Chương 17: GIÁO HOÀNG VƯỢT QUA ĐẠI LY GIÁO VÀ ĐẢO NGƯỢC THUYẾT DUY CÔNG ĐỒNG



Vụ tai tiếng về việc Giáo hoàng vắng mặt khỏi Rô-ma suốt bảy mươi năm đã dẫn đến thảm họa kinh hoàng của Đại Ly giáo kéo dài bốn mươi năm, khi hai và cuối cùng là ba Giáo hoàng tranh giành quyền kiểm soát Giáo hội. Để giải quyết cuộc khủng hoảng này, một học thuyết thần học chống Giáo hoàng về quản trị Giáo hội—thuyết duy công đồng [conciliarism]—đã được đưa ra. Nó khẳng định quyền tối cao của một công đồng so với một Giáo hoàng và cung cấp cho Công đồng Constance một lối thoát khỏi sự ly giáo. Nhưng trong hoàn cảnh đó, hệ thống công đồng của trật tự Giáo hội đã tỏ ra không khả thi, và các Giáo hoàng đã có thể tái lập quyền tối cao của các ngài đối với các công đồng. Nhưng các ngài không thể giành lại thẩm quyền đạo đức và tinh thần của mình.

Một nhân tố quan trọng trong nguồn gốc của Đại Ly giáo là vai trò của người dân Rô-ma. Trong suốt lịch sử các đời giáo hoàng ở thành phố này, hành vi của người Rô-ma tuân theo một khuôn mẫu kỳ lạ: Họ cực kỳ hay thay đổi, khó đoán, ghiền những tranh chấp nhỏ nhặt, ít có đức tin hay lòng mộ đạo, ngang bướng, và vị thế Rô-ma như trung tâm của Giáo hội toàn cầu, họ có tư tưởng hẹp hòi một cách kỳ lạ. Các Giáo hoàng không bao giờ có thể trông cậy vào lòng trung thành của họ lâu dài; họ sẽ nổi loạn vì những lý do nhỏ nhặt nhất và đuổi người cai trị của mình đi, chỉ để hối hận vào ngày hôm sau và cầu xin ngài trở lại. Ít cảnh tượng nào đặc trưng và nghịch lý hơn trong lịch sử thời Trung cổ hơn cảnh tượng vị Giáo hoàng cai trị thế giới vội vã chạy trốn khỏi thủ đô của mình với một đám đông phỉ báng theo sau, một đám đông mà ngay sau đó sẽ thành kính cầu xin ngài trở lại; bởi vì khi vắng mặt ngài, họ sẽ nhanh chóng nhận ra rằng họ đã mất đi nguồn thu nhập chính, điểm thu hút du lịch hàng đầu đối với lượng lớn khách hành hương đổ về Thành phố Vĩnh cửu, lấp đầy kho bạc của thành phố bằng tiền xu của họ.

Vì vậy, người ta có thể hình dung được sự hoang mang tột độ của dân chúng Rô-ma trước cái chết của Đức Grê-go-ri-ô XI: Điều đó có nghĩa là một lần nữa họ có nguy cơ rất cao mất đi vị Giáo hoàng. Xét đến sự chiếm ưu thế của người Pháp trong Hồng Y đoàn, một Giáo hoàng người Pháp hoàn toàn có thể được bầu chọn, người này sẽ một lần nữa đưa Giáo hoàng trở lại Avignon. Sự hoang mang nhanh chóng nhường chỗ cho sự hoảng loạn khi mười sáu Hồng Y tập hợp vào ngày 7 tháng 4 năm 1378. Một số người trong số họ bị hành hung trên đường phố và bị những kẻ côn đồ cảnh báo phải bầu một người Ý. Một đám đông hỗn loạn gây ra tiếng ồn ào lớn trong khi các Hồng Y cố gắng thảo luận trong mật nghị. Người bảo vệ mật nghị nói với họ: "Các ngài có nguy cơ bị xé xác nếu không nhanh chóng bầu một người Ý hoặc một người Rô-ma."

Các Hồng Y nhanh chóng bầu một người Ý, tổng giám mục Bari, Bartholomew Prignano, người thậm chí không phải là một trong số họ. Trong khi đó, một đám đông hung hăng đã chiếm giữ hầm rượu của Giáo hoàng và xâm chiếm Vatican; trong khi chờ Prignano đến, các Hồng Y đã mặc cho một trong những đồng nghiệp của họ—Tebaldeschi—người già yếu, bộ lễ phục giáo hoàng để xoa dịu đám đông.

Liệu các Hồng Y có thực sự bị nỗi sợ hãi chế ngự và do đó không được tự do khi bầu chọn Prignano—như người ta cáo buộc sau này—dường như sẽ mãi mãi là một trong những câu hỏi hóc búa nhưng không thể giải đáp trong lịch sử Giáo hội. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng ban đầu họ đã bày tỏ lòng kính trọng và phục tùng đối với vị Giáo hoàng mới và trong thư từ trao đổi vào thời điểm đó, họ nói rằng đã “tự do và nhất trí” bầu chọn ngài làm Giáo hoàng.

Với tư cách là phó chưởng ấn Tòa Giám mục, Prignano được các Hồng Y biết đến rộng rãi và được đánh giá cao về tính cách đáng tin cậy. Do đó, họ đã vô cùng kinh ngạc, nói một cách nhẹ nhàng, khi vị Giáo hoàng mới Ur-ba-nô VI đột nhiên thể hiện mình là một bạo chúa tồi tệ nhất. Nắm bắt mọi cơ hội, ngài công khai và riêng tư quở trách họ—thường trong những cơn thịnh nộ—vì những thói hư tật xấu, sự phản bội, sự xa hoa và nạn mua thần bán thánh của họ. Sự thay đổi tính cách quá triệt để đến nỗi cả những người đương thời lẫn các nhà sử học sau này đều cho rằng Đức Giáo Hoàng Ur-ba-nô có thể đã bị rối loạn tâm thần do việc đắc cử đột ngột và bất ngờ, hoặc có lẽ do bệnh tật. Hành vi của ngài đã gây ra một thảm họa khủng khiếp cho Giáo hội—Đại Ly giáo—được đặt tên như vậy một cách chính đáng vì thời gian và phạm vi đặc biệt của nó. Xảy ra sau những bất hạnh trước đó ảnh hưởng đến giáo hoàng, nó đã đẩy chức vụ giáo hoàng xuống vực sâu của sự suy thoái và làm mất uy tín của nó hơn bất cứ sự kiện nào khác.

Cuộc ly giáo bắt đầu khi các Hồng Y—những người có những nghi ngờ ban đầu đã bị trầm trọng thêm bởi hành vi của Đức Ur-ba-nô—quyết định rằng họ đã chịu đựng đủ. Rời bỏ Rô-ma, họ tìm nơi ẩn náu tại Fondi, và sau đó—tổng cộng mười ba người—đã soạn thảo một thông điệp giáo hoàng, trong đó họ tuyên bố việc bầu chọn Prignano là không hợp lệ và tố cáo ngài là kẻ chống Chúa Kitô, ma quỷ, kẻ bội giáo và bạo chúa. Vị lãnh chúa thế tục đầu tiên gia nhập cùng họ là Nữ hoàng Joan của Naples. Số lượng của họ cũng tăng lên nhờ ba Hồng Y người Ý sớm gia nhập. Vào ngày 20 tháng 9, những người bất đồng chính kiến đã nhất trí bầu ra một vị Giáo hoàng mới, Robert của Geneva, người lấy tên là Clê-men-tê VII.

Chính trị, như người ta có thể dự đoán, đã đóng một vai trò lớn. Cả hai vị Giáo hoàng đều nhận được sự ủng hộ của các chính phủ dân sự - từng chia rẽ Kitô giáo phương Tây thành hai phe. Hoàng đế Rô-ma Thần thánh, Anh, Hoà Lan, Castille, Hung Gia Lợi, Ba Lan và Bồ Đào Nha Đào Nha đứng về phía Giáo hoàng Ur-ba-nô, trong khi Pháp ủng hộ Clê-men-tê VII, người trở lại Avignon năm 1379 và nhanh chóng được Tô Cách Lan, Lục Xâm Bảo và Áo tham gia. Những nước khác, như Aragon, tuyên bố trung lập, ít nhất là trong một thời gian, trong khi chính nước Ý lại quá hỗn loạn để cả hai phe có thể trông cậy. Ban đầu, cả hai bên đều kêu gọi giải quyết bằng vũ lực: Ur-ba-nô tuyên bố một cuộc thập tự chinh chống lại Clê-men-tê và thuê Charles xứ Durazzo tàn bạo để lật đổ Nữ hoàng Joan phản bội khỏi Naples. Người Anh xâm lược Pháp để phá vỡ lòng trung thành của nước này với Clê-men-tê.

Cả hai Giáo hoàng đều nhận thấy các hoạt động quân sự rất tốn kém, và những người thu thuế của Giáo hoàng buộc phải sử dụng những phương pháp ngày càng khắc nghiệt hơn để vắt kiệt từng đồng xu từ người dân - khiến sự nổi tiếng của Giáo hoàng xuống mức thấp kỷ lục. Ur-ba-nô trở nên bạo lực và tàn nhẫn hơn. Nghi ngờ các Hồng Y của mình âm mưu chống lại mình, ông đã tra tấn họ, và năm người trong số họ đã chết ngay sau đó, có lẽ bị ném xuống biển từ chiến hạm của Giáo hoàng. Sau khi đi khắp nước Ý cùng với quân đội của mình, Giáo hoàng Ur-ba-nô VI trở về Rô-ma, nơi ông qua đời vào năm 1389. Mười bốn Hồng Y của ông ngay lập tức bầu ra người kế vị, người này lấy tên là Bô-ni-fa-si-ô IX. Ngài tuyên bố năm thánh vào năm 1390, và đám đông đổ xô đến để nhận được ơn toàn xá.

Sự rạn nứt trong sự hiệp nhất của Giáo hội này là một thử thách khủng khiếp đối với những người Công Giáo tin kính—và tất cả những tâm hồn mộ đạo yêu mến Giáo hội đều bị lung lay tận gốc rễ khi thấy Giáo hoàng trở thành đối tượng bị chế giễu. Các thánh nhân, trí thức và giám mục ở cả hai phía, nhận ra rằng việc dùng đến vũ khí là một con đường sai lầm, đã đưa ra một số giải pháp thay thế: hòa giải, một công đồng chung, hoặc cả hai Giáo hoàng từ chức. Ý tưởng cuối cùng này là giải pháp được ủng hộ tại Đại học Paris, nơi thu được mười nghìn phản hồi trong một cuộc thăm dò ý kiến của sinh viên nói chung.

Trong một thời gian, việc từ chức dường như mang lại cơ hội tốt nhất để chấm dứt sự ly giáo. Hy vọng được nhen nhóm khi Giáo hoàng Avignon, Clê-men-tê VII, qua đời năm 1394, và mỗi ứng cử viên kế vị ông đều tuyên thệ rằng nếu được bầu, họ sẽ từ chức. Nhưng người được bầu, Bê-nê-đic-tô XIII, một vị giáo sĩ đáng gờm với sự kiên cường và xảo quyệt đáng kinh ngạc, đã sớm cho thấy rằng ông không có ý định giữ lời thề trước khi bầu cử. Trong sự phẫn nộ, nước Pháp cuối cùng đã chính thức rút lại sự phục tùng vào năm 1398, và một cuộc đấu tay đôi kéo dài bắt đầu giữa Giáo hoàng ở Avignon và phần còn lại của nước Pháp. Nhà vua, các Hồng Y và giám mục đã cố gắng bằng mọi cách để thay đổi ý định của Bê-nê-đic-tô—họ thậm chí còn bao vây cung điện của ông—nhưng tất cả đều vô ích. Đối thủ bất khuất và xảo quyệt của họ đã cố thủ sau những bức tường thành ở Avignon—thậm chí còn từ chối cạo râu chừng nào cuộc bao vây còn kéo dài—và sau năm năm, ông đã nếm trải vị ngọt của chiến thắng: nước Pháp hoàn toàn đầu hàng và trở lại phục tùng ông.

Niềm hy vọng lại được nhen nhóm vào năm 1406 với việc bầu chọn một vị Giáo hoàng Rô-ma mới, Grê-go-ri-ô XII, một giáo sĩ mộ đạo và khắc khổ, người dường như tận tâm khôi phục sự thống nhất của Giáo hội và đã thề sẽ từ chức nếu đối thủ của ông ở Avignon cũng làm như vậy. Về phần mình, Bê-nê-đic-tô phải đối diện với một động thái khác của hàng giáo sĩ nhằm từ chối phục tùng và nhận ra rằng ông không còn tỏ ra ít mong muốn tái hiệp nhất hơn đối thủ của mình nữa.

Vì vậy, cuối cùng các cuộc đàm phán thực tế dường như sắp bắt đầu: Cả hai Giáo hoàng đồng ý gặp nhau để thảo luận về việc từ chức chung của họ. Nhưng rồi sự thiếu chân thành của cả hai người đã lộ ra. Grê-go-ri-ô bịa ra một số lý do yếu ớt để không thể đến thị trấn được chọn làm địa điểm gặp mặt: Savona, phía tây Genoa, gần biên giới Pháp và Ý. Trong khi đó, Bê-nê-đic-tô bí mật chuẩn bị một cuộc viễn chinh quân sự chống lại Rô-ma. Sau đó, Bê-nê-đic-tô đồng ý đi về phía đông đến Porto Venere, trong khi Grê-go-ri-ô di chuyển từ Siena đến Lucca—chỉ cách một ngày đi bộ từ điểm hẹn mà Bê-nê-đic-tô chấp nhận được. Nhưng hai người vẫn không thể đến gần nhau hơn.

Cuối cùng, trong tuyệt vọng vì không thể chứng kiến bất cứ Giáo hoàng nào từ chức, các Hồng Y ở cả hai phía quyết định rằng một công đồng sẽ là giải pháp duy nhất. Ý tưởng về một giải pháp công đồng cho sự ly giáo lần đầu tiên được nêu ra vào năm 1380 và kể từ đó đã được các nhà thần học lỗi lạc ở Paris như d’Ailly và Gerson tiếp nhận. Lý thuyết chung mà nó bao hàm được gọi là thuyết duy công đồng, và nguyên tắc cơ bản của nó là trong trường hợp cần thiết khẩn cấp, một công đồng có thể được triệu tập mà không cần sự đồng ý của Giáo hoàng hoặc thậm chí trái với ý muốn của ngài, và các sắc lệnh của nó sẽ có hiệu lực mà không cần sự đồng ý của Giáo hoàng. Học thuyết về quyền tối cao của công đồng này, vốn đã gây xáo trộn trong Giáo hội trong ba mươi năm tiếp theo, là một cuộc cách mạng; quyền tối cao của Giáo hoàng đối với một công đồng có sức nặng to lớn của truyền thống đằng sau nó. Nhưng những bộ óc xuất sắc nhất của châu Âu đều đồng ý rằng đó là câu trả lời duy nhất—ngay cả khi Luật Giáo hội về đặc quyền của Giáo hoàng phải bị hy sinh.

Vì vậy, theo yêu cầu của các Hồng Y thuộc cả hai phe, một phiên họp lớn gồm các giáo sĩ đã tập hợp tại Pisa vào ngày 25 tháng 3 năm 1409, bao gồm hầu hết các chức sắc của Giáo hội. Một số viên chức thậm chí còn xuất hiện trên bậc thềm nhà thờ và diễn lại nghi lễ triệu tập các Giáo hoàng vắng mặt trở lại. Sau một khoảng dừng ngắn, các Giáo hoàng bị tuyên bố là ngang bướng và ly giáo, những kẻ dị giáo khét tiếng, phạm tội làm ô nhục Giáo hội toàn cầu và do đó bị phế truất. Dân chúng phản ứng với niềm vui sướng tột độ và đốt hình nộm các Giáo hoàng cũ. Một Giáo hoàng mới được bầu chọn: Peter Philargi, Hồng Y của Milan, một người Venice 70 tuổi với danh tiếng xuất sắc trong vai trò nhà thần học, luật gia và nhà ngoại giao. Ngài lấy tên là A-léc-xan-đơ V.

Phép lạ này đến quá sớm. Do vội vàng bầu chọn Giáo hoàng, các Hồng Y chỉ làm trầm trọng thêm căn bệnh, vì các Giáo hoàng khác vẫn còn nhận được sự trung thành của phần lớn Giáo hội. Hơn nữa, Công đồng Pisa không làm gì để cải cách Giáo hội ngoại trừ việc lập ra một danh sách các khiếu nại lên án những lạm dụng phổ biến: việc thường xuyên luân chuyển các giám mục từ giáo phận này sang giáo phận khác, sự xa hoa của hệ thống thuế của Giáo hoàng, và xu hướng của tòa án giáo hoàng xâm phạm quyền tài phán của các cấp dưới.

Vị Giáo hoàng mới, A-léc-xan-đơ V, thậm chí còn chưa kịp đến giáo phận Rô-ma của mình trước khi qua đời tại Bologna vào ngày 3 tháng 5 năm 1410. Người kế nhiệm ngài, người lấy tên là Gio-an XXIII, là một sự lựa chọn kỳ lạ: Baldassare Cossa, người đã tạo dựng danh tiếng của mình như một kiểu nhà chinh phục giáo hội trong các cuộc chiến tranh của Đại Ly giáo và là người đã đi đầu trong việc triệu tập Công đồng Pisa, nhưng theo nhiều báo cáo, có lẽ là vu khống vào thời đó, ông là một người thiếu đạo đức và tinh thần. Dù sao đi nữa, Gio-an đã tiến vào Rô-ma sau một đội quân vào ngày 12 tháng 4 năm 1411, và một trong những hành động đầu tiên của ông là triệu tập một công đồng họp tại Rô-ma. Theo một biên niên sử thời đó, một con cú mèo đậu trên đầu Gio-an khi ông đọc lời cầu nguyện “Xin Chúa Thánh Thần đến”, và người ta kể rằng ông đã lẩm bẩm, “một hình dạng kỳ lạ cho Chúa Thánh Thần!” Dù sao đi nữa, công đồng đã phải tạm dừng vì thiếu người tham dự. Hơn nữa, những thủ đoạn tài chính bất chính và sự thiên vị trắng trợn của Gio-an đã khiến nhiều người ủng hộ ông xa lánh. Chẳng mấy chốc, rõ ràng là nếu muốn khôi phục sự thống nhất cho Kitô giáo, Gio-an không phải là người thích hợp.

Nhưng rồi một nhân vật mới xuất hiện: Sigismund của Lục-xâm-bảo, người vừa được bầu làm Hoàng đế Rô-ma Thần thánh và hết lòng cống hiến cho sự thống nhất của cả Giáo hội và châu Âu. Sau một vài lần thuyết phục, ông đã thuyết phục được Gio-an đồng ý với sắc lệnh của mình kêu gọi tổ chức một công đồng hoàn cầu của Giáo hội vào ngày 1 tháng 11 năm 1414, tại Constance – một thành phố hoàng gia được chọn vì vị trí địa lý và khí hậu trong lành.

Và thế là, vào ngày 28 tháng 10 năm 1414, Giáo hoàng Gio-an XXIII—với linh cảm định mệnh thuyết—đã tiến vào thành Constance trên một con ngựa trắng, mặc lễ phục phụng vụ dưới một tán che vàng, theo sau là các Hồng Y của ông giữa những tiếng hô vang của một đám đông hân hoan. Một đám đông khổng lồ các giáo sĩ từ khắp châu Âu đã tràn ngập các đường phố, và theo một biên niên sử, người ta phải tìm khoảng ba mươi sáu nghìn giường cho khách đến thăm, với hai người một giường. Một lần nữa, như ở Pisa, hầu như toàn bộ Thế giới Kitô giáo phương Tây đều có đại diện, bao gồm năm thượng phụ, hai mươi chín Hồng Y, ba mươi ba tổng giám mục, hơn năm trăm giám mục, một trăm viện phụ, ba trăm tiến sĩ khoa học thánh và mười tám nghìn giáo sĩ khác.

Trong bài diễn văn khai mạc, Gio-an đã xác định mục tiêu của công đồng là sự thống nhất và cải cách. Nhưng chỉ đến khi Sigismund đến vào ngày 24 tháng 12 thì công việc nghiêm túc mới có thể bắt đầu. Hội nghị được chia thành hai phe bảo thủ và tự do. Nhóm thứ hai bao gồm những nhà cải cách tự do do Gerson và d’Ailly dẫn đầu, những người được đánh giá cao vì các tác phẩm ủng hộ thuyết duy công đồng.

Vấn đề đầu tiên mà các nghị phụ phải đối diện là vấn đề trọng đại do chính Gio-an đặt ra. Những người theo tuyết tự do đồng ý rằng trước tiên phải loại bỏ ông ta nếu muốn khôi phục sự thống nhất. Sau đó, cả ba Giáo hoàng sẽ được thuyết phục, và nếu cần thiết sẽ bị ép buộc, phải từ chức. Nhưng mục tiêu này khó có thể đạt được bằng phương pháp bỏ phiếu truyền thống, vốn chỉ cho phép mỗi giám mục một phiếu. Gio-an đã cố tình sắp xếp hàng ngũ giám mục với những người ủng hộ mình, và ông ta kiểm soát một khối phiếu lớn, chủ yếu là người Ý. Do đó, một sự thay đổi triệt để trong phương pháp bỏ phiếu là điều bắt buộc. Ý tưởng bỏ phiếu theo quốc gia đã được đề xuất, với những người như Hồng Y d’Ailly, Philastre và Robert Hallam dẫn đầu cuộc thảo luận. Với sự ủng hộ của Sigismund, người ta quyết định rằng công đồng nên được tổ chức theo quốc gia và bỏ phiếu theo đó. Ngoài ra, trong làn sóng nhiệt tình dân chủ chung, quyền bỏ phiếu đã được mở rộng cho các tiến sĩ thần học và luật học, và thậm chí cả một số giáo dân. Do đó, các vấn đề trước tiên sẽ được xem xét và bỏ phiếu tại các phiên họp riêng của mỗi quốc gia (cuối cùng có năm quốc gia được công nhận: Ý, Pháp, Đức, Anh và Tây Ban Nha), và sau khi đạt được thỏa thuận tại các phiên họp, mỗi quốc gia, hoạt động như một đơn vị, sẽ bỏ một phiếu bầu duy nhất của mình.

Gio-an thấy mình đã bị đánh bại, và ban đầu, dường như ông đã quyết định chấp nhận điều không thể tránh khỏi. Vào ngày 1 tháng 3 năm 1415, ông đích thân đọc trước công đồng lời hứa long trọng của mình sẽ thoái vị bất cứ khi nào hai vị Giáo hoàng kia làm như vậy. Vì người ta cảm thấy họ sẽ sớm làm theo, hành động của Gio-an đã được đón nhận với niềm hân hoan; Sigismund quỳ xuống và hôn chân Giáo hoàng, trong khi tiếng chuông nhà thờ Constance vang vọng niềm vui chung. Nhưng một lần nữa, sự lừa dối cay đắng lại chờ đợi. Vào ngày 20 tháng 3, dưới màn đêm, Gio-an, cải trang thành một người hầu, đã trốn thoát khỏi Constance, theo sau là một số lượng đáng kể các chức sắc công đồng trong đoàn tùy tùng của ông, và tìm nơi ẩn náu với người bảo hộ của mình, Công tước Áo. Một sự náo động lớn đã nổ ra trong thành phố khi tin tức lan truyền; Một đám đông đã cướp phá cung điện Giáo hoàng, và toàn bộ Công đồng có thể đã giải tán vào thời điểm đó nếu không nhờ sự tỉnh táo của Sigismund, người đã cưỡi ngựa đi khắp các đường phố kêu gọi mọi người ở lại và giữ gìn hòa bình.

Tuy nhiên, cảm xúc vẫn còn rất căng thẳng khi Hồng Y Zabarella phát biểu trước phiên họp toàn thể vào ngày 26 tháng 3. Người ta nhất trí rằng sự ra đi của Giáo hoàng Gio-an không làm thay đổi điều gì. Công đồng quyết định tiếp tục họp cho đến khi sự ly giáo được hàn gắn và Giáo hội được cải cách cả về người đứng đầu lẫn các thành viên. Các cha xứ cũng không bị lung lay bởi những thông điệp hòa giải từ Gio-an. Họ tiếp tục tiến hành với tinh thần quyết liệt, và với sự dẫn dắt của Gerson và các tiến sĩ Đại học Paris, đã thông qua một số sắc lệnh sâu rộng, tuyệt đỉnh là sắc lệnh nổi tiếng Sacrosancta ngày 6 tháng 4 năm 1415 – sắc lệnh mang tính cách mạng nhất trong tất cả các sắc lệnh của Công đồng. Công đồng khẳng định quyền tối cao của mình so với Giáo hoàng, tuyên bố rằng công đồng có “quyền lực trực tiếp từ Chúa Kitô và tất cả mọi người, bất kể địa vị hay phẩm giá nào, kể cả Giáo hoàng, đều phải tuân theo công đồng trong các vấn đề liên quan đến đức tin và việc chấm dứt Ly giáo và cuộc cải cách chung của Giáo hội Thiên Chúa, cả người đứng đầu và các thành viên… và bất cứ người nào… kể cả một Giáo hoàng, nếu ngoan cố từ chối tuân theo… các quy định được ban hành… bởi công đồng thánh này, hoặc bởi một công đồng chung khác được triệu tập hợp pháp… sẽ… phải chịu hình phạt thích đáng…” (63)

Quả thật, sự sỉ nhục của ngôi vị giáo hoàng nơi cả ba người là rất lớn. Nhưng đáng thương nhất là Gio-an, người sớm thấy mình bị người bảo hộ bỏ rơi và buộc phải giao nộp ấn tín Giáo hoàng và cầu xin sự khoan hồng của công đồng. Ông bị đưa trở lại Constance, bị công đồng xét xử, bị kết tội nhiều tội danh và bị phế truất. Giáo hoàng tuyến Rô-ma, Grê-go-ri-ô XII, đã chọn một kết cục trang trọng hơn: Ông tự nguyện thoái vị sau khi chính thức triệu tập công đồng để hợp thức hóa tính hợp pháp của nó. Tuy nhiên, thành viên cuối cùng trong bộ ba, Giáo hoàng Avignon, đã chống lại những nỗ lực anh hùng nhất của Sigismund và vẫn kiên quyết từ chối thoái vị. Bị xét xử vắng mặt bởi công đồng và bị phế truất, ông đã ẩn náu trong pháo đài bất khả xâm phạm Peñiscola trên bờ biển Tây Ban Nha, và tại đó tuyến đường của ông đã kết thúc nhiều năm sau đó sau một trò hề nhục nhã, khi vị Hồng Y cuối cùng còn sống sót tự phong mình làm Giáo hoàng.

Giữa tất cả sự náo động về Gio-an, một sự kiện có ý nghĩa to lớn khác đã diễn ra: Gio-an Hus, nhà cải cách người Praha, đã bị thiêu sống trên giàn hỏa vào ngày 6 tháng 7 năm 1415.

Câu hỏi tiếp theo mà công đồng phải đối diện là liệu có nên bầu Giáo hoàng ngay lập tức hay hoãn cuộc bầu cử này cho đến khi nó hoàn thành mục tiêu lớn khác của mình: cải cách Giáo hội. Nhiều người, kể cả Hoàng đế Sigismund, lo sợ rằng cuộc cải cách có thể bị đe dọa nếu một Giáo hoàng được bầu trước, vì ngài có thể ngăn chặn nó. Cuối cùng, một thỏa hiệp đã đạt được: Các giáo sĩ sẽ tiến hành bầu chọn Giáo hoàng trước, nhưng để đảm bảo việc bất cứ Giáo hoàng nào được bầu sẽ thực hiện cuộc cải cách, sắc lệnh Frequens đã được thông qua vào ngày 9 tháng 10 năm 1417, buộc tất cả các Giáo hoàng tương lai phải triệu tập các công đồng thường kỳ theo định kỳ.

Một phương pháp bầu chọn Giáo hoàng mới cũng phản ánh tinh thần cấp tiến của công đồng: Sáu đại biểu của mỗi quốc gia—tổng cộng ba mươi người—cùng với các Hồng Y để chọn Giáo hoàng mới. Vào ngày 11 tháng 11 năm 1417, trong khi một đám rước lớn gồm các giáo sĩ và giáo dân cùng nhau hát thánh ca bên ngoài—một người quan sát cho biết, hát rất ngọt ngào và thành kính đến nỗi khiến nhiều người trong số các cử tri rơi nước mắt—họ đã chọn Oddo Colonna, một vị giám mục được mọi người tôn kính vì lòng mộ đạo, sự ôn hòa và khôn ngoan của ngài. Xung quanh vị Giáo hoàng này, Mar-ti-nô V, thế giới Kitô giáo một lần nữa được hiệp nhất. Cuộc Đại Ly giáo đã kết thúc.

Thành công trong việc đạt được mục tiêu chính đầu tiên trong hai mục tiêu lớn – sự hiệp nhất – nhưng Công đồng đã thất bại thảm hại trong mục tiêu thứ hai – cải cách. Tuy nhiên, mọi người đều nhận thức được tình trạng tồi tệ do Đại Ly giáo gây ra: sự suy thoái của ngôi vị giáo hoàng; những đòi hỏi quá đáng của các viên thu thuế của các giáo hoàng tranh chấp nhau; sự sụp đổ của các tòa án Giáo hội; việc trốn sở của các giám mục; sự ngu dốt và vô đạo đức của giới giáo sĩ, và nạn mua thần bán thánh ở khắp mọi nơi – trắng trợn nhất là ở Giáo triều Rô-ma, nơi những sự miễn giảm và xá tội quá mức đã trở thành nỗi ô nhục của châu Âu.

Nhận ra những lạm dụng này là một chuyện; việc thuyết phục các nhóm lợi ích khác nhau đồng ý xóa bỏ chúng lại là chuyện khác. Thực tế cho thấy, mỗi nhóm lợi ích đều muốn cải cách đối thủ của mình nhưng lại ngần ngại bắt đầu bằng việc tự cải cách chính mình. Hơn nữa, một cách nghịch lý, chính hệ thống tổ chức công đồng theo các quốc gia, vốn cho phép công đồng hàn gắn sự ly giáo, lại là nguyên nhân dẫn đến thất bại trong việc hoàn thành nhiệm vụ khác của nó—cải cách Giáo hội; bởi vì hệ thống này đã đặt các quốc gia đối đầu với nhau, và những lợi ích xung đột đã ngăn cản họ đạt được sự đồng thuận về các biện pháp cải cách cụ thể. Kết quả là, sắc lệnh cải cách cuối cùng được thông qua vào ngày 21 tháng 3 năm 1418, lại rất mơ hồ và chung chung: Nó hạn chế thẩm quyền Giáo hoàng, lên án nạn mua thần bán thánh, và kêu gọi sự điều độ trong hành vi của giáo sĩ. Các cuộc cải cách khác được giao cho Giáo hoàng thực hiện thông qua các hiệp ước với từng quốc gia, Hiệp ước Đức ngày 2 tháng 5 năm 1418 được dùng làm mô hình. Nhưng chiến lược này đã tỏ ra không thỏa đáng một cách thảm hại.

Tuy nhiên, những người theo chủ nghĩa tự do vẫn hy vọng thực hiện một cuộc cải cách triệt để Giáo hội thông qua các công đồng trong tương lai như Frequens đã đề ra. Nhưng để điều này xảy ra, Giáo hoàng và công đồng phải hợp tác hài hòa trong mối quan hệ mới do Constance thiết lập. Nhưng nếu điều này không thành hiện thực thì sao? Nếu như, như một số người bi quan dự đoán, xung đột và cạnh tranh giữa Giáo hoàng và công đồng khiến công cuộc cải cách trở nên bất khả thi thì sao? Như thường lệ, lịch sử đã chứng minh những dự cảm ảm đạm của những người bi quan là đúng.

Vị Giáo hoàng mới đắc cử đã khôn ngoan quyết định trở về Rô-ma, nhưng phải mất hai năm trước khi ngài có thể đặt chân đến thủ đô của thế giới, nơi đã rơi vào tình trạng tồi tệ, hoang tàn – cư dân của nó trở thành con mồi cho những con sói lang thang trên đường phố. Đức Mar-ti-nô đã chứng tỏ mình là một người Rô-ma đích thực bằng nghị lực không nao núng mà ngài thể hiện trong việc khôi phục và sửa chữa những cây cầu, bức tường và nhà thờ đổ nát của thành phố. Và một lần nữa, ngài đã củng cố quyền cai trị của Giáo hoàng đối với các lãnh thổ của Giáo hội bằng hệ thống liên minh gia tộc truyền thống. Nhưng thật không may, sự bận tâm với trò chơi chiến tranh và mưu mô ở Ý đã buộc ngài, cũng như những người kế nhiệm ngài trước cuộc Cải cách, phải đặt lợi ích của Giáo hội hoàn cầu xuống dưới những nhu cầu của chính trị bán đảo.

Vì vậy, mặc dù thành công trên vũ đài chính trị Ý, Đức Mar-ti-nô đã không thể dẫn dắt Giáo hội đến cuộc cải cách hoàn toàn rất cần thiết. Nếu ngài có thể làm được điều đó, cuộc xung đột gay gắt giữa Giáo hoàng và công đồng trong triều đại giáo hoàng tiếp theo có thể đã được ngăn chặn, cũng như hậu quả lâu dài của nó: cuộc Cải cách Thệ phản.

Một số nhà sử học đổ lỗi phần lớn cho Đức Mar-ti-nô, cáo buộc ngài đã phá hoại công đồng Pavia-Siena sau khi triệu tập nó một cách tận tụy vào năm 1423, như Frequens buộc phải làm. Tuy nhiên, cần lưu ý hai điều: Thứ nhất, Đức Mar-ti-nô muốn khôi phục chế độ quân chủ giáo hoàng trong khuôn khổ chủ nghĩa công đồng ôn hòa; thứ hai, sự thiếu nhiệt tình của ngài đối với công đồng có thể được biện minh bởi tinh thần tranh chấp mà nó thể hiện và dường như là sự kế thừa từ những ngày tồi tệ của Constance. Dù sao đi nữa, công đồng đã bị các sứ thần của ngài giải tán vào năm 1424 mà không đạt được thành tựu gì.

Người kế nhiệm ngài, Đức Eu-giê-ni-ô IV, một người Venice cao lớn, trang nghiêm, mộ đạo, khắc khổ và uyên bác—nhưng thiếu tế nhị và dịu dàng—đã phải thực hiện nỗ lực tiếp theo. Có lẽ ngay từ đầu, ngài đã phản đối chủ nghĩa công đồng, điều sẽ biến Giáo hoàng tuyệt đối tối cao thành một chế độ quân chủ hạn chế. Dù sao đi nữa, ngài sớm tìm thấy lý do để không thích công đồng mới ở Basel, mà ngài đã phê chuẩn việc triệu tập và công đồng đã khai mạc vào ngày 23 tháng 7 năm 1431. Chỉ trong vài tháng, ngài và công đồng đã ở trong tình thế sẵn sàng choảng nhau. Ngay sau khi công đồng khai mạc, Đức Eu-giê-ni-ô bắt đầu nhận được những báo cáo mang tính thiên vị về bản chất và hoàn cảnh của nó. Người ta khẳng định rằng có rất ít giám mục tham dự; có sự hỗn loạn ở vùng lân cận Basel; sự ủng hộ phe Hussite đang ngày càng thể hiện rõ. Tình trạng sức khỏe yếu kém của Giáo hoàng và các cuộc chiến đang diễn ra xung quanh Rô-ma đã làm giảm sự quan tâm của ngài đối với những gì đang xảy ra bên ngoài dãy Alps. Hơn nữa, người Hy Lạp đã thể hiện sự quan tâm đến một công đồng hợp nhất, và Đức Eu-giê-ni-ô không muốn có hai công đồng hoạt động cùng một lúc. Vì vậy, ngài quyết định giải tán công đồng ở Basel, và ngài đã ra lệnh về việc đó trong một sắc lệnh gửi cho sứ thần của mình, Cesarini.

Đó là một sai lầm, bởi vì, như Cesarini đã giải thích với ngài trong một bức thư mạnh mẽ, các giám mục ở Basel quyết tâm giải quyết tình hình bi thảm ở Đức, nơi tiêu chuẩn thấp của giới giáo sĩ cần được cải cách ngay lập tức trước khi các dị giáo mới có thể bùng phát. Do đó, các thành viên của công đồng thậm chí sẽ không xem xét ý tưởng giải tán và chắc chắn sẽ bất chấp Giáo hoàng, ngay cả khi điều đó có nghĩa là một cuộc ly giáo. Nhưng Giáo hoàng vẫn kiên quyết và bác bỏ lời thỉnh cầu của Cesarini. Như Cesarini đã dự đoán, công đồng đã từ chối chấp nhận sắc lệnh của Giáo hoàng. Trong khi tiếp tục các cuộc đàm phán khá thành công với những người theo John Hus, công đồng đã từ chỗ chỉ đơn giản là từ chối tuân lệnh Giáo hoàng, họ đã khẳng định mạnh mẽ lập trường theo chủ nghĩa công đồng: Họ tuyên bố mình cao hơn Giáo hoàng và khăng khăng rằng không thể bị hoãn lại hay chuyển đi, ngay cả bởi chính Giáo hoàng. Hai tháng sau, họ thậm chí còn ra lệnh cho Đức Eu-giê-ni-ô phải trình diện trước họ.

Đây là tuyệt đỉnh của cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa tuyệt đối Giáo hoàng bắt đầu từ việc Pisa phế truất hai vị Giáo hoàng đương nhiệm. Nhưng bằng việc tuyên bố thẩm quyền của họ đối với một vị Giáo hoàng hợp pháp và được công nhận rộng rãi, các giám mục ở Basel đã đưa chủ nghĩa công đồng của họ đến mức cách mạng tuyệt đối.

Nhưng liệu họ có thành công? Ban đầu, có vẻ như vậy. Mười lăm trong số hai mươi mốt Hồng Y đứng về phía các giám mục ở Basel. Số lượng giám mục có mặt tiếp tục tăng lên, và phần lớn các nhà lãnh đạo của thế giới Kitô giáo đã tập hợp về phía họ. Bản thân Đức Eu-giê-ni-ô cũng bị kẻ thù ở Ý gây sức ép mạnh; ngài thậm chí còn buộc phải trốn thoát bằng cách cải trang trên một chiếc thuyền xuôi dòng sông Tiber. Với sự căm ghét sâu sắc trong lòng, cuối cùng ngài đã nhượng bộ, và trong sắc lệnh Dudum Sacrum tháng 12 năm 1433, ngài đã rút lại những hành động trước đó chống lại công đồng và công nhận quyền của công đồng mà không có bất cứ sự dè dặt nào.

Sau đó, Basel đảm nhận thách thức lớn lao của việc cải cách Giáo hội. Một lần nữa, như ở Constance, những khó khăn không thể vượt qua bắt đầu xuất hiện. Dường như mỗi nhóm lợi ích đều tự cho mình là chuyên gia về những sai lầm của các nhóm khác — như những cuộc tranh luận bất tận đã chỉ ra — nhưng mỗi nhóm đều không muốn thừa nhận lỗi lầm của chính mình. Tuy nhiên, có một điều mà tất cả đều đồng ý: Giáo hoàng cần phải cải cách. Và công đồng đã bắt tay vào việc mạnh mẽ chống lại những lạm dụng tài chính đang phổ biến trong Giáo triều. Nhưng các giám mục đã đi quá xa khi họ hoàn toàn tước bỏ quyền của Giáo hoàng trong việc đánh thuế giáo sĩ, thu Thuế niên lộc giáo sĩ [annates] và ban hành ân xá. Điều này sẽ biến ngài thành một người đứng đầu bù nhìn không có tiền và khiến ngài và Giáo triều hoàn toàn phụ thuộc về tài chính vào công đồng. Họ khó có thể mong đợi bất cứ Giáo hoàng nào đồng ý với một sự thay đổi triệt để như vậy.

Những biện pháp này đã khiến Giáo hoàng hoàn toàn mất lòng tin, và ngài chỉ chờ đợi cơ hội để giành lại ưu thế. Cơ hội của ngài đến với vấn đề thống nhất với người Hy Lạp. Sau nhiều thế kỷ nỗ lực không thành công, thời điểm dường như đã chín muồi cho sự thống nhất giữa Giáo hội Đông phương và Giáo hội Tây phương. Hoàng đế Đông phương, bị quân Thổ Nhĩ Kỳ bao vây, rất muốn có sự ủng hộ của phương Tây, và ông đã mở các cuộc đàm phán với cả Giáo hoàng lẫn công đồng.

Việc lựa chọn địa điểm gặp gỡ với người Hy Lạp mang ý nghĩa quyết định: Giáo hoàng muốn một địa điểm ở Ý; công đồng muốn một địa điểm không phải ở Ý, để tránh việc chuyển đến Ý bị hiểu là một chiến thắng của Giáo hoàng. Một cuộc thảo luận ba bên sau đó bắt đầu giữa người Hy Lạp, Basel và Giáo hoàng, kéo dài hai năm. Cuối cùng, người Hy Lạp chấp nhận đề nghị của Giáo hoàng và quyết định chọn một thành phố của Ý.

Quyết định này đã tạo ra một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng cho hội đồng ở Basel, nơi xảy ra sự chia rẽ thành các phe phái khi đa số bỏ phiếu chống lại việc chuyển đến Ý, trong khi thiểu số ủng hộ kế hoạch của Giáo hoàng. Cuộc bỏ phiếu về vấn đề này diễn ra tại phiên họp thứ 25, ngày 7 tháng 5 năm 1437, giữa những cảnh hỗn loạn kinh hoàng khi các lãnh đạo của cả hai nhóm ẩu đả giành lấy bục phát biểu, trong khi những người theo họ trong Thánh lễ lại đối đầu nhau như hai đội quân. Để làm cho tình hình thêm rối ren, các sắc lệnh của cả hai nhóm đều được đọc to cùng một lúc. Nhiều người đã khóc khi chứng kiến cảnh hỗn loạn xấu xí đó, và như một người tham gia, Aeneas Sylvius Piccolomini, sau này là Giáo hoàng Pi-ô II, đã nhận xét, người ta sẽ không xứng đáng với danh xưng Kitô hữu nếu không đau buồn trước cảnh tượng như vậy.

Điều đó đánh dấu sự khởi đầu cho sự kết thúc của công đồng Basel. Nhiều giám mục đã rời đi trong sự chán nản và gia nhập cùng Giáo hoàng, người lúc này đang ở vị thế mạnh hơn nhiều nên đã chuyển công đồng đến Ferrara, Ý. Đến năm 1439, chỉ còn lại một nhóm nhỏ vẫn giữ vững lập trường tại Basel; Cesarini đã bỏ rơi công đồng vào ngày 25 tháng 6 năm 1439. Để phản kháng, các giám mục ở Basel đã phế truất Eu-giê-ni-ô, và vào ngày 5 tháng 11 năm 1439, họ đã bầu ra giáo hoàng của riêng mình, Fê-lích V, vị giáo hoàng phản giáo hoàng cuối cùng trong lịch sử.

Nhưng vào thời điểm này, chiến thắng của Đức Eu-giê-ni-ô đã được đảm bảo. Trong khi nhóm người còn lại ở Basel tiếp tục tranh cãi dài dòng, Giáo hoàng ở Florence, được bao quanh bởi đa số các giám mục, đã long trọng kết luận sự tái hợp nhất của Giáo hội Đông phương và Giáo hội Tây phương vào ngày 5 tháng 7 năm 1439, và được người Hy Lạp công nhận là Đại diện đích thực của Chúa Kitô và người đứng đầu Giáo hội hoàn vũ. Điều này được ca ngợi khắp châu Âu như một kỳ tích to lớn (mặc dù nó đã sớm bị vô hiệu hóa bởi sự từ chối phê chuẩn của Giáo hội Đông phương), và nó đã hoàn thành chiến thắng của Giáo hoàng trước những người theo thuyết duy công đồng.

Tuy nhiên, công đồng Basel vẫn ngoan cố kéo dài, mặc dù các cường quốc lớn lần lượt bỏ rơi nó; sau khi thông qua Sắc lệnh Chế tài Thực tế Bourges phò Pháp (1438), Pháp ban đầu tuyên bố trung lập nhưng nhanh chóng tuyên bố ủng hộ Eu-giê-ni-ô; Aragon và Scotland cũng làm tương tự vào năm 1443. Cuối cùng, Hiệp ước Vienna, được ký kết năm 1448 bởi Tòa thánh với Hoàng đế Frederick và các ông hoàng Đức, đã khai tử phiên họp Basel. Các thành viên của nó được Hoàng đế ra lệnh rời khỏi Basel. Đức Fê-lích từ chức năm 1449, và Công đồng giải tán.

Ngôi vị giáo hoàng đã chiến thắng thuyết duy công đồng, nhưng đã thất bại trong việc thiết lập lại vai trò lãnh đạo về mặt đạo đức và tinh thần đối với thế giới Kitô giáo. Trên nhiều phương diện, người chiến thắng thực sự trong cuộc khủng hoảng là nhà nước hiện đại, khi nhà nước lợi dụng cuộc tranh chấp giữa Giáo hoàng và công đồng để mở rộng thẩm quyền của mình đối với Giáo hội. Ít nhất ở Anh, Pháp và Tây Ban Nha, các giáo hội quốc gia đang nhanh chóng trồi lên.