Tiến sĩ George Weigel là thành viên cao cấp của Trung tâm Đạo đức và Chính sách Công cộng Washington, và là người viết tiểu sử Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Ông vừa có bài viết nhan đề “An Open Letter to Cardinal Jean-Claude Hollerich, SJ”, nghĩa là “Thư ngỏ gửi Đức Hồng Y Jean-Claude Hollerich, Dòng Tên”. Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.
Thưa Đức Hồng Y:Trong một bài báo được đăng tải gần đây trên một trang web Công Giáo lớn của Đức, ngài đã gợi ý rằng câu hỏi liệu Giáo hội có thể phong chức cho phụ nữ hay không vẫn chưa được giải quyết dứt điểm: “Tôi không thể tưởng tượng làm thế nào một Giáo hội có thể tiếp tục tồn tại lâu dài nếu một nửa số con cái Chúa phải chịu đau khổ vì họ không được tiếp cận với chức vụ linh mục.” Tạm gác lại những câu hỏi như những đau khổ ấy là những đau khổ nào và bằng cách nào mà việc thực hành lâu đời của Giáo hội chỉ kêu gọi nam giới vào chức thánh gây ra những đau khổ ấy, lập luận của ngài đặt ra những câu hỏi về quá khứ, hiện tại và tương lai.
Ví dụ, phải chăng Đức Hồng Y đang cố cho rằng sự hiểu biết của Giáo Hội Công Giáo về Thánh Chức trong suốt hai thiên niên kỷ qua đã có điều gì đó sai trái về bản chất? Quan niệm như vậy làm sao có thể phù hợp với lời hứa của Chúa về việc gìn giữ Giáo hội trong chân lý thông qua sự tuôn đổ liên tục của Chúa Thánh Thần (Ga 15:16, 16:13)? Vấn đề ai có thể được thụ phong chức thánh chưa bao giờ được hiểu là vấn đề thứ yếu của kỷ luật Giáo hội; nó được hiểu là liên quan đến bản chất của chức vụ được phong chức, vốn là một phần cấu thành nên cấu trúc của Giáo hội — và Giáo hội là công trình của Chúa Kitô, chứ không phải của chúng ta. Phải chăng Giáo hội đã hiểu sai về Chúa Kitô trong hai ngàn năm qua? Hay chính Chúa Kitô đã sai lầm trong việc cấu trúc Giáo hội và chức vụ được phong chức như đã được cấu trúc trong hai thiên niên kỷ qua?
Về việc Đức Hồng Y không thể hình dung một tương lai cho Giáo hội mà trong đó phụ nữ không được kêu gọi vào chức thánh, điều đó chẳng phải cho thấy một sự hiểu biết khá độc đoán về đời sống Nước Trời mà chúng ta đang sống hiện nay (Mc 1:15) hay sao? Nếu Nước Trời đã xuất hiện trong lịch sử trong thời Chúa ở giữa chúng ta, và nếu sự xuất hiện đó cùng lời hứa về sự sống đời đời là thực tại mà chúng ta đang sống hiện nay (cho dù chúng ta thường quên điều đó), thì làm sao “một nửa dân Chúa” lại bị tách rời khỏi sự trọn vẹn của đời sống trong Chúa Thánh Thần? Và nỗi sợ hãi của Đức Hồng Y về tương lai nói lên điều gì về sự hiểu biết của ngài về sự xuất hiện của Nước Trời trong quá khứ? Phải chăng Đức Mẹ đã bị tách rời khỏi việc sống trọn vẹn đời sống Nước Trời do Con trai của Mẹ rao giảng vì Ngài đã không kêu gọi Mẹ vào chức thánh? Còn Thánh Catêriana xứ Siena, Thánh Teresa xứ Avila và Thánh Edith Stein đều là thánh bổn mạng của Âu Châu thì sao? Còn mẹ của ngài, mẹ của tôi thì sao?
Rồi đến hiện tại. Giáo Hội Công Giáo coi trọng mặc khải thiêng liêng, điều đó có nghĩa là việc Thiên Chúa tạo dựng con người có nam có nữ — bình đẳng về nhân tính, khác biệt về nhân tính và bổ sung cho nhau về nhân tính — không chỉ đơn thuần là việc Đấng Tạo Hóa hoạt động thông qua các cơ chế sinh học tiến hóa. Sáng thế ký 1:27 — “Ngài dựng nên họ có nam có nữ” — không chỉ là sự mô tả đơn thuần; nó mang tính mặc khải về những chân lý sâu sắc vốn có trong bản chất con người. Đó là lý do tại sao Giáo Hội Công Giáo không và không thể chấp nhận quan niệm hiện đại và hậu hiện đại về một nhân loại lưỡng tính, trong đó nam tính và nữ tính bị giản lược thành những khác biệt về cấu tạo sinh học.
Trong chương thứ năm của Thư gửi tín hữu Êphêsô, Thánh Phaolô mô tả mối quan hệ của Chúa với Giáo hội như mối quan hệ phu phụ: Chúa yêu thương Giáo hội như người cHồng Yêu thương vợ mình. Vị linh mục được thụ phong, theo cách hiểu của Giáo Hội Công Giáo, thể hiện mối quan hệ phu phụ đó của Chúa Kitô với Giáo hội. Các linh mục không chỉ là thành viên của một tầng lớp giáo sĩ được phép thực hiện một số chức năng giáo hội nhất định. Thay vào đó, vị linh mục được thụ phong là hình ảnh của Chúa Kitô, vị Thượng tế, người phối ngẫu của Giáo hội.
Các nền văn hóa coi trọng sự cân bằng giới tính khó có thể nắm bắt được ý tưởng đó. Tương tự như vậy, các nền văn hóa cho rằng hai người đàn ông hoặc hai người phụ nữ có thể “kết hôn” với nhau cũng vậy. Nhưng Giáo hội không bắt buộc phải khuất phục trước sự nhầm lẫn của bất kỳ nền văn hóa nào. Và chắc chắn không thể vì những nhầm lẫn đó mà Giáo hội lại hy sinh niềm tin của mình rằng Thiên Chúa đã mặc khải những chân lý quan trọng về nhân loại chúng ta khi Chúa Thánh Thần soi dẫn tác giả sách Sáng Thế Ký 1:27 viết những điều đó, và khi chính Chúa Thánh Thần ấy soi dẫn Thánh Phaolô viết thư Ê-phê-sô 5.
Thánh Phaolô cũng mô tả mối quan hệ hôn nhân giữa Chúa Kitô và Giáo Hội, điều vô cùng quan trọng đối với sự hiểu biết của Giáo Hội Công Giáo về việc ai có thể được gọi vào chức thánh, như một “mầu nhiệm lớn” — nghĩa là một chân lý sâu sắc của đức tin mà chỉ có thể được nắm bắt trong tình yêu thương, cho dù chúng ta có cố gắng hiểu nó bằng lý trí đến đâu đi nữa. Thưa Đức Hồng Y, xin cho phép đề xuất rằng các mục tử của Giáo Hội nên tránh gây thêm sự nhầm lẫn (và thực sự, bất kỳ đau khổ nào do những nhầm lẫn đó gây ra) bằng cách giúp dân Chúa đón nhận những mầu nhiệm của đức tin trong tình yêu thương, thay vì cho rằng những gì đã được xác định bởi mặc khải thiêng liêng và giáo huấn có thẩm quyền của Giáo Hội (trong tông thư Ordinatio Sacerdotalis năm 1994) thực ra vẫn chưa được xác định rõ ràng.
Trong tình bằng hữu của đức tin Phục Sinh – George Weigel
Source:George Weigel