ta có thô lỗ và ăn nói tục tĩu không? Họ cũng vậy. Ông ta có thích phụ nữ đẹp không? Ông ta cũng giống họ. Ông ta có giỏi làm ăn và kiếm tiền không? Họ ước gì mình cũng làm được. Ông ta có trốn thuế, không tin tưởng chính phủ và nghi ngờ giới cầm quyền tham nhũng không? Họ cũng có cùng quan điểm. Khi ông ta bị giới cầm quyền tham nhũng và gian xảo đó bức hại, ông ta trở thành người tử đạo của họ. Khi ông ta sống sót sau một vụ ám sát, điều đó càng khẳng định thêm vị thế của ông ta.

Sự ái mộ dành cho Ông Donald Trump khiến chính ông cũng phải ngạc nhiên.

“Tôi có những người ủng hộ trung thành nhất,” Trump nói vào Tháng Giêng năm 2016 tại Iowa. “Tôi có thể đứng giữa Fifth Avenue và bắn chết ai đó, và tôi sẽ không mất bất kỳ cử tri nào, được chứ?”

Giờ hãy cùng bàn đến vấn đề tôn giáo. Nhiều người Mỹ thuộc tầng lớp lao động và trung lưu này là tín hữu Kitô giáo – cả Công Giáo và Tin Lành. Họ không thích ngôn từ hay đạo đức của Tổng thống Trump, nhưng họ vẫn chọn ông ta thay vì ứng cử viên khác, bởi vì lúc này đảng Dân chủ đã vững chắc ủng hộ quyền phá thai, nữ quyền, hoạt động vì quyền LGBTQ+, ý thức hệ về người chuyển giới và biên giới mở.

Những người Công Giáo từng bỏ phiếu cho đảng Dân chủ vì cho rằng đó là “đảng của người nghèo” đã do dự khi “người nghèo” dường như bao gồm một phạm vi rộng lớn các tầng lớp bị xã hội ruồng bỏ. Trong nỗ lực thể hiện sự khoan dung, đảng Dân chủ dường như, theo quan điểm của những cử tri này, đang dung túng cho những thành phần tồi tệ nhất của tầng lớp dưới đáy xã hội – những người nghèo khó, nghiện ngập và vô gia cư. Người Công Giáo có thể muốn giúp đỡ người nghèo, nhưng đối với nhiều người, điều này là một bước đi quá xa.

Ông Donald Trump nhậm chức với lời hứa sẽ dọn dẹp các thành phố, trục xuất những người nhập cư phạm tội, hỗ trợ gia đình, “thanh lọc bộ máy chính trị” ở Washington và “Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại”.

Khi ông hành động cùng với Israel đối với Iran, những người ủng hộ ông đã reo hò – kể cả người Công Giáo. Nhiều người coi người Hồi giáo là mối đe dọa và xem các hành động của Iran, cả trên trường quốc tế và trong nước, là lý do chính đáng để Mỹ sử dụng vũ lực.

Đối với những người Công Giáo cánh hữu ở Mỹ, còn có thêm một yếu tố nữa: Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Nhiều người Công Giáo bảo thủ tin rằng Đức Phanxicô không thích nước Mỹ, không hiểu những người Công Giáo truyền thống và cũng không muốn hiểu. Họ coi ngài là người ủng hộ thần học giải phóng và thù địch với những mối quan tâm của họ. Nếu Đức Phanxicô không thích họ, họ cũng có thái độ tương tự.

Giờ đây, khi Đức Giáo Hoàng Lêô đã lên ngôi Giáo hoàng, những người Công Giáo này lại tự thuyết phục mình rằng ngài là kết quả của một cuộc bầu cử giáo hoàng do Đức Giáo Hoàng Phanxicô và các đồng minh của ngài – các Hồng Y Cupich, Tobin và McElroy – dàn dựng.

Quá nhiều người tự xưng là người Công Giáo, nhưng lại nói: “Vị Giáo hoàng này không phải là Giáo hoàng của tôi”.

Thay vào đó, Tổng thống Trump là người hùng của họ, thậm chí là một đấng tiên tri nào đó được Chúa phái đến cứu họ, và khẩu hiệu chiến đấu của họ là: “Cảm ơn Chúa Giêsu vì đã phái Tổng thống Trump đến để chống lại một vị giáo hoàng bội giáo.”

Tôi nhận ra mình chẳng thể làm gì nhiều để giải quyết tình huống quá sức bi thảm này.

Tuy nhiên, tôi nghĩ có năm bước mà người Công Giáo Mỹ bình thường nên thực hiện. Thứ nhất, chúng ta nên chú ý đến lời của Thánh Phaolô: “Trước hết, tôi khuyên ai nấy dâng lời cầu xin, khẩn nguyện, nài van, tạ ơn cho tất cả mọi người, cho vua chúa và tất cả những người cầm quyền, để chúng ta được an cư lạc nghiệp mà sống thật đạo đức và nghiêm chỉnh” (1 Tm 2:1-2). Xét thấy những lời này được viết trong thời trị vì của Nero, thì yêu cầu này không phải là quá đáng.

Thứ hai, chúng ta nên thừa nhận rằng việc lên tiếng về các vấn đề đạo đức cũng như giáo lý là vai trò của Đức Giáo Hoàng và việc ngài bình luận về những vấn đề liên quan đến nhân loại là điều hoàn toàn trong thẩm quyền của vị mục tử toàn thể Hội Thánh.

Thứ ba, chúng ta nên dành cho Đức Thánh Cha sự tôn trọng bằng cách tìm hiểu xem ngài thực sự đã nói gì, thay vì dựa vào những tiêu đề gây hoang mang từ các nguồn tin tức và mạng xã hội mang tính thiên vị.

Thứ tư, chúng ta nên hiểu biết hơn về giáo huấn xã hội của Công Giáo, nhận ra rằng giáo huấn này đưa ra một đường lối rộng hơn đối với các vấn đề thế giới, vừa cân bằng vừa hoàn toàn mang tính Công Giáo.

Cuối cùng, tất cả chúng ta nên cố gắng hơn nữa để nhìn nhận vấn đề từ góc độ khác. Chúng ta có thể bất đồng quan điểm với các anh chị em Công Giáo khác về các vấn đề chính trị, nhưng nếu chúng ta thừa nhận rằng họ giữ vững lập trường của mình với thiện chí chân thành, họ có thể đáp lại bằng sự tôn trọng tương tự và thừa nhận rằng chúng ta cũng hy vọng, cầu nguyện và nỗ lực vì điều tốt đẹp nhất. Trong sự tôn trọng lẫn nhau này, sự hiệp nhất cốt lõi của đức tin Công Giáo sẽ được nuôi dưỡng và phát triển thịnh vượng.


Source:Catholic Herald
 
Công Giáo MAGA – âu lo của Giáo Hội Hoa Kỳ. ĐGH sắp tấn phong Hồng Y, Việt Nam nhiều hy vọng
VietCatholic Media
18:20 02/05/2026


1. Đức tin, chính trị và sự bùng phát những người Công Giáo MAGA

Cha Dwight Longenecker là cha sở Nhà thờ Đức Mẹ Mân Côi ở Greenville, Nam Carolina, tuyên úy tại Kings College, Cambridge. Cha Dwight đã viết mười sáu cuốn sách và vô số bài báo cho các trang web, tạp chí và báo ở Hoa Kỳ và Anh.

Trên tờ Catholic Herald, ngài vừa có bài viết nhan đề “Faith, politics and the rise of MAGA Catholics”, nghĩa là “Đức tin, chính trị và sự trỗi dậy của những người Công Giáo MAGA”

Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.

Sáng nay, khi lướt mạng xã hội, tôi bị thu hút bởi một hình ảnh kép: một chiếc máy bay chiến đấu trông rất dữ dằn với biểu tượng lớn của Đức Mẹ Đồng Trinh Maria, Nữ Vương Hòa Bình, được in nổi bật trên đó, bên cạnh là hình ảnh của Ông Donald Trump do trí tuệ nhân tạo, gọi tắt là AI, tạo ra. Tổng thống Trump tỏa ra một thứ vinh quang cứu thế nào đó trước lá cờ Mỹ tung bay và khẩu hiệu “Cảm ơn Chúa vì Tổng thống Trump”. Người đăng bài có tên tài khoản là “Đức Mẹ Guadalupe”. Phía trên hình ảnh kép mà tài khoản “Đức Mẹ Guadalupe” đăng tải là dòng chữ: “Chúa phù hộ nước Mỹ và Tổng thống Trump. Cảm ơn Chúa Giêsu vì đã phái Tổng thống Trump đến để chống lại một vị giáo hoàng bội giáo, là người đã sai lầm về giáo lý của Giáo hội.”

Sự công kích dữ dội nhắm vào Đức Giáo Hoàng Lêô từ những người Công Giáo cánh hữu ở Mỹ thật đáng kinh ngạc. Sau khi Tổng thống Trump công khai vu cáo và mạ lị Đức Giáo Hoàng vì những bình luận của ngài liên quan đến cuộc chiến ở Iran và sự ủng hộ của ngài dành cho người nghèo và người nhập cư, các bài đăng trên mạng xã hội từ những người ủng hộ Tổng thống Trump đã vu cáo Đức Giáo Hoàng Lêô là người đồng tính, tay sai của “Mafia đồng tính”, con rối của bộ máy chính trị cánh tả Obama/Axelrod, một người theo chủ nghĩa xã hội, một người cộng sản và là người kế nhiệm được chọn lựa của Đức Thánh Cha Phanxicô, là người đã bảo vệ những kẻ phạm tội tình dục theo chủ nghĩa Mác. Sự cuồng tín đáng sợ của những người Công Giáo ủng hộ Tổng thống Trump cuồng nhiệt thật khó hiểu, nhưng khi nhìn vào lịch sử và bối cảnh rộng hơn, điều đó không có gì đáng ngạc nhiên.

Để hiểu rõ hơn bối cảnh, cần phải nắm bắt nền chính trị Mỹ từ thời kỳ hậu chiến trở đi. Trong hai đảng chính trị – Cộng hòa và Dân chủ – đảng Dân chủ, trong thời kỳ đầu, tự xưng là đảng của người nghèo, những người bị tước đoạt quyền lợi, những người nhập cư và giai cấp công nhân. Họ đứng về phía người dân thường: các công đoàn, quyền bình đẳng, phúc lợi xã hội và chống lại giới thượng lưu giàu có ở Bờ Đông. Do đó, đảng Dân chủ cũng có được phiếu bầu của người Công Giáo. Đảng Cộng hòa đại diện cho người giàu, chủ sở hữu tài sản, tầng lớp trung lưu da trắng theo đạo Tin lành, phần lớn những người có trình độ đại học và giới tinh hoa cầm quyền.

Nhưng từ những năm 1960 trở đi, mọi thứ đã đảo ngược hoàn toàn. Việc bảo vệ người nghèo và đấu tranh cho quyền bình đẳng trở nên thịnh hành, và những quyền bình đẳng đó không chỉ dành cho người Mỹ gốc Phi. Những người theo chủ nghĩa nữ quyền và người đồng tính cũng đòi hỏi quyền bình đẳng. Khi giới trí thức, ngành công nghiệp giải trí và các nhân vật truyền thông cùng tham gia, Đảng Dân chủ trở thành đảng của một tầng lớp tinh hoa mới – tầng lớp tinh hoa chính trị mị dân. Sự ủng hộ dành cho người nghèo, các dân tộc thiểu số, giai cấp công nhân và người nhập cư trước đây đã phát triển thành sự ủng hộ cho một loạt các nhóm người bị thiệt thòi và cả những người không hẳn là thiệt thòi nhưng được cho là bị thiệt thòi như những người phụ nữ vì một lý do nào đó muốn phá thai.

Khi Đảng Dân chủ chuyển hướng từ giai cấp công nhân sang tầng lớp tinh hoa mới này, cơ sở cử tri truyền thống của họ bắt đầu thay đổi. Những người Dân chủ, đặc biệt là người Công Giáo, thuộc tầng lớp lao động bình thường nhận ra rằng các giá trị thông thường của họ – cả về kinh tế và đạo đức – phù hợp hơn với Đảng Cộng hòa. Sự chuyển dịch này một phần được thúc đẩy bởi “Đa số đạo đức” trong những năm 1970, tham gia vào cuộc chiến văn hóa về đạo đức tình dục và phá thai, và thông qua đó người Tin lành và người Công Giáo bắt đầu coi nhau là đồng minh chứ không phải kẻ thù.

Trong một cuộc phỏng vấn trên truyền hình với Ông Donald Trump nhiều thập niên trước khi ông theo đuổi tham vọng chính trị, người phỏng vấn đang đi bộ trên một con phố ở thành phố New York và hỏi Tổng thống Trump liệu ông có bao giờ cân nhắc đến chính trị hay không. Thương gia Trump trả lời một cách tiên tri: “Chắc chắn rồi, và nếu tôi làm vậy, tôi sẽ thắng.”

“Ai sẽ bỏ phiếu cho ông?” người phỏng vấn hỏi.

Vừa chỉ tay về phía các công nhân xây dựng tại một trong những dự án của mình, thương gia Donald Trump nói: “Những người ở trên kia kìa”.

Mọi người đều vẫy tay chào và gọi tên ông ta.

Sau thời kỳ thống trị của gia đình Bush, một thế lực quý tộc vùng Bờ Đông, đối với Đảng Cộng hòa, tỷ phú Donald Trump nổi lên. Từng là một đảng viên Dân chủ, ông hiểu rõ sự thay đổi văn hóa đã diễn ra. Những người lao động, những người dân thường, đa số thầm lặng giờ đây là đảng viên Cộng hòa chứ không phải đảng viên Dân chủ. Ông tự khắc họa mình là một người bình thường đã thành đạt. Ông khôn ngoan, nói năng – và hành động – không giống như gia đình Bush, mà giống như những người công nhân xây dựng.

Ông ta có thô lỗ và ăn nói tục tĩu không? Họ cũng vậy. Ông ta có thích phụ nữ đẹp không? Ông ta cũng giống họ. Ông ta có giỏi làm ăn và kiếm tiền không? Họ ước gì mình cũng làm được. Ông ta có trốn thuế, không tin tưởng chính phủ và nghi ngờ giới cầm quyền tham nhũng không? Họ cũng có cùng quan điểm. Khi ông ta bị giới cầm quyền tham nhũng và gian xảo đó bức hại, ông ta trở thành người tử đạo của họ. Khi ông ta sống sót sau một vụ ám sát, điều đó càng khẳng định thêm vị thế của ông ta.

Sự ái mộ dành cho Ông Donald Trump khiến chính ông cũng phải ngạc nhiên.

“Tôi có những người ủng hộ trung thành nhất,” Trump nói vào Tháng Giêng năm 2016 tại Iowa. “Tôi có thể đứng giữa Fifth Avenue và bắn chết ai đó, và tôi sẽ không mất bất kỳ cử tri nào, được chứ?”

Giờ hãy cùng bàn đến vấn đề tôn giáo. Nhiều người Mỹ thuộc tầng lớp lao động và trung lưu này là tín hữu Kitô giáo – cả Công Giáo và Tin Lành. Họ không thích ngôn từ hay đạo đức của Tổng thống Trump, nhưng họ vẫn chọn ông ta thay vì ứng cử viên khác, bởi vì lúc này đảng Dân chủ đã vững chắc ủng hộ quyền phá thai, nữ quyền, hoạt động vì quyền LGBTQ+, ý thức hệ về người chuyển giới và biên giới mở.

Những người Công Giáo từng bỏ phiếu cho đảng Dân chủ vì cho rằng đó là “đảng của người nghèo” đã do dự khi “người nghèo” dường như bao gồm một phạm vi rộng lớn các tầng lớp bị xã hội ruồng bỏ. Trong nỗ lực thể hiện sự khoan dung, đảng Dân chủ dường như, theo quan điểm của những cử tri này, đang dung túng cho những thành phần tồi tệ nhất của tầng lớp dưới đáy xã hội – những người nghèo khó, nghiện ngập và vô gia cư. Người Công Giáo có thể muốn giúp đỡ người nghèo, nhưng đối với nhiều người, điều này là một bước đi quá xa.

Ông Donald Trump nhậm chức với lời hứa sẽ dọn dẹp các thành phố, trục xuất những người nhập cư phạm tội, hỗ trợ gia đình, “thanh lọc bộ máy chính trị” ở Washington và “Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại”.

Khi ông hành động cùng với Israel đối với Iran, những người ủng hộ ông đã reo hò – kể cả người Công Giáo. Nhiều người coi người Hồi giáo là mối đe dọa và xem các hành động của Iran, cả trên trường quốc tế và trong nước, là lý do chính đáng để Mỹ sử dụng vũ lực.

Đối với những người Công Giáo cánh hữu ở Mỹ, còn có thêm một yếu tố nữa: Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Nhiều người Công Giáo bảo thủ tin rằng Đức Phanxicô không thích nước Mỹ, không hiểu những người Công Giáo truyền thống và cũng không muốn hiểu. Họ coi ngài là người ủng hộ thần học giải phóng và thù địch với những mối quan tâm của họ. Nếu Đức Phanxicô không thích họ, họ cũng có thái độ tương tự.

Giờ đây, khi Đức Giáo Hoàng Lêô đã lên ngôi Giáo hoàng, những người Công Giáo này lại tự thuyết phục mình rằng ngài là kết quả của một cuộc bầu cử giáo hoàng do Đức Giáo Hoàng Phanxicô và các đồng minh của ngài – các Hồng Y Cupich, Tobin và McElroy – dàn dựng.

Quá nhiều người tự xưng là người Công Giáo, nhưng lại nói: “Vị Giáo hoàng này không phải là Giáo hoàng của tôi”.

Thay vào đó, Tổng thống Trump là người hùng của họ, thậm chí là một đấng tiên tri nào đó được Chúa phái đến cứu họ, và khẩu hiệu chiến đấu của họ là: “Cảm ơn Chúa Giêsu vì đã phái Tổng thống Trump đến để chống lại một vị giáo hoàng bội giáo.”

Tôi nhận ra mình chẳng thể làm gì nhiều để giải quyết tình huống quá sức bi thảm này.

Tuy nhiên, tôi nghĩ có năm bước mà người Công Giáo Mỹ bình thường nên thực hiện. Thứ nhất, chúng ta nên chú ý đến lời của Thánh Phaolô: “Trước hết, tôi khuyên ai nấy dâng lời cầu xin, khẩn nguyện, nài van, tạ ơn cho tất cả mọi người, cho vua chúa và tất cả những người cầm quyền, để chúng ta được an cư lạc nghiệp mà sống thật đạo đức và nghiêm chỉnh” (1 Tm 2:1-2). Xét thấy những lời này được viết trong thời trị vì của Nero, thì yêu cầu này không phải là quá đáng.

Thứ hai, chúng ta nên thừa nhận rằng việc lên tiếng về các vấn đề đạo đức cũng như giáo lý là vai trò của Đức Giáo Hoàng và việc ngài bình luận về những vấn đề liên quan đến nhân loại là điều hoàn toàn trong thẩm quyền của vị mục tử toàn thể Hội Thánh.

Thứ ba, chúng ta nên dành cho Đức Thánh Cha sự tôn trọng bằng cách tìm hiểu xem ngài thực sự đã nói gì, thay vì dựa vào những tiêu đề gây hoang mang từ các nguồn tin tức và mạng xã hội mang tính thiên vị.

Thứ tư, chúng ta nên hiểu biết hơn về giáo huấn xã hội của Công Giáo, nhận ra rằng giáo huấn này đưa ra một đường lối rộng hơn đối với các vấn đề thế giới, vừa cân bằng vừa hoàn toàn mang tính Công Giáo.

Cuối cùng, tất cả chúng ta nên cố gắng hơn nữa để nhìn nhận vấn đề từ góc độ khác. Chúng ta có thể bất đồng quan điểm với các anh chị em Công Giáo khác về các vấn đề chính trị, nhưng nếu chúng ta thừa nhận rằng họ giữ vững lập trường của mình với thiện chí chân thành, họ có thể đáp lại bằng sự tôn trọng tương tự và thừa nhận rằng chúng ta cũng hy vọng, cầu nguyện và nỗ lực vì điều tốt đẹp nhất. Trong sự tôn trọng lẫn nhau này, sự hiệp nhất cốt lõi của đức tin Công Giáo sẽ được nuôi dưỡng và phát triển thịnh vượng.


Source:Catholic Herald

2. Đức Hồng Y Pizzaballa nói Giêrusalem phải đáp trả chiến tranh bằng sự hàn gắn.

Đức Hồng Y Pierbattista Pizzaballa cho biết Giêrusalem không chỉ được kêu gọi để chịu đựng những vết thương chiến tranh, mà còn trở thành công cụ hàn gắn cho một thế giới tan vỡ, khi Đức Thượng phụ Latinh của Giêrusalem ban hành một thư mục vụ mới về ơn gọi của Giáo hội tại Thánh Địa. Bức thư, được công bố vào ngày 27 tháng 4, suy ngẫm về cuộc xung đột đã bao trùm khu vực kể từ các cuộc tấn công của Hamas vào ngày 7 tháng 10 và cuộc chiến ở Gaza, mà Đức Hồng Y Pizzaballa mô tả là một bước ngoặt đã khép lại một kỷ nguyên và mở ra một kỷ nguyên khác “theo cách tồi tệ nhất có thể”.

Lập luận của Đức Thượng phụ không chủ yếu mang tính chính trị theo nghĩa hẹp. Thay vào đó, ngài coi cuộc khủng hoảng như một thử thách đối với sự hiện diện của Kitô giáo trong một thế giới ngày càng bị định hình bởi bạo lực, sự chia rẽ và sự ngờ vực. Ngài nói rằng Giêrusalem cần phải đại diện cho sự cùng tồn tại và các mối quan hệ, cả về dân sự lẫn tôn giáo, và do đó cần phải kiên nhẫn hàn gắn những vết thương mà người khác đã gây ra.

Đức Hồng Y Pizzaballa chia bức thư của mình thành ba phần chính: thứ nhất, đánh giá tình trạng hiện tại của Thánh Địa; thứ hai, suy tư thần học về sứ mệnh của Giáo hội Giêrusalem; và thứ ba, những hàm ý thực tiễn của sứ mệnh đó đối với các giáo xứ, gia đình, trường học và các tổ chức. Kết quả là một sự xem xét sâu sắc, không hẳn là một sự can thiệp ngoại giao, về hình thức chứng nhân Kitô giáo nên như thế nào ở một nơi mà bạo lực đã làm xói mòn cả đời sống công cộng và lòng tin của con người.

Ngài lập luận rằng cuộc chiến hiện tại không thể được hiểu là một cuộc xung đột cục bộ riêng lẻ. Theo quan điểm của ngài, nó cho thấy sự đổ vỡ sâu sắc hơn trong trật tự quốc tế rộng lớn hơn, bao gồm cả sự suy yếu của các quy tắc, hiệp ước và cấu trúc đa phương từng được tường trình có khả năng kiềm chế bạo lực. Thay vào đó, ngài cho rằng, đã xuất hiện một niềm tin mới vào sức mạnh vũ lực, với chiến tranh một lần nữa được coi là một công cụ chấp nhận được và thậm chí được ngưỡng mộ trong đời sống chính trị.

Đức Hồng Y Pizzaballa lưu ý rằng cuộc xung đột cũng được tiến hành thông qua lời nói và hình ảnh, đến mức ngày càng khó phân biệt sự thật với tuyên truyền. Ngài cũng viết về những hậu quả ở cấp địa phương: các mối quan hệ tan vỡ vì hận thù và nghi ngờ, các cộng đồng thu mình vào những vùng đất biệt lập, và sự phân mảnh dựa trên bản sắc bị gia tăng bởi mạng xã hội.

Theo ngài, điều đặc biệt nghiêm trọng là những tổn hại gây ra cho chính đời sống tôn giáo. Ngài cảnh báo rằng các thánh địa có nguy cơ trở thành chiến trường của bản sắc thay vì nơi cầu nguyện, trong khi các kinh sách thiêng liêng bị viện dẫn để biện minh cho bạo lực, xâm lược và khủng bố. Ngài nói rằng việc lạm dụng danh Chúa như vậy có thể là tội lỗi nghiêm trọng nhất của thời đại hiện nay.

Bức thư cũng đáng chú ý bởi tính tự kiểm điểm. Đức Hồng Y Pizzaballa nói rằng Giáo hội ở Giêrusalem đã cố gắng nói chuyện một cách trung thực và mạnh dạn giữa sự hỗn loạn, nhưng ngài công khai đặt câu hỏi liệu điều đó đã đủ hay chưa. Ngài tự hỏi liệu, vào những thời điểm áp lực lớn nhất, sự thận trọng và sự tồn tại của thể chế có phải trả giá bằng một lời chứng mang tính tiên tri hơn hay không. Ngài nói rằng đó là một câu hỏi làm ngài trăn trở mỗi ngày.

Thay vì đưa ra những lời an ủi dễ dãi, Đức Thượng phụ đặt câu hỏi liệu Giáo hội đã hoàn toàn sống đúng với sứ mệnh của mình trong thời kỳ đầy sợ hãi và bạo lực hay chưa. Tuy nhiên, hình ảnh chủ đạo vẫn tràn đầy hy vọng: Giêrusalem, không chỉ đơn thuần là một thành phố đang chịu áp lực, mà còn là một dấu hiệu tinh thần của sự hòa giải trong một thế giới đang đánh mất niềm tin vào hòa bình.

Bức thư của Đức Hồng Y Pizzaballa vừa mang âm hưởng than thở vừa là lời kêu gọi. Nó thừa nhận mức độ hỗn loạn sâu sắc trong khu vực, nhưng không cho phép các tín hữu Kitô giáo chỉ hài lòng với việc tồn tại mà thôi. Nhiệm vụ của Giáo hội tại Thánh Địa, như ngài trình bày, không chỉ là tồn tại giữa đống đổ nát của lịch sử, mà còn là làm chứng cho một trật tự hoàn toàn khác: một trật tự mà trong đó sự thật được nói ra không sợ hãi, lời cầu nguyện không bị lợi dụng cho lòng thù hận, và Giêrusalem một lần nữa trở thành nơi mà những vết thương của thế giới có thể bắt đầu được chữa lành.


Source:Catholic Herald

3. Tình trạng Hồng Y Đoàn hiện nay

Khi số lượng Hồng Y có quyền bỏ phiếu đạt đến giới hạn theo giáo luật, Đức Giáo Hoàng Leo XIV phải đối diện với những quyết định quan trọng sẽ định hình tương lai của Giáo Hội Công Giáo.

Vào thứ Tư, ngày 15 tháng 4, Hồng Y người Ý Fernando Filoni đã kỷ niệm sinh nhật lần thứ 80 của mình, và mất tư cách Hồng Y cử tri vào cuối ngày. Với sự thay đổi đó, Hồng Y đoàn có chính xác 120 thành viên đủ tuổi bỏ phiếu. Đây chính xác là giới hạn theo giáo luật do Đức Giáo Hoàng Phaolô VI thiết lập, mặc dù “giới hạn” này thường bị vượt qua với số lượng cử tri lớn hơn.

Trong những năm gần đây, giới hạn 120 đại cử tri do Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đặt ra trong tông hiến pháp Romano Pontifici Eligendo năm 1975 đã liên tục bị vượt qua. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, và đặc biệt là Đức Giáo Hoàng Phanxicô đều vượt quá con số này. Trên thực tế, Đức Giáo Hoàng Phanxicô dường như coi ngưỡng này là mức sàn chứ không phải mức trần. Ví dụ, Hồng Y đoàn có 135 thành viên đủ tuổi bỏ phiếu khi bắt đầu mật nghị năm 2025, với 133 vị tham gia cuối cùng.

120 Hồng Y hiện đang tạo nên Hồng Y đoàn bầu cử được bổ nhiệm bởi ba vị Giáo hoàng gần đây nhất. Phần lớn — 99 Hồng Y — được bổ nhiệm bởi Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Đức Bênêđictô XVI bổ nhiệm 17 người, và chỉ còn lại bốn người từ thời Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, vì các ngài còn khá trẻ khi được phong làm Hồng Y. Bốn người đó là Hồng Y Philippe Barbarin, tổng giám mục danh dự của Lyon; Hồng Y Péter Erdő, tổng giám mục của Budapest; Hồng Y Josip Bozanić, tổng giám mục danh dự của Zagreb; và Hồng Y Peter Turkson, Chánh văn phòng Học viện Khoa học Giáo hoàng.

Một chuyển dịch hướng tới khu vực Nam bán cầu

Hồng Y đoàn bầu cử mà Đức Giáo Hoàng Leo XIV thừa hưởng được đánh dấu bằng sự hiện diện thấp kỷ lục của người châu Âu, hiện chỉ chiếm chưa đến 37% số Hồng Y cử tri. Đây là sự sụt giảm mạnh so với hơn 50% vào cuối triều đại của Giáo hoàng Gioan Phaolô II và 52% sau khi Giáo hoàng Bênêđictô XVI từ chức. Đó là một dấu hiệu rõ ràng của quá trình quốc tế hóa do Đức Giáo Hoàng Phanxicô khởi xướng, mặc dù sự chuyển dịch này thực sự bắt đầu vào giữa thế kỷ 20 dưới thời Đức Giáo Hoàng Piô XII.

Châu Á, khu vực nhận được sự chú ý đáng kể trong triều đại của vị Giáo hoàng người Argentina, đã đặc biệt gia tăng sự hiện diện của mình từ sự phát triển này. Số lượng cử tri châu Á đã tăng gấp đôi kể từ năm 2013. Châu Phi cũng chứng kiến sự gia tăng nhẹ về số lượng đại diện, tăng hai điểm phần trăm kể từ năm 2013. Mặt khác, Bắc Mỹ lại chứng kiến sự sụt giảm hai điểm phần trăm trong cùng kỳ.

Hồng Y Đoàn có thể sẽ phát triển như thế nào dưới thời Giáo hoàng Leo XIV?

Là một luật sư giáo luật được đào tạo bài bản, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đã báo hiệu rằng ngài dự định áp dụng luật Giáo hội một cách nghiêm ngặt. Mùa thu năm ngoái, ngài đã cảnh báo các giám mục Ý rằng ngài dự định thực thi tuổi nghỉ hưu theo giáo luật là 75. Liệu ngài có thể hiện sự tuân thủ nghiêm ngặt tương tự đối với giới hạn 120 Hồng Y do Giáo hoàng Phaolô VI đặt ra hay không? Chúng ta sẽ phải chờ đến kỳ họp thường kỳ tiếp theo để tìm hiểu.

Ngược lại, trên chuyến bay từ Luanda đến Malabo trong chuyến đi đến châu Phi của Giáo hoàng, ngài nói rằng ngài vẫn chưa “quyết định khi nào sẽ bổ nhiệm các Hồng Y mới”.

Ngài đang trả lời câu hỏi của một phóng viên về việc liệu ngài có bổ nhiệm một Hồng Y mới cho Angola hay không. Mặc dù không loại trừ khả năng này, ngài giải thích rằng “cần phải xem xét vấn đề từ góc độ toàn cầu”. Điều này dường như cho thấy ngài đang đánh giá cẩn thận tất cả các yếu tố liên quan đến việc lựa chọn Hồng Y mới, bao gồm cả yếu tố địa lý. Và theo chiều hướng này, Việt Nam cũng như Úc rất có cơ hội có tân Hồng Y

Kể từ khi đắc cử, Đức Giáo Hoàng đã nhấn mạnh tầm quan trọng mà ngài đặt vào tinh thần tập thể. Ngài đã đưa ra những dấu hiệu cụ thể về mong muốn được hợp tác chặt chẽ với các Hồng Y khác, cả trong Giáo triều Rô-ma và trong các giáo phận trên khắp thế giới. Ngài sẽ tham khảo ý kiến chuyên môn của họ trong các cuộc họp công nghị sắp tới vào ngày 26 và 27 tháng 6.

Những ứng cử viên Hồng Y tiềm năng trong tương lai

Một số cái tên nổi bật cho các cuộc bổ nhiệm trong tương lai, bao gồm ba vị trưởng ban mới mà Đức Giáo Hoàng Leo XIV vừa bổ nhiệm. Những người này bao gồm người kế nhiệm ngài đứng đầu Bộ Giám mục, Tổng Giám mục người Ý Filippo Iannone; trưởng ban mới của Bộ Văn bản Pháp luật, Giám mục người Úc Anthony Randazzo; và tân trưởng ban của Bộ Phục vụ Bác ái, Giám mục dòng Augustinô người Tây Ban Nha Luis Marín de San Martín.

Đức Giáo Hoàng cũng có thể bổ nhiệm một số Hồng Y người châu Phi, chẳng hạn như Tổng Giám mục Andrew Nkea, chủ tịch hiện tại của Hội đồng Giám mục Cameroon, một quốc gia mà Đức Giáo Hoàng Leo XIV vừa đến thăm.

Cuối cùng, một số “tòa giám mục” truyền thống đã mất đi chiếc mũ đỏ đặc trưng dưới thời Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Đức Giáo Hoàng Leo XIV có thể xem xét việc khôi phục lại mũ Hồng Y cho các tổng giám mục của một số thành phố lớn. Điều này có thể bao gồm Tổng Giám mục José Gómez của Los Angeles, Tổng Giám mục Josef Grünwidl của Vienna, Tổng Giám mục Laurent Ulrich của Paris, Tổng Giám mục Richard Moth của London, và Tổng Giám mục Mario Delpini của Milan — hoặc những người kế nhiệm các ngài trong tương lai.

Ngay cả khi tuân thủ nghiêm ngặt ngưỡng 120 Hồng Y, Đức Giáo Hoàng có thể sẽ để lại dấu ấn đáng kể trong Hồng Y đoàn trong những năm tới. Hiện tại, hơn 40% số Hồng Y cử tri từ 75 tuổi trở lên. Điều này có nghĩa là trong vòng năm năm, một tỷ lệ tương đương — hoặc thậm chí nhiều hơn nếu Đức Giáo Hoàng quyết định vượt quá giới hạn — có thể sẽ được ngài bổ nhiệm.


Source:Aleteia

4. Đức Giáo Hoàng nhắn nhủ các nhà ngoại giao tương lai: Có thể sẽ rất nản lòng, nhưng đừng mất hy vọng

Khi các xung đột toàn cầu gia tăng, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV kêu gọi các nhà ngoại giao tương lai của Vatican hãy kết hợp mục vụ và ngoại giao trong việc bảo vệ hòa bình, chân lý và phẩm giá con người.

Trong chuyến thăm đầu tiên với tư cách là Giáo hoàng tới Học viện Giáo hội Giáo hoàng vào ngày 27 tháng 4 năm 2026, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã gửi một thông điệp rõ ràng tới các nhà ngoại giao tương lai của Tòa Thánh: vai trò của họ mang tính chiến lược, nhưng cũng vô cùng quan trọng về mặt mục vụ.

Được thành lập vào năm 1701 dưới thời Đức Giáo Hoàng Clement XI và nằm gần trung tâm lịch sử của Rôma, Học viện đào tạo các linh mục cho công tác ngoại giao trên toàn cầu. Các cựu sinh viên của học viện này sau đó trở thành các sứ thần Tòa Thánh – thực chất là các đại sứ của Đức Giáo Hoàng – được giao nhiệm vụ đại diện cho Tòa Thánh trong cả lĩnh vực giáo hội và quốc tế. Ngày nay, học viện do Đức Tổng Giám Mục SaTLatore Pennacchio lãnh đạo, với sự giám sát của Hồng Y Pietro Parolin, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh.

Bộ máy ngoại giao của Vatican vừa vô cùng rộng khắp, vừa có vị thế độc đáo. Tòa Thánh có quan hệ chính thức với 184 quốc gia, chưa kể Liên minh Âu Châu và Dòng Malta. Điều đó chỉ còn lại 12 quốc gia không có quan hệ ngoại giao chính thức với Tòa Thánh – bao gồm Trung Quốc, Afghanistan và Bắc Hàn. Các cơ quan ngoại giao này được bổ sung bởi công việc thực tiễn của Giáo hội tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, chẳng hạn như các nữ tu phục vụ các cộng đồng khó khăn.

Nhân kỷ niệm 325 năm thành lập Học viện, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV nhấn mạnh sự tiếp nối các cải cách được khởi xướng dưới thời Đức Giáo Hoàng Phanxicô, đặc biệt là việc tập trung vào sự thống nhất như là đặc điểm nổi bật của ngoại giao Vatican. Ngài lưu ý rằng, “mọi cuộc cải cách đều nhằm mục đích bảo tồn sứ mệnh thiết yếu này”.

Một sứ mệnh ngoại giao được định hình bởi những căng thẳng toàn cầu

Bài phát biểu của Đức Giáo Hoàng được đưa ra vào thời điểm xung đột quốc tế vẫn còn lan rộng. Theo Chương trình Dữ liệu Xung đột Uppsala, hơn 50 cuộc xung đột giữa các quốc gia đang diễn ra trên toàn thế giới vào năm 2024, con số cao nhất kể từ Thế chiến II. Trong khi đó, Cao ủy Liên Hiệp Quốc về Người tị nạn báo cáo rằng hiện có hơn 120 triệu người đang bị buộc phải di dời do chiến tranh và đàn áp.

Trong bối cảnh này, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã định hình ngoại giao của Vatican như một “sứ mệnh đặc biệt phục vụ hòa bình, sự thật và công lý”. Ngài kêu gọi các sứ thần tương lai tiếp tục rao giảng thông điệp hòa bình của Kitô giáo ngay cả khi “đối thoại và hòa giải dường như biến mất”.

Vượt ra ngoài chính sách: một bản sắc mục vụ

Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh rằng các đại diện của Tòa Thánh phải là “mục tử trước tiên, nhà ngoại giao thứ hai”. Đường lối này phân biệt các đặc phái viên của Vatican với những người đồng cấp thế tục của họ. Thay vì thúc đẩy lợi ích quốc gia, họ được kỳ vọng sẽ hiện thân một chứng tá đạo đức và tâm linh — đặc biệt là trong môi trường địa chính trị phức tạp.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV cũng cảnh báo chống lại việc thu hẹp ngoại giao thành những nguyên tắc trừu tượng. Thay vào đó, ngài kêu gọi một sự hiện diện cụ thể, mang tính quan hệ, bắt nguồn từ sự lắng nghe, khiêm nhường và liêm chính bản thân.

“Cuộc cải cách quan trọng nhất,” ngài nói, “là sự hoán cải bản thân.”

Bảo vệ các quyền cơ bản

Một phần đáng kể trong bài phát biểu tập trung vào phẩm giá con người. Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh tự do tôn giáo và quyền được sống là những ưu tiên thiết yếu đối với các nhà ngoại giao Vatican, khuyến khích họ thúc đẩy công lý không phải bằng sự đối đầu mà bằng sự tham gia kiên nhẫn.

Sự nhấn mạnh này phù hợp với những mối quan tâm toàn cầu rộng lớn hơn. Một báo cáo năm 2025 của Trung tâm Nghiên cứu Pew cho thấy các hạn chế của chính phủ đối với tôn giáo vẫn còn cao ở gần 60 quốc gia, ảnh hưởng đến hàng tỷ người. Tòa Thánh từ lâu đã ủng hộ tự do tôn giáo như một nền tảng của các xã hội hòa bình.

Quan điểm gần đây của Đức Giáo Hoàng Lêô về ngoại giao Vatican

Trên đường trở về từ chuyến thăm bốn nước Phi Châu vào giữa tháng Tư, Đức Giáo Hoàng Lêô đã chia sẻ với các nhà báo cái nhìn sâu sắc về cách ngài nhìn nhận công việc của các nhà ngoại giao của mình.

Đây là những gì ngài nói:

Tôi muốn quay lại với điều tôi đã nói trong bài phát biểu ban đầu về tầm quan trọng của việc hiểu mục đích chính của những chuyến đi mà tôi, mà Đức Giáo Hoàng, thực hiện, đó là thăm viếng người dân, và giá trị to lớn mà hệ thống, mà Tòa Thánh duy trì, đôi khi với sự hy sinh lớn lao, để duy trì quan hệ ngoại giao với các quốc gia trên khắp thế giới. Và đôi khi chúng ta có quan hệ ngoại giao với các quốc gia có những nhà lãnh đạo độc tài.

Chúng ta có cơ hội nói chuyện với họ ở cấp độ ngoại giao, ở cấp độ chính thức. Chúng ta không phải lúc nào cũng đưa ra những tuyên bố lớn lao—chỉ trích, phán xét hoặc lên án. Nhưng có rất nhiều công việc diễn ra đằng sau hậu trường để thúc đẩy công lý, thúc đẩy các mục tiêu nhân đạo, tìm kiếm, đôi khi, những trường hợp có thể có tù nhân chính trị, và tìm cách để họ được trả tự do. Những tình huống đói nghèo, bệnh tật, v.v.

Vì vậy, Tòa Thánh, bằng cách duy trì, nếu bạn muốn, sự trung lập và tìm cách tiếp tục quan hệ ngoại giao tích cực của chúng ta... Với mối quan hệ ngoại giao với rất nhiều quốc gia khác nhau, chúng tôi thực sự đang cố gắng tìm cách áp dụng Tin Mừng vào những tình huống cụ thể để cải thiện cuộc sống của người dân.

Mọi người sẽ diễn giải phần còn lại theo cách riêng của họ, nhưng tôi nghĩ điều quan trọng là chúng ta phải tìm cách tốt nhất có thể để giúp đỡ người dân của bất cứ quốc gia nào.

Kiên trì trong một thế giới đầy xung đột

Thừa nhận sự thất vọng có thể đi kèm với công việc ngoại giao, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV khuyến khích các học viên đừng nản lòng, ngay cả khi những nỗ lực của họ dường như không hiệu quả. Mặc dù các chính phủ thường mặc định sử dụng xung đột như một phương tiện để giải quyết căng thẳng, ngài lập luận rằng sự kiên trì trong đối thoại vẫn là điều thiết yếu.

Chuyến thăm này báo hiệu một ưu tiên ban đầu trong triều Giáo Hoàng của ngài: tăng cường sự hiện diện ngoại giao toàn cầu của Giáo hội trong khi vẫn duy trì bản sắc riêng biệt của mình. Khi các xung đột mới nổi lên và các xung đột cũ vẫn tồn tại, việc đào tạo các nhà ngoại giao của Vatican - bắt nguồn từ cả đức tin và chủ nghĩa hiện thực - tiếp tục đóng một vai trò thầm lặng nhưng có ảnh hưởng trên trường quốc tế.


Source:Aleteia
 
Thánh Ca
Thanh Ca Cau Nguyen Niem Hy Vong Hang Song 2026 GX St Maria Goretti