Thánh Phanxicô và mầu nhiệm thập giá

Thánh Phanxicô có lòng sùng kính thật đặc biệt đối với mầu nhiệm Nhập thể và mầu nhiệm Thập giá. Hai mầu nhiệm này đều cho ngài cảm nhận một cách mãnh liệt sự khiêm hạ thẳm sâu của Chúa và tình yêu Chúa dành cho loài người chúng ta. Thánh Phaolô trong thư Philipphê cũng có cái nhìn như thế:

“ Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nôi lệ, trở nên giống người phàm sống như người trần thế. – Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,6-8).

Cuộc đời Kitô hữu nào cũng là cuộc đời đi theo Chúa Kitô, Người là con đường, là sự thật và sự sống. Thánh Phanxicô thì muốn đặc biệt bước theo Chúa Giêsu nghèo khó, khiêm hạ và chịu đóng đinh.

Thánh giá trong cuộc đời thánh Phanxicô.

Lòng khiêm hạ quảng đại đã thúc đẩy Thiên Chúa tự hạ cho đến mức tận cùng là sự hiến thân hoàn toàn của Chúa Kitô. Phanxicô ca ngợi lòng khiêm hạ này, được thể hiện đặc biệt qua sự thương khó cứu độ của Chúa Kitô. Mầu nhiệm thập giá đi theo thánh nhân suốt cuộc đời, từ khi hoán cải cho đến lúc từ giã cuộc sống trần gian. Không ai diễn ta nổi, không ai hiểu nổi lòng sùng kính của ngài đối với thánh giá Chúa; đó là khẳng định mạnh mẽ của Celanô, người đầu tiên viết truyện thánh Phanxicô (x. 2Cel.203). “Thị kiến” Chúa Kitô trên tượng thánh giá trong nhà nguyện San Đamianô cất tiếng nói với ngài vào đầu thời ngài mới hoán cải và chưa biết rõ Chúa muốn ngài phải sống như thế nào, đã đánh động Phanxicô đến độ cao nhất. Cêlanô nhận xét : “Phép lạ thật lạ lùng, chưa từng nghe nói đến bao giờ! …Từ giờ phút ấy, tâm hồn chàng đã tan chảy ra khi nghe tiếng Người yêu dấu nói với mình. Cũng từ đấy, chàng không thể cầm nước mắt, thậm chí còn khóc lóc lớn tiếng khi nhớ đến Cuộc Khổ Nạn của Chúa Kitô như thể Cuộc Khổ Nạn ấy hằng diễn ra trước mắt vậy” (2 Cel. 11). Kỷ niệm sự thương khó in sâu trong tâm trí ngài đến nỗi –theo lời Thánh Bonaventura – “ngài liên lỉ nhớ tới Chúa Giêsu chịu đóng đinh trong tâm hồn (…). Ngài ước ao được biến đổi hoàn toàn trong Chúa Kitô chịu đóng đinh. Một trong những việc tôn kính riêng của ngài là, -trong suốt bốn mươi ngày sau lễ Hiển Linh, tức là thời gian Chúa rút lui vào trong hoang địa, - ngài cũng tìm kiếm sự cô tịch và giam mình trong căn phòng nhỏ bé để chuyên tâm cầu nguyện và ngợi khen Thiên Chúa không ngừng, đồng thời với việc ăn chay nhiệm nhặt hết sức có thể. Ngài dành cho Chúa Kitô một tình yêu nồng nàn, và Đấng ngài yêu mến đáp lại bằng một lòng âu yếm thân tình, đến độ người tôi tớ Thiên Chúa nghĩ là mình nhìn thấy sự hiện diện của Chúa Cứu Thế hầu như liên lỉ. Bản thân ngài đã nhiều lần thố lộ với các bạn đồng hành của mình về điều đó” (Đại truyện, ch 9, số 2).

Một đề tài suy niệm mà ngài ưa thích chính là mầu nhiệm Chúa chịu thương khó. Và chính ngài đã soạn ra một bộ kinh Thần tụng về cuộc Khổ nạn (nay chúng ta gọi là Kinh Vượt Qua). Trong bộ kinh này, Cha Thánh ca ngợi không những cuộc khổ nạn của Chúa với tâm tình tri ân, nhưng là tất cả công trình cứu độ của Chúa Kitô, trong đó tình yêu Thiên Chúa đổ xuống trên ta một cách rạng rỡ.

Tình yêu là động lực.

Những biểu lộ tâm tình được hai sử gia Celanô và Bonaventura nhắc lại trên đây, không phải chỉ là những rung cảm, những xúc động, bởi vì cho dù mãnh liệt đến đâu, xúc động và rung cảm cũng vẫn nằm ở phạm vi tình cảm mà thôi. Tâm tình cảm mến và hơn nữa tâm tình đồng cảm –com-passio- đã chiếm hết con người Phanxicô. Sự đồng cảm sâu xa này vượt quá phạm vi tình cảm thuần túy. Cha Kajetan Esser một nhà nghiên cứu có uy tín về linh đạo Thánh Phanxicô khẳng định: “Phanxicô để cho mầu nhiệm thương khó thấm nhập vào thể xác và tâm hồn mình và ngài đón nhận nó với tất cả sinh lực của mình” . Còn sử gia Celanô thì giải thích: “ Người của Thiên Chúa cảm thấy một nhiệt tình say sưa đối với thánh giá Chúa, dù nơi công cọng hay khi ở một mình. Vừa bắt đầu phụng sự dưới ngọn cờ của Chúa chịu đóng đinh, thánh giá đã in dấu sâu đậm vào đời ngài” (3Cel.2) Biến cố Chúa chịu đóng đinh hiện ra với Thánh Phanxicô trên núi La Verna dưới hình một thiên thần sốt mến và đã in năm dấu thánh trên thân xác ngài , -đó là một sự xác nhận bề ngoài của Chúa về sự đồng hình đồng dạng bề trong của Phanxicô với Đấng chịu đóng đinh.

Tất nhiên, con người nhạy cảm đặc biệt nơi Thánh Phanxicô cũng ảnh hưởng trên đời sống thiêng liêng của ngài. Nhưng tình cảm mà thôi không thể triền miên chi phối trí khôn và ý chí ngài suốt một cuộc đời khắc khổ và đầy thử thách như thế. Động lực đích thật là tình yêu, tình yêu nóng cháy của ngài đáp lại tình yêu vô biên của Chúa. Ngài thường than thở: “Ôi tình yêu không được yêu!”. Celanô làm chứng cho điều này: “Trong số các từ ngữ sử dụng trong ngôn ngữ thông thường, ngài không thể nghe đến mấy chữ ‘tình yêu của Chúa’ mà trong lòng không cảm thấy xao xuyến. Mỗi khi nghe nói đến ‘tình yêu của Chúa’ lập tức ngài bị thôi thúc, bị kích động, bị đốt cháy; các chữ ấy giống như một cái phím từ bên ngoài gẩy lên các dây đàn bên trong tâm hồn ngài” (2 Cel 196).

Khi yêu ai hết lòng, tự nhiên người ta ao ước được nên giống với người mình yêu, đặc biệt là được cùng chịu khổ (com-passio) với kẻ ấy, và nếu có thể được, chịu khổ thay cho người ấy. Thánh Phanxicô đối với Chúa Kitô chịu đóng đinh cũng vậy. Thời gian xảy ra phép lạ Năm Dấu là thời gian Cha Thánh cầu nguyện dài ngày trên núi La Verna và được hưởng nhiều ơn an ủi của Chúa. Đặc biệt là vào sáng sớm ngày lễ Suy tôn Thánh Giá 14 tháng 9 năm 1224, ngài hướng về phía đông mà than thở: “Lạy Chúa Giêsu Kitô của con, trước lúc qua khỏi đời này, con xin Chúa ban cho con hai ân huệ: một là xin Chúa cho con cảm thấy trong tâm hồn và ngoài thể xác nỗi đau đớn Chúa chịu trong giờ khổ nạn; hai là xin cho con cảm thấy trong trái tim con tình yêu vô biên đã nung nấu Chúa và đưa Chúa đến chỗ chịu một khổ hình lớn lao dường ấy cho loài người tội lỗi chúng con” (Troisième considération sur les stigmates). Phép lạ Năm Dấu là lời đáp trả ân cần của Chúa cho bao nỗi khao khát và bao nỗ lực của Phanxicô để được nên giống với Người trong cuộc thương khó.

Nhìn lên huy hiệu và khẩu hiệu của Dòng Anh Em Hèn Mọn, người ta có thể biết phần nào nền linh đạo Phan-sinh. Khẩu hiệu đó là: Caritas (Tình yêu) và huy hiệu là một thập giá với hai cánh tay bắc chéo nhau, một của Chúa Kitô và một của Thánh Phanxicô sau ngày lãnh Năm Dấu.

Vài hậu quả thực hành.

Việc đi theo Chúa Kitô phải ngang qua mầu nhiệm thánh giá cứu độ, không còn con đường nào khác; nhưng không được hiểu điều này như một định mệnh khốn khổ mà như ý muốn thanh luyện mình và đón nhận thánh ý Chúa, được tham dự vào Mầu nhiệm Chúa Kitô Đấng cứu độ. Nghịch cảnh, đau khổ, từ bỏ không phải là những điều người Kitô hữu tìm kiếm, nhưng đón nhận chúng khi chúng đến, coi đó như những cơ hội hiến dâng mình vì lòng yêu mến Chúa và tha nhân.

Nhưng không có gì lấy mất khỏi chúng ta niềm vui được sống hiệp thông với Chúa Kitô, và đợi chờ nơi Người ơn cứu độ của chúng ta.

Chúng ta hãy nhắc lại: Thánh Phanxicô không coi việc bắt chước Chúa Kitô đau khổ trong nhãn giới lập công đền tội. Nhãn giới này vẫn có thể che dấu một thứ ích kỷ nào đó. Đối với thánh nhân, đây là một sự đáp trả biết ơn của kẻ, sau khi đã suy gẫm về sự “hủy mình ra không” của Chúa Kitô, tự cảm thấy bị thúc bách phải bắt chước sự trần trụi hoàn toàn của Chúa bằng đời sống đền tội.

Nghèo khó, khiêm hạ, phục vụ vô điều kiện, yêu mến cách riêng những người nghèo khổ bé mọn … là hậu quả tất nhiên của việc thường xuyên chiêm ngưỡng thánh giá và lòng yêu mến Chúa Giêsu chịu đóng đinh.

Tự kiểm.

1.Là môn đệ của Chúa Giêsu Kitô nghèo khó, khiêm nhường và chịu đóng đinh, đời sống của tôi hiện nay có gì trái nghịch với đời sống của Người không?

2. Thánh Phanxicô thường than thở : “Ôi tình yêu không được yêu lại”. Ca dao Việt Nam nói: Cha mẹ thương con như trời như bể, con thương cha mẹ con kể từng ngày. Chúa còn thương tôi hơn trời hơn bể nữa. Tôi có cố gắng lấy tình con thảo đáp lại tình Chúa yêu tôi không, hay tôi sống như một kẻ làm công, một kẻ hay tính toán chi li với Chúa, một đứa con hay phàn nàn kêu ca hoặc chỉ biết ngửa tay xin …?

3. “ Khi yêu ai hết lòng, tự nhiên người ta ao ước được nên giống với người mình yêu, đặc biệt là được cùng chịu khổ (com-passio) với kẻ ấy, và nếu có thể được, chịu khổ thay cho người. Thánh Phanxicô đối với Chúa chịu đóng đinh cũng vậy”. Còn tôi?... “Thế ra anh em không thể canh thức nổi với Thầy một giờ sao?” (Mt 26,40).

4. “Nghịch cảnh, đau khổ, từ bỏ không phải là những điều người Kitô hữu tìm kiếm, nhưng đón nhận chúng khi chúng đến, coi đó như những cơ hội hiến dâng mình vì lòng yêu mến Chúa và tha nhân”. Hãy nhìn lại bản thân về điểm này.

30.3.2012