1. Tổng thống Trump tiếp tục các cuộc tấn công vu cáo nhắm vào Đức Giáo Hoàng Lêô XIV
Tổng thống Trump đã tiếp tục tung ra các vu cáo nhắm vào Đức Giáo Hoàng Lêô XIV liên quan đến việc Iran sở hữu vũ khí hạt nhân. Diễn biến này xảy ra sau cuộc gặp ngày 28 tháng 5 giữa Thị trưởng Chicago Brandon Johnson và Đức Giáo Hoàng Lêô XIV tại Vatican, trong đó thị trưởng cho biết hai vị đã thảo luận về vấn đề nhập cư của Mỹ và xung đột với Iran.
Tổng thống Trump đăng tải: “Ai đó nên giải thích với Giáo hoàng rằng Thị trưởng Chicago vô dụng, và Iran không thể có vũ khí hạt nhân.” Ông cũng chia sẻ ảnh chụp màn hình các bài đăng của thị trưởng kèm theo hình ảnh ông và Đức Giáo Hoàng (người gốc Chicago) tặng quà và cầu nguyện.
Tổng thống đã nhiều lần tuyên bố, mà không đưa ra bằng chứng, rằng Đức Lêô muốn quốc gia Trung Đông này phát triển vũ khí hạt nhân.
Đức Giáo Hoàng Lêô đã bác bỏ những cáo buộc đó. Vào ngày 5 tháng 5 tại Castel Gandolfo, ngài tuyên bố rằng Giáo hội “đã lên tiếng phản đối tất cả các loại vũ khí hạt nhân trong nhiều năm”. Sau đó, Đức Hồng Y Pietro Parolin, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh, tuyên bố rằng Tòa Thánh “luôn nỗ lực và sẽ tiếp tục nỗ lực vì giải trừ vũ khí hạt nhân”.
Vào tháng Tư, Tổng thống Trump đã chỉ trích gay gắt Đức Giáo Hoàng Lêô XIV, gọi ngài là “yếu kém trong việc chống tội phạm” và “tệ hại trong chính sách đối ngoại”, đồng thời nói rằng ông “không phải là người hâm mộ” Đức Giáo Hoàng.
Tổng thống Trump đã bày tỏ sự không đồng tình với những tuyên bố công khai của Đức Giáo Hoàng Lêô lên án cuộc chiến do Mỹ dẫn đầu chống lại Iran. Đức Thánh Cha đã nhiều lần kêu gọi hòa bình trong bối cảnh xung đột đang diễn ra.
Đức Giáo Hoàng đã nói rằng ngài “không sợ chính quyền Trump hay việc lên tiếng mạnh mẽ về thông điệp của Phúc Âm.”
Tòa thánh và các Đức Giáo Hoàng, hiện nay là Đức Giáo Hoàng Lêô XIV, luôn duy trì lập trường kiên định chống lại việc sử dụng và sở hữu tất cả các loại vũ khí hạt nhân, coi chúng là vô đạo đức và là mối đe dọa đối với nhân loại.
Không chỉ đối với Iran mà thôi, Tòa Thánh lên án việc sử dụng và sở hữu tất cả các loại vũ khí hạt nhân của tất cả các nước trong đó có Nga, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Bắc Hàn, Israel, Pakistan, Ấn Độ, Anh và Pháp.
Giáo huấn xã hội Công Giáo nhấn mạnh rằng hòa bình không thể được xây dựng trên “cảm giác an toàn giả tạo” do răn đe hạt nhân mang lại.
Tòa thánh coi việc loại bỏ vũ khí hạt nhân là một “mệnh lệnh đạo đức cấp bách”. Năm 2017 Tòa Thánh trở thành quốc gia đầu tiên ký kết và phê chuẩn Hiệp ước cấm vũ khí hạt nhân của Liên Hiệp Quốc, gọi tắt là TPNW.
Đừng nói việc sử dụng chúng, ngay cả việc sở hữu vũ khí hạt nhân thôi cũng đã bị coi là vô đạo đức vì nó bắt nguồn từ nỗi sợ hãi và mối đe dọa hủy diệt hoàn toàn.
Giáo hội lập luận rằng điều đó là “phi lý” và “không bền vững về mặt chiến lược”.
Tòa Thánh lập luận rằng hàng tỷ đô la chi cho kho vũ khí hạt nhân là một “thất bại đạo đức sâu sắc” và thay vào đó nên được sử dụng để giải quyết các vấn đề nhân đạo như nạn đói toàn cầu.
Tòa thánh đặc biệt bày tỏ lo ngại về việc tích hợp trí tuệ nhân tạo vào hệ thống chỉ huy hạt nhân, cảnh báo rằng điều này có thể làm tăng nguy cơ xảy ra các vụ tấn công ngoài ý muốn hoặc tính toán sai lầm.
Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã thẳng thừng bác bỏ tuyên bố của Tổng thống Donald Trump rằng ngài cho rằng việc Iran sở hữu vũ khí hạt nhân là điều chấp nhận được. Đức Giáo Hoàng khẳng định: “Giáo hội đã lên tiếng phản đối mọi loại vũ khí hạt nhân trong nhiều năm, vì vậy không có gì phải nghi ngờ về điểm này”.
Source:National Catholic Register
2. Nga phá hủy Nhà thờ Sinh Nhật Đức Mẹ ở tỉnh Donetsk bằng máy bay điều khiển từ xa gây cháy bất kể đó là di tích được bảo vệ theo Công ước Geneva.
Ngày 30 tháng 5, một máy bay điều khiển từ xa của Nga đã phá hủy Nhà thờ Sinh Nhật Đức Trinh Nữ Maria ở thị trấn Zakitne, tỉnh Donetsk, vẫn còn trong vùng kiểm soát của quân Ukraine, bằng cách thả một quả bom cháy xuống mái nhà, theo báo cáo của Lữ đoàn Dù biệt lập số 81 “Slobozhansky” của Ukraine hôm Chúa Nhật, 31 Tháng Năm.
Các địa điểm thờ phượng là những di tích được bảo vệ theo Điều 53 của Nghị định thư bổ sung I cho Công ước Geneva. Điều khoản này nghiêm cấm rõ ràng việc thực hiện các hành vi thù địch chống lại các di tích lịch sử, tác phẩm nghệ thuật hoặc địa điểm thờ phượng, sử dụng chúng để hỗ trợ các nỗ lực quân sự hoặc biến chúng thành đối tượng trả thù.
Cha Yaroslav, tuyên úy của Lữ đoàn Dù 81, đã thường xuyên cử hành lễ tại nhà thờ này, cho biết như trên. Nhà thờ giáo xứ Zakitne đã bị phá hủy về mặt vật chất hai lần trong ký ức của người dân: bởi chiến dịch chống tôn giáo của Liên Xô vào những năm 1930, và bởi Nga vào năm 2026.
Lữ đoàn 81 cho biết, các binh sĩ Nga đã sử dụng bom cháy thả từ máy bay điều khiển từ xa, là loại vũ khí mà lực lượng Nga thường dùng để tấn công vào các hầm trú ẩn và các công trình bằng gỗ.
Bom cháy gây ra hỏa hoạn ngay khi tiếp xúc chứ không phải dựa vào hiệu ứng nổ, vì kiến trúc nhà thờ bằng gỗ phổ biến khắp tỉnh Donetsk đặc biệt dễ bị tổn thương.
“Tôi đã hy vọng rằng nhà thờ trong thị trấn sẽ đứng vững đến cùng và sau khi chiến tranh kết thúc, tôi có thể nghỉ hưu ở đó, nhưng người Nga… Chúa sẽ phán xét họ,” Cha Yaroslav, tuyên úy của Lữ đoàn Dù 81, nói.
Ngôi thánh đường đã được xây dựng vào năm 2010, sau khi Liên Xô phá hủy công trình đầu tiên.
Theo ghi nhận của lữ đoàn, tòa nhà hiện tại được thiết kế và xây dựng trong 2 năm 2009 và 2010 và được thánh hiến vào ngày 31 tháng 7 năm 2010, đây là nỗ lực thứ hai của thị trấn trong việc xây dựng một nhà thờ giáo xứ, sau khi nhà thờ ban đầu bị phá hủy trong chiến dịch chống tôn giáo của Liên Xô vào những năm 1930.
Nga tiếp tục các mô hình tấn công vào tôn giáo mà chính quyền Xô Viết đã tiên phong: việc bức hại giáo sĩ và các giáo xứ ở vùng lãnh thổ bị tạm chiếm đã được ghi nhận từ năm 2014, theo chi tiết trong bài viết về một báo cáo ban đầu của Viện Tự do Tôn giáo.
Source:EuroMaidan
3. Chân phước Wyszyński, Thánh Phaolô Đệ Lục và Thiên niên kỷ Ba Lan
Linh mục Raymond J. de Souza, là chủ bút tập san Công Giáo Convivium của Canada. Ngài vừa có bài viết nhan đề “Wyszyński, Paul VI and the Polish Millennium”, nghĩa là “Chân phước Wyszyński, Thánh Phaolô Đệ Lục và Thiên niên kỷ Ba Lan”.
Thánh tích của Chân phước Stefan Wyszyński, Giáo Chủ Ba Lan từ 1948 đến 1981, đã được đặt tại Vương Cung Thánh Đường Santa Maria in Trastevere ở Rôma vào ngày 28 tháng 5, ngày lễ kính ngài được thiết lập khi ngài được phong chân phước năm 2021.Ngày 29 tháng 5 là lễ kính Thánh Giáo hoàng Phaolô Đệ Lục, và việc hai ngày lễ này diễn ra liên tiếp nhau nhắc nhở chúng ta về sự kiện trọng đại của Thiên niên kỷ Ba Lan cách đây 60 năm. Đó là một trong những khoảnh khắc quan trọng nhất trong lịch sử Công Giáo.
Đức Hồng Y Wyszyński qua đời ngày 28 tháng 5 năm 1981, chỉ vài tuần sau vụ ám sát hụt Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Hai vị giáo sĩ xuất sắc nhất thế kỷ 20 đã có cuộc trò chuyện điện thoại cuối cùng từ giường bệnh của các ngài ở Warsaw và Rôma.
Nhà thờ Santa Maria in Trastevere là nhà thờ hiệu tòa của Hồng Y Wyszyński. Khi các Hồng Y được phong chức, Đức Thánh Cha sẽ chỉ định cho các ngài một “nhà thờ hiệu tòa” ở Rôma. Các ngài trở thành một phần tượng trưng của hàng giáo sĩ Rôma và do đó, giám mục thành Rôma được bầu chọn bởi hàng giáo sĩ Rôma trong Cơ Mật Viện Hồng Y.
Các nhà nghiên cứu lịch sử Công Giáo Hoa Kỳ đặc biệt yêu thích nhà thờ Santa Maria in Trastevere, vì đây là nhà thờ hiệu tòa của Đức Hồng Y James Gibbons, Tổng Giám Mục Baltimore trong hơn 40 năm từ 1877 đến 1921.
Đức Hồng Y Gibbons được bổ nhiệm phụ trách nhà thờ Santa Maria in Trastevere, có lẽ là nhà thờ Đức Mẹ lâu đời nhất ở Rôma, vào tháng 3 năm 1887, và nhận “giáo xứ” mới của mình vào ngày lễ Truyền Tin vài ngày sau đó. Nhân dịp đó, ngài đã có bài phát biểu quan trọng nhất trong lịch sử Công Giáo Hoa Kỳ, bảo vệ thỏa thuận hiến pháp Hoa Kỳ là có lợi cho sự phát triển của Công Giáo.
Đức Hồng Y Gibbons thuyết giảng rằng “Không nhắm mắt làm ngơ trước những thiếu sót của quốc gia chúng ta, tôi nói, với một niềm tự hào và lòng biết ơn sâu sắc, rằng tôi thuộc về một đất nước nơi chính quyền dân sự che chở và bảo vệ chúng ta, mà không can thiệp vào việc chúng ta thực hiện sứ mệnh cao cả của mình với tư cách là những người truyền bá Tin Mừng của Chúa Kitô. Đất nước chúng ta có tự do không có sự tùy tiện, và quyền lực không có chuyên chế.”
Chế độ chuyên chế đã bao trùm toàn bộ nhiệm kỳ của Đức Hồng Y Wyszyński trên cương vị nhà lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo ở Ba Lan. Là Tổng Giám Mục Warsaw và nhà lãnh đạo Giáo hội Ba Lan từ năm 1948, ngài đã lãnh đạo Giáo hội Ba Lan dưới chế độ cộng sản Stalin. Đức Hồng Y Wyszyński được tấn phong linh mục danh dự của nhà thờ Santa Maria in Trastevere vào ngày 18 tháng 5 năm 1957 (trùng hợp là ngày sinh nhật của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II).
Vào thời điểm đó, ngài là một trong những giám mục nổi tiếng nhất thế giới. Ngài bị bọn cầm quyền cộng sản Ba Lan bắt giữ năm 1953 và quản thúc tại gia cho đến năm 1956, bị tước đoạt quyền cai quản giáo đoàn. Sau khi được thả tự do năm 1956, Đức Hồng Y Wyszyński trở thành anh hùng của phong trào chống cộng sản toàn cầu; tại Ba Lan, ngài trở thành nhân vật thống nhất phong trào kháng chiến tôn giáo, văn hóa và dân tộc.
Trái tim của Đức Hồng Y Wyszyński đập theo nhịp điệu cổ xưa của lịch sử Ba Lan, và khi được trả tự do vào năm 1956, ngài đã tuyên bố “Đại Cửu Nhật” - chín năm mà Ba Lan sẽ chuẩn bị để “tái khẳng định lời thề khi chịu phép rửa tội” vào dịp kỷ niệm thiên niên kỷ Kitô giáo Ba Lan năm 1966. Ba Lan cho rằng đức tin Kitô giáo của mình bắt nguồn từ năm 966, với phép rửa tội của Mieszko, công tước Ba Lan.
Để chuẩn bị cho Thiên niên kỷ Ba Lan, Đức Hồng Y Wyszyński đã gửi một bức ảnh Đức Mẹ Częstochowa đến tất cả các giáo xứ ở Ba Lan. Khi những người cộng sản “bắt giữ” bức ảnh, với hy vọng vụng về có thể ngăn chặn các cuộc rước kiệu lớn ở mọi nơi nó đi qua, Đức Hồng Y Wyszyński đã gửi một khung trống thay thế. Đám đông càng ngày càng đông hơn, và Đức Hồng Y Y Wyszyński đã chứng tỏ mình là bậc thầy về lòng sùng kính của quần chúng - khung trống đó lại là một biểu tượng mạnh mẽ hơn cả chính Đức Mẹ Đen.
Đại lễ cầu nguyện Novena có tầm ảnh hưởng lớn đến nỗi Hồng Y Wyszyński được biết đến với danh hiệu “Giáo Chủ của Thiên niên kỷ”. Tại lễ kỷ niệm trọng đại của thiên niên kỷ, Hồng Y Wyszyński đã mời Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục đến dự lễ chính ở Częstochowa vào ngày 3 tháng 5 năm 1966. Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục đã nhận lời nhưng những người cộng sản đã từ chối cho phép Đức Thánh Cha đến, mang lại cho Đức Hồng Y Wyszyński một chiến thắng nữa.
Trong Thánh lễ mừng thiên niên kỷ — với sự tham dự của nửa triệu người Ba Lan bất chấp những trở ngại từ bọn cầm quyền — Đức Hồng Y Wyszyński đã cho đặt một chiếc ngai trống trong cung thánh, cùng với bức chân dung của Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục và một bó hoa hồng trắng vàng. Những kẻ tuyên truyền thô thiển của chế độ không thể nào sánh được với tài năng mục vụ xuất chúng của vị Giáo Chủ. Chiếc ngai trống mang một ý nghĩa biểu tượng mạnh mẽ hơn cả chính Giáo hoàng.
Khi Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục được phong chân phước, Vatican đã không chọn ngày mất của ngài làm ngày lễ kính, vì ngài qua đời vào ngày lễ Biến hình và do đó ngày lễ kính ngài sẽ không bao giờ được cử hành vào ngày 6 tháng 8. Ban đầu, ngày 26 tháng 9 — ngày sinh nhật của ngài — được chọn, nhưng sau đó đã được đổi thành ngày 29 tháng 5, ngày ngài thụ phong linh mục.
Như vậy, hai ngày lễ của Hồng Y Wyszyński và Giáo hoàng Phaolô Đệ Lục nay rơi vào hai ngày liên tiếp, gợi nhớ đến lời mời – được đưa ra và chấp nhận nhưng bị ngăn cản – vào năm 1966. Ký ức về ngày đó, cách đây 60 năm vào tháng này, vẫn còn sống động trong trí tưởng tượng của người Công Giáo Ba Lan.
Năm 1978, Thánh Phaolô Đệ Lục băng hà. Chỉ trong vòng một năm, một vị giáo hoàng thực sự đã đến Ba Lan. Lần này, những người cộng sản không thể làm gì để ngăn cản điều đó. Karol Wojtyła, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, đã trở về quê hương.
Khi đến nơi, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bắt đầu bài phát biểu đầu tiên trước chính quyền Ba Lan bằng một câu trích dẫn từ Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục. Với lời lẽ hùng hồn đó, được lặp lại sau đó trong cùng bài phát biểu, nhà cầm quyền Ba Lan đã được nhắc nhở về lý do tại sao họ lại sợ hãi một chuyến thăm của Giáo hoàng đến vậy.
Đỉnh điểm của ngày đầu tiên làm thay đổi lịch sử đó là bài giảng hùng tráng của Đức Thánh Cha tại Quảng trường Chiến thắng ở Warsaw. Trước sự hiện diện của Đức Hồng Y Wyszyński, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bắt đầu bằng việc nhắc nhở mọi người về Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục và năm 1966.
“Chúng ta biết rằng Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, vị Giáo hoàng hành hương đầu tiên sau nhiều thế kỷ, đã tha thiết mong muốn đặt chân lên đất Ba Lan, đặc biệt là Częstochowa. Cho đến cuối đời, ngài vẫn giữ ước vọng này trong lòng, và mang theo nó xuống mồ,” ngài nói. “Và chúng ta cảm nhận được rằng ước vọng này — một ước vọng mạnh mẽ và ăn sâu đến mức vượt qua cả nhiệm kỳ giáo hoàng — đang được hiện thực hóa ngày nay theo một cách khó có thể lường trước được. Vì vậy, chúng ta tạ ơn Chúa vì đã ban cho Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục một ước vọng mạnh mẽ đến vậy.”
“Hôm nay, tôi được trao cơ hội thực hiện ước nguyện này của Đức Cố Giáo hoàng Phaolô Đệ Lục giữa anh chị em, những người con yêu dấu của Tổ quốc tôi,” ngài nói thêm. “Khi tôi được… triệu tập bởi phiếu bầu của các Hồng Y từ ngai vị Thánh Stanislaus ở Kraków đến ngai vị Thánh Phêrô ở Rôma, tôi ngay lập tức hiểu rằng chính tôi phải thực hiện ước nguyện đó, ước nguyện mà Đức Phaolô Đệ Lục đã không thể thực hiện được vào dịp Thiên niên kỷ Rửa tội của Ba Lan. “
Sáu mươi năm trước, chế độ cộng sản tưởng rằng họ đã cản trở được ý chí của Đức Hồng Y Wyszyński. Có lẽ vậy, nhưng không phải là định mệnh. Chuyến thăm của Đức Giáo Hoàng năm 1966 chỉ bị trì hoãn, và khi diễn ra vào năm 1979, nó đã hoàn toàn chấm dứt chế độ này.
Năm 1966, Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục không được phép nhận lời mời của Đức Hồng Y Wyszyński. Giờ đây, vị Giáo Chủ Thiên niên kỷ của Ba Lan sẽ đến Rôma vào năm 2026, hài cốt của ngài được lưu giữ trong nhà thờ mang tên ngài. Sáng thứ Sáu, các Thánh lễ mừng ngày kính Thánh Phaolô Đệ Lục đã được cử hành với sự hiện diện của hài cốt ngài, Giáo hoàng và Giáo Chủ được hợp nhất trên thiên đường — và trong lịch phụng vụ.
Source:National Catholic Register