BILL DONOHUE
SỰ THẬT VỀ GIÁO SĨ LẠM DỤNG TÌNH DỤC
Làm rõ sự thật và nguyên nhân
NHÀ XUẤT BẢN IGNATIUS PRESS SAN FRANCISCO
PHẦN I
Phân biệt sự thật và hư cấu
1. Người Công Giáo không phải là người chịu trách nhiệm vấn đề này (tiếp theo)
Thiên kiến truyền thông
Truyền thông thỉnh thoảng đưa tin về lạm dụng tình dục trong các tổ chức phi Công Giáo, mặc dù họ hiếm khi làm phim tài liệu hoặc loạt phóng sự về vấn đề này. Mục tiêu ưa thích của họ cho đến nay là Giáo Hội Công Giáo. Những gì họ sản xuất thường bị bóp méo. Đây là một ví dụ điển hình. Khi báo chí, tạp chí, chương trình truyền hình và các bài báo trên Internet đưa tin về lạm dụng tình dục bởi các linh mục, họ thường làm như vậy bằng những từ ngữ miêu tả rất trần trụi. Điều này cũng đúng với các báo cáo của bồi thẩm đoàn tiểu bang và tổng chưởng lý. Một số câu chuyện vô cùng giật gân, mặc dù khi đưa tin về lạm dụng tình dục bởi những người khác, độc giả và người xem thường được bỏ qua các chi tiết. Đây không phải là một sai lầm—mà là có chủ ý. Nó được gọi là bêu xấu.
Một số phương tiện truyền thông đã từ chối bán cho tôi không gian quảng cáo trên báo và tạp chí của họ mà tôi muốn sử dụng để bảo vệ Giáo Hội Công Giáo.
Năm 2011, khi tờ Kansas City Star liên tục đưa tin về lạm dụng tình dục của giáo sĩ, tôi đã tìm cách khắc phục: Tôi đề nghị tờ báo 25,000 đô la để trả cho một quảng cáo nhằm làm sáng tỏ sự thật, đặc biệt là về công việc của Mạng lưới những người sống sót bị lạm dụng bởi các linh mục (SNAP). Tôi đã bị từ chối mà không có lời giải thích. Liệu đó có phải là do thiên vị? Không phải là tờ báo không cần tiền: trong thập niên trước đó, họ đã sa thải một nghìn nhân viên. (84)
Năm 2013, tờ Philadelphia Inquirer đã công kích mạnh mẽ Tổng giáo phận Philadelphia, đưa ra rất nhiều thông tin sai lệch. Vào ngày 14 tháng 5, tôi đã gửi một bài phản hồi dài cho bài báo của tờ báo. Bài báo dài hai trang dự kiến sẽ được đăng dưới dạng quảng cáo vào ngày 20 tháng 5. Vào ngày 15 tháng 5, tôi được thông báo rằng những người “ở cấp cao” đã từ chối nó. Khi tôi hỏi lý do, tôi được cho biết sẽ không có lời giải thích nào. Họ đã từ chối 58,000 đô la. Mặc dù tờ báo đã nộp đơn phá sản vào năm 2009, nhưng những người "ở vị trí cao nhất" vẫn cho rằng việc từ chối số tiền đó là đáng giá. (85) Năm 2012, cả Hollywood Reporter và Variety đều từ chối đăng quảng cáo tôi viết về một chương trình truyền hình bôi nhọ các nữ tu.
Nói cách khác, đây không phải là chuyện hiếm gặp. Giới truyền thông nắm quyền kiểm soát: họ có thể đưa câu chuyện theo quan điểm của mình đến công chúng, nhưng đối với những người muốn phản bác lại – ngay cả khi họ sẵn sàng trả tiền – thì rất khó.
Việc giới truyền thông thêu dệt một câu chuyện là một chuyện, nhưng việc bóp méo sự thật hoàn toàn lại là chuyện khác. Đó là điều đã xảy ra khi CBS Evening News thực hiện một chiến dịch công kích Giáo Hội Công Giáo vào năm 2003. Ngày 6 tháng 8, đài này đưa tin trên toàn quốc rằng Vatican đã ban hành một văn bản vào năm 1962, hướng dẫn về Cách thức tiến hành trong các trường hợp gạ gẫm, trong đó “quy định chính sách của Giáo hội yêu cầu giữ bí mật tuyệt đối khi nói đến lạm dụng tình dục bởi các linh mục – bất cứ ai lên tiếng đều có thể bị đuổi khỏi Giáo hội”. Phiên bản trực tuyến của CBS Evening News còn đi xa hơn, nói rằng mệnh lệnh che đậy việc lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên “đã được viết ở Rome ở cấp cao nhất của Vatican”. (86) Không điều nào trong số này là đúng. Vào ngày 7 tháng 8, tôi đã xuất hiện trên chương trình Paula Zahn Now của CNN để thảo luận về vấn đề này. Tôi đã giơ một bản sao của tài liệu lên TV và cáo buộc CBS nói dối về bản tin.
Tài liệu năm 1962 chỉ đề cập đến những lời gạ gẫm mà một linh mục có thể đưa ra đối với người xưng tội trong phòng xưng tội. Trái ngược với cách nó được đưa tin, tài liệu này nêu chi tiết các hình phạt đối với bất cứ linh mục nào, “cho dù bằng lời nói, dấu hiệu hay cái gật đầu”, có thể có hành vi gạ gẫm tình dục đối với người xưng tội trong khi xưng tội. Hình phạt cao nhất—bị tước bỏ chức linh mục—là một khả thể. Nói cách khác, tài liệu này không những không phải là một kế hoạch “che đậy” mà hoàn toàn ngược lại: nó được thiết kế để ngăn chặn hành vi sai trái về tình dục bằng cách nêu rõ các hình phạt đối với bất cứ linh mục nào có hành vi gạ gẫm tình dục trong phòng xưng tội. (87)
Đây là một điều khác mà tài liệu này đã làm rõ nhưng CBS đã không đưa tin. Nếu người xưng tội kể với ai đó (có thể là một linh mục khác) về hành vi gạ gẫm tình dục trong phòng xưng tội, người đó có 30 ngày để báo cáo sự việc cho giám mục hoặc đối diện với việc bị vạ tuyệt thông. Nếu có điều gì, điều này chứng tỏ Vatican đã nghiêm túc đến mức nào về tội lỗi như vậy - họ đe dọa sẽ trừng phạt người xưng tội nếu không tố cáo linh mục phạm tội. (88)
Điều đáng chú ý là hầu hết các phương tiện truyền thông, bao gồm cả tờ New York Times, đã không nói một lời nào về tài liệu của Vatican năm 1962. Vậy thì, tại sao CBS lại đưa tin sai như vậy? Bởi vì họ đã dựa vào thông tin từ một số luật sư tham gia vào các vụ kiện chống lại Giáo hội. Thực tế, tôi đã xác định được ba người trong số họ. Họ là những người đầu tiên tung ra những cáo buộc sai sự thật chống lại Giáo Hội Công Giáo, và CBS đã mắc bẫy của họ. (89) Vì đó là một câu chuyện bịa đặt, nó nhanh chóng bị dập tắt, nhưng nhiều thiệt hại đã xảy ra.
CNN đã phát sóng một bộ phim tài liệu vào năm 2010, trong đó tràn ngập những cáo buộc vô căn cứ chống lại Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI. Người dẫn chương trình Gary Tuchman nói: “Trong nhiều thập niên trước khi trở thành giáo hoàng, Joseph Ratzinger là một viên chứccấp cao của Vatican, người mà hơn bất cứ ai khác ngoài Đức Giáo Hoàng John Paul II, có thể đã hành động quyết đoán để ngăn chặn cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục.” Điều này rõ ràng là không đúng sự thật. Ratzinger không những không phụ trách vấn đề này “trong nhiều thập niên”, mà ngài còn không được trao quyền để giải quyết vấn đề lạm dụng tình dục cho đến năm 2001 (đáng kinh ngạc là, sau đó trong chương trình, Tuchman cũng thừa nhận điều này). (90)
Cáo buộc nghiêm trọng nhất chống lại Ratzinger là việc ngài bị cáo buộc xử lý vụ việc của Cha Lawrence Murphy, người được cho là đã lạm dụng tình dục hai trăm cậu bé khiếm thính ở Wisconsin vào những năm 1950. CNN không nói rằng các tội danh bị cáo buộc chống lại Murphy kéo dài đến những năm 1950, rằng các nhà chức trách không được yêu cầu điều tra chính thức cho đến giữa những năm 1970, và rằng sau một cuộc điều tra, cảnh sát đã khép lại vụ án. Qua đến năm 1996, lần đầu tiên Vatican được thông báo. Vatican không quan tâm đến việc thời tiêu đã hết hạn: họ ra lệnh tổ chức một phiên tòa.
Cha Thomas Brundage là chánh án, người chủ trì vụ án từ năm 1996 đến năm 1998. Khi được hỏi về vai trò của Ratzinger, cha nói, “Trong suốt vụ án, tại các cuộc họp mà tôi đã tham dự ở Vatican, ở Washington, D.C. và ở Milwaukee, tên của Hồng Y Ratzinger chưa bao giờ được nhắc đến.” Cha nói rằng cha “bị sốc” khi giới truyền thông cố gắng liên kết Ratzinger với vụ án Murphy. (91)
Tại sao CNN không đưa tin về bất cứ sự thật nào trong số này? Có lẽ họ sẵn sàng chấp nhận mà không hề nghi ngờ những lời bình luận đầy ẩn ý của luật sư Jeff Anderson, người mà theo trang web của ông, “đã tiên phong trong việc sử dụng kiện tụng dân sự để tìm kiếm công lý cho những nạn nhân bị lạm dụng tình dục trẻ em”. Nếu CNN làm đúng với câu chuyện này, họ lẽ ra đã đào sâu hơn và nói lên sự thật về Đức Hồng Y Ratzinger.
Tờ Boston Globe là tờ báo đã phanh phui vụ tai tiếng lạm dụng tình dục trong Giáo hội. Tờ báo này chỉ trích mạnh mẽ Giáo hội vì thiếu minh bạch, nhưng nhiều năm sau, chính họ lại chứng minh rằng mình cũng gặp khó khăn trong việc minh bạch, theo cách mà tôi thấy như là bằng chứng về sự thiên vị chống lại Giáo hội. Vào ngày 4 tháng 11 năm 2018, có một bài báo trang nhất trên tờ Boston Globe cáo buộc hơn 130 giám mục, hoặc khoảng một phần ba số người còn sống đã bị cáo buộc “không phản ứng đầy đủ trước hành vi sai trái tình dục trong giáo phận của họ”. (92) Câu chuyện này, dựa trên một nghiên cứu của các phóng viên từ tờ Globe và Philadelphia Inquirer, đã thu hút sự chú ý của dư luận quốc gia; nó được công bố trước một hội nghị của các giám mục Hoa Kỳ đang họp tại Baltimore để thảo luận về vụ tai tiếng lạm dụng tình dục.
Với tư cách là một nhà xã hội học, tôi có một số vấn đề nghiêm trọng với phương pháp luận của nghiên cứu, vì vậy tôi đã gửi email cho tờ Globe về vấn đề này. Họ lịch sự nhưng không chịu nhượng bộ yêu cầu xem dữ liệu của tôi. Đúng vậy, cùng một tờ báo luôn nhấn mạnh sự minh bạch hoàn toàn từ phía các giám mục - yêu cầu họ công khai đầy đủ dữ liệu nội bộ của mình - lại không chịu công khai dữ liệu về các giám mục.
Điều khiến dữ liệu trở nên đáng ngờ là tuyên bố từ hai tờ báo rằng họ đã xem xét “hồ sơ tòa án, báo cáo truyền thông và các cuộc phỏng vấn với các viên chứcnhà thờ, nạn nhân và luật sư”. (93) Điều khiến tôi nghi ngờ nhất là các cuộc phỏng vấn với “các viên chứcnhà thờ, nạn nhân và luật sư”. Dựa trên kinh nghiệm trong quá khứ, tôi nghi ngờ độ tin cậy của một số luật sư bào chữa, các nhóm giám sát nạn nhân và các phương tiện truyền thông. Tôi muốn đọc xem các phóng viên đã chọn ai để phỏng vấn và họ đã nói gì. Nhưng những người tự xưng là minh bạch đã đóng sầm cửa trước mặt tôi.
Vì tôi liên tục thúc giục Brian McGrory, biên tập viên của tờ Boston Globe, hỏi liệu ông ấy có cho phép tôi xác minh câu chuyện hay không, ông ấy đã chuyển yêu cầu của tôi cho Scott Allen, trợ lý biên tập viên quản lý dự án. Khi ông ấy từ chối cho tôi tiếp cận dữ liệu thô, tôi đã yêu cầu được phép ít nhất là đọc bản ghi chép các cuộc phỏng vấn đã được thực hiện. Một lần nữa, tôi bị từ chối. Allen nói, “Chúng tôi không lưu hành các cuộc phỏng vấn trừ khi chúng tôi có kế hoạch xuất bản chúng.” Điều đó có thể hiểu được, nhưng tác động của chính sách này trong trường hợp của tôi là sự kìm hãm những lời chỉ trích tiềm tàng.
Không thể nói quá lời rằng mặc dù nhiều người trong giới truyền thông đã không công bằng với Giáo hội và đạo đức giả trong việc lên án, nhưng sẽ không có Vụ tai tiếng II nếu không có Vụ tai tiếng I: các linh mục lạm dụng tình dục và các giám mục dung túng cho họ. Điều đó không bao giờ có thể bị xem nhẹ. Nhiều giám mục thiếu sự kiên cường, một trong những đức tính trọng yếu. Họ đáng lẽ phải có can đảm làm điều đúng đắn, chứ không phải điều có lợi.
Vụ tai tiếng I và Vụ tai tiếng II đều là kết quả của việc con người vi phạm một đức tính trọng yếu khác—công lý. Sự bất công do các linh mục lạm dụng tình dục (vi phạm đức tính trọng yếu về tiết chế) và các giám mục dung túng (vi phạm đức tính trọng yếu về thận trọng) gây ra đã để lại vết sẹo lớn cho các nạn nhân và cho Giáo hội, và họ cần phải chịu trách nhiệm.
Tuy nhiên, Giáo Hội Công Giáo là một lực lượng vì điều tốt đẹp vĩ đại, đó là lý do tại sao những người có ý định làm tổn hại đến Giáo hội—từ bên trong và bên ngoài—cũng cần phải chịu trách nhiệm. Có quá nhiều điều đang bị đe dọa nên không thể không làm như vậy.
Ghi chú
(1) Robert P. Lockwood, “Lời nói dối của Maria Monk vẫn còn tồn tại”, Catalyst, tháng 9 năm 2001, https://www.catholicleague.org/the-lie-of-maria-monklives-on/.
(2) “ ‘Giáo hoàng và Mussolini’ kể ‘lịch sử bí mật’ của chủ nghĩa phát xít và Giáo hội”, Fresh Air, Đài phát thanh quốc gia, ngày 24 tháng 4 năm 2015, https://www.npr.org/2015/04/24/401967360/pope-and-mussolini-tells-thesecret-history-of-fascism-and-the-church.
(3). Ban biên tập, “Một vụ tai tiếng khác của Giáo hội: Các giám mục họp mặt nhưng không giải quyết được vấn nạn lạm dụng”, Philadelphia Inquirer, ngày 19 tháng 11 năm 2018,
https://www.inquirer.com/philly/opinion/editorials/catholic-church-scandalbishops-meet-baltimore-sex-abuse-editorial-20181119.html.
(4). “Lời nói hay, hành động hời hợt”, Washington Post, ngày 27 tháng 2 năm 2019, A20.
(5) Karen J. Terry, Trường Cao đẳng Tư pháp Hình sự John Jay (JJCCJ), và Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ (USCCB), Nguyên nhân và bối cảnh lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên bởi các linh mục Công Giáo tại Hoa Kỳ, 1950—2010: Báo cáo được trình bày trước Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ bởi Nhóm nghiên cứu của Trường Cao đẳng John Jay (Washington, D.C.: Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ, 2011), 5.
(6) Như trên, 16.
(7) Như trên, 16-23.
(8) Karen J. Terry, JJCCJ, và USCCB, Bản chất và phạm vi lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên bởi các linh mục và phó tế Công Giáo tại Hoa Kỳ từ năm 1950 đến năm 2002: Một nghiên cứu được thực hiện bởi Trường Cao đẳng Tư pháp Hình sự John Jay (Washington, D.C.: Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ, 2004), 39.
(9) Như trên, 60.
(10) Như trên, 24.
(11) Jason Berry, Đừng dẫn chúng con vào cám dỗ: Các linh mục Công Giáo và việc lạm dụng tình dục trẻ em (New York: Doubleday, 1992), 278.
(12) Pat Wingert, “Các linh mục không phạm tội lạm dụng nhiều hơn nam giới khác”, Newsweek, ngày 7 tháng 4 năm 2010, https://www.newsweek.com/priests-commit-nomore-abuse-other-males-70625.
(13) Julie Asher, “Lạm dụng tình dục trẻ em được gọi là vấn đề ‘nghiêm trọng và phổ biến’ trong xã hội Mỹ”, National Catholic Reporter, ngày 11 tháng 2 năm 2019, http://www.ncronline.org/news/accountability/child-sex-abuse-calledserious-and-pervasive-issue-us-society..
(14) Peter Smith, “Những người bênh vực nạn nhân: Lạm dụng không chỉ là ‘vấn đề của người Công Giáo’”, Philadelphia Inquirer, ngày 25 tháng 6 năm 2018,
https://www.inquirer.com/philly/news/victims-advocates-abuse-not-just-acatholic-problem-20180625.html.
(15) Sarah Pulliam Bailey, “Cháu trai của Billy Graham: Những người theo Thệ Phản ‘tệ hơn’ những người Công Giáo về vấn nạn lạm dụng tình dục”, Religion News Service, ngày 26 tháng 9 năm 2013, https://religionnews.com/2013/09/26/billy-grahams-grandsonevangelicals-worse-catholic-church-sex-abuse/.
(16) Mark Clayton, “Lạm dụng tình dục lan rộng khắp các nhà thờ”, Christian Science Monitor, ngày 5 tháng 4 năm 2002, https://www.csmonitor.com/2002/0405/p01s01-ussc.html.
(17) Philip Jenkins, Ấu dâm và các linh mục (New York: Nhà xuất bản Đại học Oxford, 1996), 50, 81.
(18) Sarah Smith, “Bên trong cuộc điều tra lạm dụng của Star-Telegram về Giáo hội Baptist Cơ bản”, Fort Worth Star-Telegram, ngày 9 tháng 12 năm 2018, 20A.
(19) Neil Nakahodo, Shelly Yang và Sarah Smith, “Các mục sư của Giáo hội Baptist Cơ bản che đậy lạm dụng tình dục và hiếp dâm”, phần 1, Fort Worth Star-Telegram, ngày 9 tháng 12 năm 2018, A20—A22.
(20) Neil Nakahodo, Sarah Smith và Steve Coffman, “Mối quan hệ trong nhà thờ và tình bạn giữa các mục sư cho phép kẻ lạm dụng trốn thoát”, Fort Worth Star-Telegram, phần 2, ngày 10 tháng 12 năm 2018, A1, A9—A11.
(21) Teresa Watanabe, “Lạm dụng tình dục bởi các giáo sĩ—Một cuộc khủng hoảng của nhiều tín ngưỡng”, Los Angeles Times, ngày 25 tháng 3 năm 2002, A1.
(22) John Tedesco, “Những người sống sót sau vụ lạm dụng kêu gọi các tín đồ Baptist miền Nam lắng nghe, rồi hành động”, Houston Chronicle, ngày 5 tháng 10 năm 2019,
https://www.houstonchronicle.com/news/houstontexas/houston/article/Abuse-survivors-urge-Southern-Baptists-to-listen14495451.php.
(23) Elizabeth Dias, “Đặt câu hỏi về đức tin và lòng trung thành trong các vụ lạm dụng”, New York Times, ngày 11 tháng 6 năm 2019, A1.
(24) Laurie Goodstein, “Các thành viên bị khai trừ nói rằng chính sách của Nhân Chứng Giê-hô-va về lạm dụng che giấu các hành vi phạm tội”, New York Times, ngày 11 tháng 8 năm 2002, mục 1, 26.
(25) Gabrielle Fonrouge, Alex Taylor và Jorge Fitz-Gibbon, “Các cựu Nhân Chứng Giê-hô-va kể lại nhiều năm bị lạm dụng tình dục trước vụ án mang tính bước ngoặt”, New York Post, ngày 12 tháng 8 năm 2019, https://nypost.com/2019/08/12/former-jehovahs-witnesses-recount-yearsof-sex-abuse-ahead-of-landmark-case/.
(26) Aysha Khan, “Imam Texas bị yêu cầu trả 2.55 triệu đô la trong vụ án hành vi sai trái tình dục”, Religious News Service, ngày 15 tháng 8 năm 2019, https://religionnews.com/2019/08/15/texas-imam-ordered-to-pay-2-55million-in-sexual-misconduct-case/.
(27) Aysha Khan, “ ‘Đã đến lúc’: Những người Hồi giáo này đang đưa vấn nạn lạm dụng tình dục của các Sheikh ra khỏi bóng tối”, Religious News Service, ngày 15 tháng 1 năm 2020, https://religionnews.com/2020/01/15/a-long-time-coming-thesemuslims-are-bringing-sex-abuse-by-sheikhs-out-of-the-shadows.
(28) Hannah Dreyfus, “Hội đồng quản trị trại hè NJY giải tán, dàn xếp với ít nhất một nạn nhân”, Jewish Week, ngày 10 tháng 2 năm 2019,
https://jewishweek.timesofisrael.com/njy-camps-board-disbands-settleswith-at-least-one-victim/.
(29) Simone Weichselbaum, “Tòa án Rabbinical gửi thông điệp tới người Lubavitcher: Hãy ngừng tố cáo cảnh sát và tội phạm với người ngoài”, Daily News, ngày 10 tháng 12 năm 2010, https://www.nydailynews://news.com/new-york/brooklyn/rabbinicalcourt-lubavitchers-quit-yer-snitchin-cops-crime-outsiders-article1.470554.
(30) Michael Powell, “De Blasio bỏ lỡ cơ hội lên tiếng”, New York Times, ngày 29 tháng 5 năm 2014, A28.
31 Martin Daly và Margo Wilson, “Lạm dụng trẻ em và những rủi ro khác khi không sống cùng cả cha lẫn mẹ”, Ethology and Sociobiology 6, số 4 (1985): 197.
32 Garth A. Rattray, “Tháng Trẻ em và Ấu dâm”, Gleaner, ngày 14 tháng 5 năm 2002.
(33) Patricia G. Schnitzer và Bernard G. Ewigman, “Cái chết của trẻ em do thương tích gây ra: Các yếu tố rủi ro trong gia đình và đặc điểm của thủ phạm”, Pediatrics 116, số 5 (tháng 11 năm 2005): 687.
(34) Andrea Sedlak và cộng sự, Nghiên cứu Quốc gia lần thứ tư về Tỷ lệ Lạm dụng và Bỏ bê Trẻ em (NIS-4): Báo cáo gửi Quốc hội (Washington, D.C.: Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ, Cục Quản lý Trẻ em và Gia đình, 2010), 12.
(35) Blue Out Penn State, “Thông tin về Lạm dụng Tình dục Trẻ em”, http://sites.psu.edu/blueout/child-abuse-information.
(36) Mike Baker, “Phá sản đối với Hội Hướng đạo sinh khi các vụ lạm dụng gia tăng”, New York Times, ngày 19 tháng 2 năm 2020, A1.
(37) Kim Christensen, “Hội Hướng đạo sinh nhận được 92.700 đơn tố cáo lạm dụng tình dục, làm lu mờ con số của Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ”, Los Angeles Times, ngày 16 tháng 11 năm 2020, http://www.latimes.com/california/story/2020-1116/boy-scouts-sexual-abuse-claims-top-88000-bankruptcy.
(38) Mary F. Calvert và Dave Philipps, “Sáu người đàn ông kể câu chuyện về việc bị tấn công tình dục trong quân đội”, New York Times, ngày 10 tháng 9 năm 2019, https://www.nytimes.com/interactive/2019/09/10/us/men-military-sexualassault.html.
(39) Matthew Haag, “Hàng ngàn trẻ em nhập cư cho biết chúng bị lạm dụng tình dục tại các trung tâm giam giữ của Mỹ, theo báo cáo”, New York Times, ngày 27 tháng 2 năm 2019, https://www.nytimes.com/2019/02/27/us/immigrantchildren-sexual-abuse.html.
(40) Benjamin Weiser và Danny Hakim, “New York giữ những kẻ lạm dụng làm người chăm sóc như thế nào”, New York Times, ngày 10 tháng 6 năm 2019, A1.
(41) Timothy Williams, “Các quan chức nhìn thấy những nguy hiểm đối với phúc lợi trẻ em tại một khu bảo tồn người da đỏ ở Bắc Dakota”, New York Times, ngày 7 tháng 7 năm 2012, https://www.nytimes.com/2012/07/08/us/child-welfare-dangers-seen-onspirit-lake-reservation.html.
(42) CCHR International, “Đại dịch lạm dụng tình dục trong sức khỏe tâm thần: Bác sĩ tâm thần cưỡng hiếp phụ nữ và quấy rối trẻ em”, Health Impact News, ngày 10 tháng 11 năm 2017, https://healthimpactnews.com/2017/sexualabuse-epidemic-in-mental-health-psychiatrists-raping-women-andmolesting-children.
(43) Carrie Teegardin, Danny Robbins, Ariel Hart và Jeff Ernsthausen, “Điều tra quốc gia của AJC; Bác sĩ và lạm dụng tình dục; Giấy phép phản bội”, Atlanta Journal-Constitution, ngày 10 tháng 7 năm 2016, 1A.
(44) “Hàng trăm vụ lạm dụng tình dục được báo cáo tại các trại trẻ em trên khắp nước Mỹ”, CBS News, ngày 10 tháng 12 năm 2018,
https://www.cbsnews.com/news/hundreds-sexual-abuse-cases-childrenscamps-reported-across-us-cbs-thismorning/#:~:text=CBS%20News%20has%20identified%20hundreds,cases%20surfaced%20this%20year%20alone.
(45) Nancy Armour, Rachel Axon và Brent Schrotenboer, “Điều tra của USA Today—Bị cấm vì hành vi sai trái tình dục nhưng vẫn tiếp tục huấn luyện”, Knoxville News-Sentinel, ngày 16 tháng 12 năm 2018, E3.
(46) Elsa Partan và Heather Goldstone, “Nhà khoa học công bố danh sách những kẻ quấy rối tình dục đã biết trong giới học thuật”, WCAI, ngày 10 tháng 9 năm 2018,
http://www.capeandislands.org/post/scientist-publishes-list-knownharassers-academia.
(47) Nathan Bomey và Marco della Cava, “Quấy rối tình dục không được kiểm soát trong nhiều thập kỷ khi các khoản bồi thường làm im lặng những người tố cáo”, USA Today,
ngày 1 tháng 12 năm 2017, https://www.usatoday.com/story/money/business/2017/12/01/sexualharassment-went-unchecked-decades-payouts-silencedaccusers/881070001/.
(48) Taylor Telford và Elizabeth Dwoskin, “Nhân viên Google trên toàn thế giới đình công vì cáo buộc quấy rối tình dục và bất bình đẳng trong công ty”, Washington Post, ngày 1 tháng 11 năm 2018.
(49) Kathleen Gilbert, “Những cáo buộc ấu dâm gần đây ở Hollywood chỉ là phần nổi của tảng băng chìm: Cựu diễn viên nhí”, LifeSiteNews, ngày 6 tháng 12 năm 2011, https://www.lifesitenews.com/news/recent-hollywood-pedophilia-chargesjust-the-tip-of-the-iceberg-former-chil.
(50) Seth Abramovitch, “Corey Feldman về vụ tai tiếng ấu dâm của Elijah Wood ở Hollywood: ‘Tôi rất muốn nêu tên những người liên quan’”, Hollywood Reporter, ngày 25 tháng 5 năm 2016, http://www.hollywoodreporter.com/news/coreyfeldman-elijah-wood-hollywood.
(51) Adam Carlson, “Elijah Wood lên tiếng về nạn lạm dụng trẻ em ở Hollywood: ‘Có rất nhiều rắn độc’ “Những kẻ lạm dụng tình dục trong ngành công nghiệp này”, People, ngày 22 tháng 5 năm 2016, http://people.com/celebrity/elijah-wood-speaks-out-on-child-abusein-hollywood.
(52) Martha Irvine và Robert Tanner, “AP: Hành vi sai trái tình dục hoành hành các trường học ở Mỹ”, Washington Post, ngày 21 tháng 10 năm 2007,
https://www.washingtonpost.com/wpdyn/content/article/2007/10/21/AR2007102100144.html.
(53) Steve Reilly, “Những giáo viên lạm dụng tình dục học sinh vẫn tìm được việc làm trong lớp học”, USA Today, ngày 22 tháng 12 năm 2016.
(54) Billie-Jo Grant, Stephanie B. Wilkerson, deKoven Pelton, Anne Cosby và Molly Henschel, Nghiên cứu trường hợp về hành vi sai trái tình dục của nhân viên trường học K-12: Những bài học kinh nghiệm từ Thực hiện Chính sách Title IX (Charlottesville, Va.: Magnolia Consulting, 2017), ii, Dịch vụ Tham khảo Tư pháp Hình sự Quốc gia, https://www.ncjrs.gov/pdffiles1/nij/grants/252484.pdf.
(55) Joe Nelson và Scott Schwebke, “Chống lại dịch bệnh kẻ săn mồi trong trường học; “Văn hóa quản lý phần lớn là nguyên nhân khiến không loại bỏ được hành vi quấy rối tình dục của giáo viên, các chuyên gia cho biết”, Daily News of California, ngày 23 tháng 11 năm 2018, AA1.
(56) “Ngày ra tòa của họ”, bài xã luận của Washington Post, ngày 20 tháng 3 năm 2019, A20.
(57) Sydney Ember, “Glenn Thrush, phóng viên bị đình chỉ của Times, sẽ tiếp tục làm việc nhưng sẽ không đưa tin về Nhà Trắng”, New York Times, ngày 20 tháng 12 năm 2017, https://www.nytimes.com/2017/12/20/business/media/glenn-thrushsuspension-white-house.html.
(58) Sydney Ember, “Biên tập viên hàng đầu của NPR bị cáo buộc quấy rối tình dục khi còn làm việc tại New York Times”, New York Times, ngày 31 tháng 10 năm 2017, https://www.nytimes.com/2017/10/31/business/npr-michael-oreskes-newyork-times.html.
(59) Mark Arsenault, “Truyền thông, bao gồm cả Globe, đi sai đường trong thời đại ‘MeToo’”, Boston Globe, ngày 8 tháng 12 năm 2017, A1.
(60) Bill Donohue, “Boston Globe từ chối nêu tên những kẻ lạm dụng”, Catholic League, ngày 18 tháng 12 năm 2017, https://www.catholicleague.org/boston-globerefuses-to-name-abusers/.
(61) Bill Donohue, “Truyền thông che đậy cho Boston Globe”, Catholic League, ngày 3 tháng 1 năm 2018, https://www.cnsnews.com/commentary/billdonohue/bill-donohue-media-provide-cover-boston-globe.
(62) Don Seiffert, “Biên tập viên tờ Globe xin lỗi về việc đưa tin về quấy rối tình dục của một phóng viên”, Boston Business Journal, ngày 22 tháng 12 năm 2017.
(63) Kyle Smith, “Hollywood là một băng đảng dụ dỗ tình dục”, National Review, ngày 30 tháng 11 năm 2018, http://www.nationalreview.com/2018/11/hollywoodsex-grooming-gang-les-moonves-harvey-weinstein.
(64) James B. Stewart, “Báo cáo của CBS về Moonves chỉ ra sự thiếu sót trong giám sát”, New York Times, ngày 5 tháng 12 năm 2018, Bi.
(65) Sara Nathan, “Nhân viên CBS ‘muốn có câu trả lời’ sau cuộc điều tra kéo dài một năm về Charlie Rose”, Page Six, ngày 24 tháng 11, 2018,
https://pagesix.com/2018/11/24/cbs-staffers-want-answers-after-year-longcharlie-rose-investigation.
(66) “Hai bước tiến và một bước lùi sẽ không thanh tẩy được Giáo Hội Công Giáo”, Washington Post, ngày 11 tháng 5 năm 2019..
(67) Amber Athey, “Washington Post bị cáo buộc ém nhẹm câu chuyện về hành vi quấy rối tình dục của nhà sản xuất chương trình ‘60 Minutes’”, Daily Caller, ngày 2 tháng 4 năm 2019, http://www.dailycaller.com/2019/04/02/washington-post-jeff-fagerharassment-story.
(68) Irin Carmon, “Washington Post sợ điều gì?”, New York Magazine, ngày 1 tháng 4 năm 2019, https://nymag.com/intelligencer/2019/04/what-was-thewashington-post-afraid-of.html.
(69) Camila Domonoske, “Cuộc điều tra của NBC cho thấy những người tố cáo Matt Lauer đáng tin cậy, các giám đốc điều hành không biết", Đài Phát thanh Quốc gia, ngày 9 tháng 5 năm 2018, https://www.npr.org/sections/thetwo-way/2018/05/09/609734430/nbcinvestigation-finds-matt-lauers-accusers-credible-executives-unaware.
(70) Vester đã đưa ra nhận xét của mình trên chương trình Tucker Carlson Tonight của Fox News Network, ngày 28 tháng 11 năm 2018.
(71) Sarah Lyall, “Sự im lặng về lạm dụng đẩy BBC vào tai tiếng”, New York Times, ngày 14 tháng 10 năm 2012, A12.
(72) “Trên giường với Jimmy”, Guardian, ngày 11 tháng 4 năm 2000, trang 6.
(73) Sam Greenhill, Chris Greenhill và Martin Robinson, “Bị xé toạc, đập vỡ và vứt vào thùng rác đến bãi rác: Bia mộ của Jimmy Savile bị gia đình dỡ bỏ lúc 1 giờ sáng ‘vì tôn trọng dư luận’—khi cảnh sát bắt đầu cuộc truy lùng những kẻ đồng phạm lạm dụng trẻ em của BBC”, Daily Mail, ngày 10 tháng 10 năm 2012, https://www.dailymail.co.uk/news/article-2215324/Jimmy-Savilegravestone-removed-family-police-launch-hunt-BBC-child-abuseaccomplices.html.
(74) Adam Taylor, “Vụ tai tiếng lạm dụng tình dục lớn làm rung chuyển BBC có thể là một vấn đề đau đầu lớn đối với CEO mới của NYT”, Business Insider, ngày 15 tháng 10 năm 2012, https://www.businessinsider.com/jimmy-savile-scandal-nyt-ceotrouble-2012-10.
(75) Gordon Rayner, “Vụ tai tiếng Savile phơi bày nạn lạm dụng trẻ em trên quy mô chưa từng có”, Daily Telegraph (ấn bản quốc gia), ngày 20 tháng 10 năm 2012, trang 11.
(76) Tim Walker, “P D James, kẻ gây rối của BBC, vẫn còn việc chưa giải quyết với Thompson”, Daily Telegraph (ấn bản quốc gia), ngày 23 tháng 10 năm 2012, trang 6.
(77) Raphael Satter, “Vụ tai tiếng BBC đặt ra câu hỏi cho người sắp nhậm chức CEO của NYT”, Thông tấn xã Associated Press, ngày 24 tháng 10 năm 2012.
(78) Matthew Purdy, “Bức thư đặt ra câu hỏi về thời điểm cựu giám đốc BBC biết về các vụ lạm dụng”, New York Times, ngày 16 tháng 11 năm 2012, A9.
(79) Như trên.
(80) Michelle Goldberg, “Jeffrey Epstein là biểu tượng cuối cùng của sự mục nát của giới tài phiệt”, New York Times, ngày 8 tháng 7 năm 2019,
https://www.nytimes.com/2019/07/08/opinion/jeffrey-epsteintrump.html.
(81) Morgan Phillips, “Nhà văn tuyên bố Graydon Carter ‘đã thỏa thuận’ với Jeffrey Epstein để xóa bỏ các cáo buộc khỏi bài báo trên Vanity Fair”, Mediaite, ngày 8 tháng 7 năm 2019, http://www.mediaite.com/news/writer-accuses-graydon-carterof-cutting-a-deal-with-jeffrey-epstein-to-remove-allegations-from-vanityfair-piece.
(82) Bill Donohue, “Vai trò của Donohue trong cuộc điều tra FBI—Weiner”, Catholic League, ngày 31 tháng 10 năm 2016, https://www.catholicleague.org/donohues-rolein-fbi-weiner-probe/.
(83) Như trên.
(84) Bill Donohue, “Nhắm vào Giám mục Finn”, Catholic League, ngày 31 tháng 10 năm 2011.
(85) Bill Donohue, “Hai vụ tai tiếng ở Philadelphia”, Catholic League, ngày 20 tháng 5 năm 2013, https://www.catholicleague.org/twin-philly-scandals/. Tiêu đề của quảng cáo là “Bốn người đàn ông Công Giáo bị gài bẫy”.
(86) Bill Donohue, “CBS: Hệ thống công kích người Công Giáo”, Catalyst, tháng 9 năm 2003, https://www.catholicleague.org/cbs-catholic-bashing-system/.
(87) Bill Donohue, “CBS mắc bẫy của luật sư nạn nhân”, ngày 8 tháng 8 năm 2003, https://www.catholicleague.org/cbs-takes-the-bait-of-victimslawyers/.
(88) Bill Donohue, “CBS phạm tội vu khống Vatican một cách bất công”, ngày 7 tháng 8 năm 2003, https://www.catholicleague.org/cbs-guilty-of-unfairly-maligningvatican/.
(89) Như trên Xem thêm “CBS mắc bẫy của luật sư các nạn nhân”.
(90) Bill Donohue, “Phản hồi về phim tài liệu của CNN về Giáo hoàng”, Catholic League, ngày 28 tháng 9 năm 2010,
https://www.catholicleague.org/response-to-cnn-documentary-on-the-pope2/.
(91) Như trên
(92) Jenn Abelson và Thomas Farragher, “Trong vụ tai tiếng lạm dụng, tâm điểm chú ý đổ dồn vào các Giám mục: Một cuộc đánh giá chung của tờ Globe và tờ Philadelphia Inquirer cho thấy những hành vi sai trái tràn lan trong hệ thống phẩm trật của Giáo hội nhưng trách nhiệm giải trình hầu như vắng bóng bất chấp những lời thề năm 2002”, Boston Globe, ngày 4 tháng 11 năm 2018, A1.
(93) Như trên