1. Lực lượng an ninh Jordan bắt giữ 3 người đàn ông liên quan đến vụ tấn công nhà thờ gây chết người hồi tuần trước.

Lực lượng an ninh Jordan đã bắt giữ ba người đàn ông hôm thứ Hai vì vụ tấn công vào một nhà thờ Chính thống giáo Hy Lạp khiến 9 người thiệt mạng và hơn 20 người bị thương hồi tuần trước. Vụ bắt giữ diễn ra sau một cuộc đấu súng và cả ba người đàn ông đều bị thương, các quan chức cho biết.

Cơ quan An ninh Công cộng cho biết không có thành viên nào của lực lượng Jordan bị thương trong vụ đấu súng rạng sáng ở Karak, phía nam thủ đô Amman của Jordan.

Vụ tấn công hôm thứ Sáu tại Karak, nơi có cộng đồng thiểu số theo đạo Kitô sinh sống, đã nhắm vào nhà thờ Chính thống Hy Lạp trong một buổi lễ tang. Có ba người đàn ông được tường trình đã tham gia vào vụ tấn công.

Hiện chưa có tổ chức nào nhận trách nhiệm và chưa có nhóm vũ trang nào bị cáo buộc gây ra vụ tấn công.

Bộ trưởng Nội vụ Jordan, Mazen Al-Faraya, đã xác định ba người đàn ông này là những kẻ chịu trách nhiệm cho vụ tấn công.

"Lực lượng an ninh đã hoàn thành nhiệm vụ của mình, dẫn đến việc bắt giữ những kẻ thực hiện hành vi khủng bố này", ông nói trong cuộc phỏng vấn qua điện thoại với đài truyền hình nhà nước Al-Mamlaka. "Chúng đã chống cự quyết liệt với lực lượng an ninh, nhưng cuối cùng đã bị khống chế và bắt giữ, trong tình trạng bị thương nặng."

Ông nói thêm rằng "có ba cá nhân liên quan; họ đã được xác định ngay từ đầu sau vụ khủng bố, và các cơ quan an ninh đã sử dụng mọi biện pháp có thể để bắt giữ họ."

Vua Abdullah II đã ra lệnh cho chính quyền phải đáp trả bằng "bàn tay sắt" đối với những kẻ mà ông gọi là những kẻ ngoài vòng pháp luật của đạo Hồi và bất cứ ai âm mưu phá hoại sự đoàn kết của người dân Jordan.

"Chúng tôi thề rằng bọn khủng bố sẽ không thoát khỏi sự trừng phạt, và sẽ không dung thứ cho bất kỳ kẻ nào cổ vũ những tư tưởng đen tối gây chia rẽ người dân Jordan", ông nói trong một tuyên bố hôm thứ Hai.

Người thân của các nạn nhân cho biết việc bắt giữ các nạn nhân đã mang lại cho họ phần nào sự an tâm.

"Mặc dù đây là một thảm kịch sâu sắc và to lớn, nhưng những gì xảy ra hôm nay đã phần nào xoa dịu nỗi đau của chúng tôi - và nỗi đau của người dân Jordan - không chỉ riêng chúng tôi, mà còn cả gia đình các liệt sĩ," Khaled al-Borqan, một người sống sót sau vụ tấn công và là họ hàng của ba người thiệt mạng, nói với Al-Mamlaka.

" Mặc dù buồn bã và đau đớn, nhưng tin tức này đã mang lại cho chúng tôi niềm vui", Fares Halaseh, chú của một trong những nạn nhân và là người sống sót sau vụ tấn công, nói với đài truyền hình.

Nhưng nỗi đau vẫn còn đó, ông nói thêm. "Chúng tôi sẽ không quên nỗi đau đớn này trong nhiều năm tới."


Source:CRUXNOW



2. Tại sao chúng ta sợ chết, phân tích của Đức Bênêđíctô thứ 16

Nhân tháng các linh hồn, chúng tôi xin giới thiệu với quý vị và anh chị em một phân tích rất sâu sắc của Đức Thánh Cha Bênêđíctô thứ 16 nhân ngày lễ các đẳng linh hồn 2 tháng 11, 2011.

Trong bài huấn dụ tại Đại Thính Đường Phaolô Đệ Lục, ngài đã gợi lên vài tư tưởng liên quan tới cái chết và cuộc sống mai sau. Ngài phân tích những lý do chúng ta sợ chết và nhấn mạnh rằng đối với các tín hữu Kitô cái chết phải được soi sáng bởi sự phục sinh của Chúa Kitô, và ngày lễ kính các đẳng linh hồn phải là dịp để họ canh tân niềm tin nơi cuộc sống vĩnh cửu.

Đức Bênêđíctô thứ 16 nói:

Trong thế giới bị tục hóa của chúng ta, đức tin dường như khó lý giải được. Chúng ta đối diện với một chủ nghĩa vô thần "thực tiễn". Đó là một xu hướng nghĩ và sống như thể Thiên Chúa không hề hiện hữu. Tuy nhiên, một khi chúng ta loại bỏ Thiên Chúa khỏi cuộc sống của mình, chúng ta bị giản lược lại vì nhân phẩm cao nhất của chúng ta hệ tại nơi việc được tạo thành bởi Thiên Chúa và được mời gọi sống hiệp thông với Ngài.

Trong tư cách là các tín hữu, chúng ta cần trao ra các lý do thật thuyết phục cho đức tin và niềm hy vọng của chúng ta. Chúng ta có thể tìm thấy những lý do như thế trong chính trật tự và vẻ đẹp của tự nhiên, là điều nói lên Đấng Tạo Hóa của nó; và trong lòng khao khát sự hiện diện đời đời, là điều chỉ tìm được sự thỏa mãn trong Chúa mà thôi; cũng như trong đức tin là điều soi sáng và chuyển hóa cuộc sống chúng ta qua sự kết hiệp hàng ngày với Thiên Chúa.

Ngài nói tiếp rằng:

Cái chết thường là một đề tài cấm kỵ trong xã hội của chúng ta, và người ta thường liên tục cố ý lấy khỏi tâm trí chúng ta ý tưởng về cái chết. Nhưng, cái chết liên quan tới từng người trong chúng ta, liên quan tới con người thuộc mọi thời đại và mọi nơi chốn. Chính trước mầu nhiệm ấy chúng ta tất cả tìm kiếm một cái gì đó mời gọi chúng ta hy vọng, cả khi một cách vô thức, một dấu hiệu trao ban ủi an cho chúng ta, mở ra mở một chân trời nào đó, cống hiến một tương lai nào đó. Thật ra, con đường của cái chết là một con đường của niềm hy vọng, và bước đi trong các nghĩa trang cũng như đọc những gì viết trên các nấm mồ là bước đi trên một con đường được ghi dấu bởi niềm hy vọng của sự vĩnh cửu. Thế nhưng tại sao chúng ta lại cảm thấy sợ hãi trước cái chết?

Có nhiều câu trả lời: chúng ta sợ hãi trước cái chết, bởi vì chúng ta sợ hãi sự hư vô, sợ hãi cuộc ra đi về một cái gì mà chúng ta không hiểu và không quen hiết. Và khi đó trong chúng ta có ý thức khước từ, bởi vì chúng ta không thể chấp nhận rằng những gì là xinh đẹp và cao cả đã được thực hiện trong toàn cuộc sống bất thình lình bị xóa bỏ và rơi vào vực thẳm hư không. Nhất là chúng ta cảm thấy rằng tình yêu nhắc tới và đòi hỏi sự vĩnh cửu, và chúng ta không thể chấp nhận rằng nó bị hủy diệt bởi cái chết trong một chốc lát.

Ngày nay bề ngoài, xem ra thế giới đã trở thành lý sự hơn, hay đúng hơn có khuynh hướng phổ biến cho rằng mọi thực tại đều phải được soi sáng dưới các tiêu chuẩn của khoa học thực nghiệm; và kể cả cái chết cũng phải được soi sáng không phải bằng đức tin nhưng từ các hiểu biết thực nghiệm.

Anh chị thân mến, lễ Các Thánh và lễ Tưởng niệm mọi tín hữu đã qua đời nói với chúng ta rằng chỉ có những ai thừa nhận một niềm hy vọng lớn lao trong cái chết, mới có thể sống một cuộc sống bắt đầu bằng sự hy vọng. Nếu chúng ta chỉ giản lược con người vào chiều kích hàng ngang, vào điều chúng ta có thể trực giác được một cách cảm nghiệm, thì chính cuộc sống sẽ mất đi ý nghĩa sâu xa của nó. Con người cần sự vĩnh cửu, và mỗi một niềm hy vọng khác đối với nó đều qúa ngắn ngủi, đều qúa hạn hẹp... Chỉ có thể giải thích được con người, nếu có một Tình Yêu vượt ngoài mọi sự cô đơn, kể cả sự cô đơn của cái chết, trong một sự toàn vẹn vượt ngoài không gian và thời gian. Con người chỉ có thể giải thích được và tìm thấy ý nghĩa sâu thẳm của nó, nếu có Thiên Chúa. Và chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã ra khỏi sự xa cách của Người để đến gần chúng ta; Người đã bước vào cuộc sống chúng ta và nói với chúng ta rằng: "Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin nơi Ta cả khi chết cũng sẽ sống; ai sống và tin nơi Ta sẽ không phải chết đời đời" (Ga 11,25-26).

Chúng ta hãy nghĩ tới cảnh trên Núi Sọ và nghe lại các lời Chúa Giêsu, từ trên Thập Giá, nói với người tội phạm bị đóng đanh bên phải Người: "Tôi bảo thật anh: hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng" (Lc 23,43). Chúng ta hãy nghĩ tới các môn đệ trên đường về làng Emmaus, sau khi đi một đoạn đường dài với Chúa Giêsu phục sinh, họ nhận ra Người và mau mắn trở về Giêrusalem để loan báo sự Phục Sinh của Chúa (x. Lc 24,13-35). Trong tâm trí họ vang vọng rõ ràng lời của Thầy: "Các con đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ; nếu không Thầy đã không bao giờ nói với các con: "Thầy đi dọn chỗ cho các con" (Ga 14,1-2).

Thiên Chúa đã thực sự tỏ hiện ra và có thể đạt tới được; Người đã yêu thương thế gian "đến độ ban Con Một mình, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời" (Ga 3,16). Và trong cử chỉ tuyệt đỉnh của tình yêu của Thập Giá, bằng cách dìm mình trong vực thẳm của sự chết, Người đã thắng cái chết và sống lại Người cũng đã mở cho chúng ta cánh cửa của sự vĩnh cửu. Chúa Kitô nâng đỡ chúng ta vượt qua đêm đen của cái chết mà chính Người đã đi qua; Người là Mục Tử, và chúng ta có thể tin cậy nơi sự dẫn dắt của Người mà không sợ hãi, bởi vì Người biết rõ đường đi, cả khi có phải qua tăm tối.

Mỗi Chúa Nhật khi đọc kinh Tin Kính, chúng ta tái khẳng định chân lý này. Và khi đến thăm các nghĩa trang để cầu nguyện cho những người đã chết với lòng yêu thương trìu mến, một lần nữa chúng ta được mời gọi can đảm mạnh mẽ canh tân niềm tin của chúng ta nơi cuộc sống vĩnh cửu, còn hơn thế nữa chúng ta được mời gọi sống với niềm hy vọng cao cả và làm chứng cho niềm hy vọng đó trước thế giới: đàng sau hiện tại không có sự hư vô. Và chính niềm tin nơi cuộc sống vĩnh cửu trao ban cho kitô hữu sự can đảm yêu thương trái đất này một cách mạnh mẽ hơn nữa, và làm việc để xây dựng một tương lai, và trao ban cho trái đất một niềm hy vọng chắc chắn, đích thật.



3. Cầu nguyện cho người chết là công việc thiêng liêng ngọt ngào nhất của lòng thương xót

Cha Roger J. Landry là một linh mục trong Phái bộ Quan sát viên Thường trực của Tòa Thánh tại Liên Hợp Quốc ở New York. Ngài nguyên là linh mục của Giáo phận Fall River, Massachusetts, và từng là cha chính xứ của Giáo xứ St. Bernadette ở Fall River, Massachusetts, và trước đó là chính xứ St. Anthony Padua ở New Bedford, Massachusetts. Hiện nay, ngài là giám đốc quốc gia của Hội Truyền giáo Giáo hoàng Hoa Kỳ

Sau khi tốt nghiệp cử nhân sinh học tại Đại học Harvard, ngài đã theo đuổi con đường tiến đến chức tư tế ở Maryland, Toronto và Rôma. Sau khi được Đức Cha Sean O'Malley, OFM Cap (nay là Hồng Y) truyền chức linh mục tại Giáo phận Fall River vào ngày 26 tháng 6 năm 1999, ngài trở lại Rôma để hoàn thành chương trình sau đại học về Thần học luân lý và đạo đức sinh học tại Viện Hôn nhân và Gia đình Gioan Phaolô II.

Cha Landry cũng là một nhà văn. Ngài viết cho nhiều tờ báo Công Giáo, bao gồm National Catholic Register và The Anchor, là tờ báo hàng tuần của Giáo phận Fall River, mà ngài là chủ nhiệm kiêm chủ bút từ năm 2005 đến 2012. Một trong những cuốn sách nổi tiếng của ngài là cuốn "Plan of Life: Habits to Help You Grow Closer to God" – "Kế hoạch cho cuộc sống: Những thói quen giúp bạn đến gần Chúa hơn" (Pauline Books and Media 2018).

Ngài vừa có bài viết nhan đề "Praying for the Dead: Sweetest of the Spiritual Works of Mercy", nghĩa là "Cầu nguyện cho người chết là công việc thiêng liêng ngọt ngào nhất của lòng thương xót"

Trong suốt tháng 11, người Công Giáo đặc biệt dành thời gian để thực hiện công việc thương xót thiêng liêng ngọt ngào nhất, đó là cầu nguyện cho những người thân yêu đã khuất.

Dĩ nhiên, chúng ta làm như vậy vào ngày 2 tháng 11, Lễ Tưởng Niệm Các Tín Hữu Đã Qua Đời hay còn được gọi vắn tắt là Lễ Các Đẳng Linh Hồn, năm nay may mắn rơi vào Chúa Nhật. Tuy nhiên, Giáo Hội tưởng nhớ những người thân yêu đã khuất của chúng ta không chỉ vào ngày này, mà còn cầu nguyện cho họ trong suốt cả năm — và đặc biệt sốt sắng vào tháng 11.

Chúng ta cầu nguyện cho người chết vì chúng ta biết trong đức tin ba sự thật: Thứ nhất, trái ngược với giả định phổ biến — và nguy hiểm — rằng mọi người chết đều tự động đến một "nơi tốt đẹp hơn", đức tin Công Giáo không tin rằng mọi người chết đều lên thiên đàng, đặc biệt là ngay lập tức; thứ hai, người chết có thể cần sự giúp đỡ của chúng ta; và thứ ba, lời cầu nguyện và sự hy sinh của chúng ta thực sự có thể giúp đỡ họ.

Về hai chân lý đầu tiên, Giáo hội dạy rằng để vào thiên đàng, người ta phải hoàn toàn gắn bó với Thiên Chúa và hoàn toàn tách biệt khỏi tội lỗi và mọi thứ không thuộc về Thiên Chúa. Sách Khải Huyền khẳng định: "Không có gì ô uế được vào thiên đàng" (21:27).

Nhiều người không sống và chết với sự thánh thiện tinh tuyền của cuộc sống, và do đó họ cần được thanh tẩy để bước vào Vương quốc, nơi Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự. Trạng thái mà người chết được thanh tẩy khỏi mọi tội lỗi và thế gian này theo truyền thống được Giáo hội gọi là "luyện ngục", bắt nguồn từ thuật ngữ La-tinh purgare, có nghĩa là "làm sạch".

Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô 16, trong thông điệp về niềm hy vọng Kitô giáo, đã khẳng định rằng "đại đa số" con người chết đi trong sự cần thiết được thanh tẩy như vậy và do đó phải vào luyện ngục. Với niềm hy vọng, chúng ta cầu nguyện cho họ, bởi vì trong đức tin, chúng ta tin rằng lời cầu nguyện của chúng ta thực sự có thể giúp họ trong quá trình thanh tẩy này.

Trong Sách Maccabêô quyển thứ hai, được viết khoảng 140 năm trước khi Chúa Kitô ra đời, chúng ta thấy rằng người Do Thái đã dâng lễ vật trong Đền thờ để cầu nguyện cho những người lính Do Thái đã tử trận, những người đã phản bội Chúa bằng cách mang dưới áo mình nhiều thần tượng khác nhau bắt được từ kẻ thù ngoại giáo của họ.

"Cầu nguyện cho người chết là một ý nghĩ thánh thiện và lành mạnh, để họ được giải thoát khỏi tội lỗi của mình". Tiếp nối truyền thống của những người Do Thái trung thành, Giáo hội cũng cầu nguyện cho mọi người được tẩy sạch khỏi tội nhẹ.

Chúng ta không bao giờ biết liệu những người thân yêu đã khuất của chúng ta có đang che giấu tội lỗi nào đó vì sợ hãi hay yếu đuối hay không, và chúng ta có thể làm một điều gì đó quý giá hơn nhiều cho họ so với những gì mà những người Maccabê thời xưa đã làm. Chúng ta có thể cầu nguyện cho họ trong Thánh lễ.

Sách Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo dạy chúng ta rằng: "Ngay từ đầu, Giáo hội đã tôn kính việc tưởng nhớ những người đã khuất và dâng lời cầu nguyện cho họ, đặc biệt là hy lễ Thánh Thể, để nhờ được thanh tẩy, họ có thể đạt được hạnh phúc được hưởng nhan Thiên Chúa" (1032).

Không có lời cầu nguyện nào cao cả hơn mà chúng ta có thể dâng cho người chết hơn là Thánh lễ, trong đó chúng ta kết hợp những lời cầu xin cá nhân của mình với hy lễ cứu độ của Chúa Kitô được dâng một lần và mãi mãi trong Bữa Tiệc Ly và trên thập giá.

"Truyền thống Giáo hội luôn thúc giục cầu nguyện cho người đã khuất, đặc biệt bằng cách cử hành bt2 Thánh Thể cho họ," Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói trong bài suy niệm Kinh Truyền Tin nhân Ngày Lễ Các Đẳng Linh Hồn năm 2014. "Đó là sự trợ giúp thiêng liêng tốt nhất mà chúng ta có thể dành cho linh hồn họ, đặc biệt là những linh hồn bị bỏ rơi nhất. Nền tảng của lời cầu nguyện cho các linh hồn nằm ở sự hiệp thông với Nhiệm Thể," và sự hiệp thông đó được diễn tả mạnh mẽ nhất trong Thánh Lễ.

Giáo hội đã tôn kính việc thực hành cầu nguyện cho người chết trong Thánh lễ qua nhiều thế kỷ. Trong các kinh nguyện Thánh Thể, chúng ta cầu bầu cho tất cả những người "đã ra đi trước chúng ta với dấu chỉ đức tin" (Kinh nguyện Thánh Thể I), "những người đã an nghỉ trong niềm hy vọng phục sinh và tất cả những người đã chết trong lòng thương xót của Chúa, (Kinh nguyện Thánh Thể II), "những người đẹp lòng Chúa khi họ qua đời" (Kinh nguyện Thánh Thể III), và cho "những người mà chỉ mình Chúa biếtlòng tin của họ" (Kinh nguyện Thánh Thể IV).

Đặc biệt, trong hơn một ngàn năm qua, người Công Giáo cũng đã yêu cầu các linh mục dâng lễ cầu cho linh hồn của những người đã khuất được an nghỉ vĩnh hằng.

Điều quan trọng là phải hiểu về mặt thần học những gì liên quan đến việc dâng hiến thực hành này. Bởi vì hy tế Thánh Lễ là sự tái hiện lời cầu nguyện cứu độ của Chúa Kitô từ Phòng Tiệc Ly và Đồi Canvê, chúng ta biết rằng hoa trái của nó mang lại lợi ích cho toàn thể Giáo hội trên toàn thế giới.

Cũng có những ân sủng đặc biệt dành cho những người hiện diện và tham dự Thánh lễ, trái ngược với những người không tham dự. Tuy nhiên, cũng có một hoa trái thừa tác hoặc cá nhân của Thánh lễ mà linh mục có thể tìm cách áp dụng cho một người hoặc một mục đích cụ thể, chẳng hạn như ý nguyện mà một tín hữu thành tâm cầu xin linh mục dâng Thánh lễ với ý nguyện đó.

Theo thông lệ, một tín hữu thường tự nguyện dâng một món quà cho linh mục cử hành Thánh lễ theo ý chỉ đó. Điều này thường được gọi là "tiền dâng lễ". Qua nhiều thế kỷ, lễ vật này được hiểu là một khoản bố thí dâng lên linh mục để cảm ơn vì ngài đã cam kết cầu nguyện cho ý chỉ cụ thể đó thay vì những ý chỉ khác. Thông thường, số tiền nhỏ — ngày nay ở Hoa Kỳ, thông thường là 10 đô la — đây thường là khoản thu nhập tài chính duy nhất mà một linh mục có thể nhận được để trang trải cuộc sống và chăm sóc người nghèo được giao phó cho ngài.

Ngày nay, tại nhiều giáo phận và vùng truyền giáo, đây vẫn là nguồn thu nhập duy nhất mà một linh mục nhận được, nếu ngài may mắn nhận được những khoản dâng cúng như vậy, thường là từ nước ngoài. Các giám mục tại các vùng truyền giáo thường phải đóng vai trò của những người hành khất, xin tiền lễ để hỗ trợ hàng giáo sĩ của mình từ các văn phòng quốc gia và giáo phận của Hội Truyền giáo Giáo hoàng hoặc Tổ chức Hỗ trợ Giáo hội Đau khổ, hoặc các cơ quan giáo hoàng toàn cầu đáng tin cậy khác.

Là giám đốc quốc gia của Hội Truyền giáo Giáo hoàng Hoa Kỳ, tôi nhận được vài email mỗi tuần từ các giám mục ở các vùng truyền giáo hỏi liệu tôi có thể gửi cho họ những lễ vật như vậy không. Do số lượng yêu cầu quá lớn, tôi thường gửi 500 hoặc 1.000 lễ mỗi lần, điều mà các giám mục rất biết ơn, nhưng khi họ có hàng trăm linh mục mà họ đang cố gắng chăm sóc, thì mỗi linh mục chỉ được vài lễ. Một giám mục Phi Châu nói với tôi rằng ngài có gần 800 linh mục giáo phận trong giáo phận truyền giáo rộng lớn của mình tại một trong những quốc gia nghèo nhất hành tinh. Tôi đã gửi cho ngài 5.000 lễ, nhưng điều đó có nghĩa là mỗi linh mục trong giáo phận của ngài chỉ nhận được số lễ vật đủ dùng trong một tuần.

Tôi nhớ đã nói chuyện với một vị Hồng Y ở vùng biên giới truyền giáo về việc các linh mục của ngài chỉ sống nhờ vào trợ cấp Thánh lễ. Ngài nói với tôi: "Thưa Đức Cha, tôi cũng vậy." Tôi hỏi: "Ngài sống bằng khoảng 3.650 đô la một năm à?" Ngài cười và nói: "Tôi được trợ cấp Thánh lễ bằng euro, nên gần 4.000 đô la. Nhưng phần lớn số tiền đó được dùng để chăm sóc một số gia đình nghèo ở thủ đô, để hỗ trợ giáo lý viên và nhân viên, cùng những khoản tương tự. Tôi cố gắng sống bằng khoảng 500 đến 600 đô la một năm."

Việc các linh mục, giám mục và Hồng Y có mặt tại các giáo xứ truyền giáo để cử hành Thánh lễ thường là một sự hỗ trợ to lớn cho các giáo xứ năng động ở Mỹ, nơi mà giáo xứ không có nhiều Thánh lễ Chúa Nhật và Thánh lễ thường ngày để đáp ứng nhu cầu của giáo dân xin dâng lễ cầu nguyện cho người thân đã khuất, và thời gian chờ đợi Thánh lễ được thông báo thường có thể kéo dài cả năm hoặc hơn. Do đó, các cha xứ, giám mục và nhiều tín hữu hướng về các giáo xứ truyền giáo, ý thức rằng Thánh lễ cũng có giá trị không kém đối với người thân của họ khi được cử hành bởi một linh mục tại một cứ điểm truyền giáo trong rừng rậm.

Giáo dân có thể yêu cầu các Thánh lễ (tại PontificalMissions.org) được cử hành trực tiếp bởi các linh mục truyền giáo, có thể là Thánh lễ riêng, hoặc tuần cửu nhật, hoặc thậm chí là Thánh lễ Grêgôriô, đây là một truyền thống có từ thời Đức Giáo Hoàng Thánh Grêgôriô Cả, người đã sắp xếp để cử hành Thánh lễ trong 30 ngày liên tiếp cho một tu sĩ đã qua đời, tên là Justus, từ tu viện mà Grêgôriô đã thành lập ở Rôma. Justus bị phát hiện sau khi chết là đã phạm tội đáng xấu hổ chống lại luật nghèo khó. Vào cuối 30 Thánh lễ liên tiếp hàng ngày, Justus đã hiện ra trong giấc mơ với một tu sĩ bạn, thông báo rằng ông đã được thương xót thanh tẩy tội lỗi của mình và đã bước vào niềm vui vĩnh cửu với Chúa. Thực tế là các linh mục giáo xứ ở Hoa Kỳ không thể cử hành các Thánh lễ Grêgôriô như vậy trong 30 ngày liên tiếp, nhưng các linh mục trong các phái bộ truyền giáo có thể và rất biết ơn khi được nhận chúng.

Tháng này, khi Giáo hội tập trung nhiều hơn vào việc cầu nguyện cho những người thân yêu đã khuất, đây là cơ hội để tiếp tục tập trung vào Tháng Truyền giáo Thế giới và với tinh thần đoàn kết, kêu gọi sự giúp đỡ của các linh mục đang làm việc chăm chỉ tại các vùng truyền giáo để hỗ trợ các hành động tận tụy và chăm sóc liên tục cho những người thân yêu của chúng ta sau khi qua đời.


Source:National Catholic Register



4. Hướng dẫn thực hành để nhận được Ơn Toàn Xá trong tháng các linh hồn

Trong tháng 11, Giáo Hội rộng ban các Ơn Toàn Xá cho chúng ta để nhường cho các linh hồn. Đây là thời thuận tiện để chúng ta giúp các bậc cha mẹ, ông bà, thân bằng quyến thuộc đã ra đi trước chúng ta. Xin anh chị em bớt chút thời gian làm các việc đạo đức sau để nhận được Ơn Toàn Xá nhường cho các linh hồn, theo chỉ dẫn của Tòa Ân Giải Tối Cao.

Đầu tiên, Tòa Ân Giải Tối Cao nhắc lại các điều kiện luật định để được ơn toàn xá là xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý Đức Thánh Cha và từ bỏ mọi quyến luyến đối với tội lỗi. Bước đầu tiên, và quan trọng nhất, là quý vị và anh chị em phải dốc lòng từ bỏ mọi quyến luyến đối với tội lỗi. Ngay khi có thể, xin đi xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý Đức Thánh Cha. Việc đi xưng tội chỉ cần làm một lần, miễn là, chúng ta từ bỏ mọi quyến luyến đối với tội lỗi, không phạm bất cứ tội nào, dù là tội nhẹ. Nhưng việc rước lễ và cầu nguyện theo ý Đức Thánh Cha phải được thực hiện mỗi lần chúng ta muốn nhận được Ơn Toàn Xá, trừ khi có những ngăn trở chính đáng.

Bước thứ hai, là anh chị em làm một trong các phương cách sau:

Cách thứ nhất:

Sách Cẩm nang Ơn Xá quy định anh chị em viếng nghĩa trang từ ngày 1 đến ngày 8 tháng 11. Tuy nhiên, ở một số địa phương có thể có những quy định tránh tập trung đông người, trong các trường hợp như thế, Tòa Ân Giải Tối Cao cho phép viếng nghĩa trang trong suốt tháng 11.

Cách thứ hai:

Viếng nhà thờ, hay nhà nguyện cũng được trong ngày lễ các linh hồn, hay trong ngày lễ các Thánh, và đọc một Kinh Lạy Cha và một Kinh Tin Kính. Nếu vì những ngăn trở chính đáng không thể viếng nhà thờ hay nhà nguyện trong 2 ngày nêu trên thì có thể viếng bất cứ ngày nào trong tháng 11.

Cách thứ ba:

Những người già, người bệnh và tất cả những người vì lý do nghiêm trọng không thể rời khỏi nhà mình, hay do những hạn chế được áp đặt bởi các cơ quan có thẩm quyền nhằm tránh việc tụ tập đông đảo các tín hữu ở những nơi linh thiêng, anh chị em vẫn nhận được Ơn Toàn Xá nếu hiệp nhất về mặt tinh thần với tất cả các tín hữu khác. Cụ thể, anh chị em cầu nguyện trước tượng ảnh Chúa Giêsu, Đức Trinh Nữ Maria, đọc những kinh nguyện sốt sắng dành cho người chết, ví dụ như Kinh Sáng và Kinh Chiều từ Sách Thần Vụ dành cho người quá cố, hay lần Chuỗi Mân Côi, hay đọc Kinh Lòng Chúa Thương Xót, hay những kinh nguyện khác cho những người đã qua đời, hay dành thời gian để suy gẫm một trong những đoạn Phúc âm được đề nghị trong Phụng vụ dành Người Quá Cố, hoặc thực hiện công việc của lòng thương xót, dâng lên Chúa những nỗi đau và những khó khăn của cuộc đời mình.


Source:Catholic World News